Luận văn Pháp luật về kinh doanh lưu trú du lịch - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHAN NHẬT

PHÁP LUẬT
VỀ KINH DOANH
LƯU TRÚ DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHAN NHẬT VŨ
PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH
LƯU TRÚ DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học:PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận Văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, với
sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Xuân Hải. Các kết quả nghiên cứu nêu
trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các tài liệu và
trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, có nguồn gốc, tin cậy và trung
thực.
TP.Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Phan Nhật Vũ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật dân sự
BVHTTDL: Bộ văn hóa thể thao Du lịch

2.1.1. Điều kiện kinh doanh lưu trú du lịch 35
2.1.2. Các loại cơ sở lưu trú du lịch 42
2.1.3. Xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch 46
2.1.4. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh lưu trú du lịch 50
2.1.5. Xử lý vi phạm pháp luật về kinh doanh lưu trú du lịch 65
2.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch 67
2.2.1. Thị trường cơ sở lưu trú du lịch 67
2.2.2. Thực tiễn kinh doanh lưu trú ở Đà Lạt 70
2.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về kinh doanh lưu trú du lịch.
72
2.3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kinh doanh lưu trú du lịch 72
2.3.2 Các kiến nghị cụ thể 72
KẾT LUẬN 79
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay trên thế giới du lịch đã trở thành hiện tượng kinh tế xã hội phổ
biến, là cầu nối hữu nghị, phương tiện gìn giữ hòa bình và hợp tác giữa các quốc
gia, dân tộc. Không nằm ngoài xu thế đó, Việt Nam với nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, du lịch là cánh cửa mở ra thế giới để chúng ta tìm kiếm sự
giao thoa về kinh tế xã hội. Tầm quan trọng đó đã được Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX xác định: “Phát triển du lịch thật sự trở thành một nghành kinh
tế mũi nhọn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế
về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du
lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du
lịch của khu vực. Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch
trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước.
1
Cụ thể hoá chủ trương này,
văn kiện đại hội Đảng lần thứ X đã ra những quyết sách nhằm khuyến khích đầu tư

luật về kinh doanh du lịch-thực trạng và hướng hoàn thiện’’; Luận văn Thạc sĩ Luật
học của Trần Thị Mai Phước năm 2007: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh
doanh du lịch’’; Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Lâm Trâm Anh (2010) “Xử
lý vi phạm hành chính trong lịch vực du lịch’’; Luận văn cử nhân của Nguyễn Thị
Giáng Sao năm 2011 “ Đánh giá thực trạng trong hoạt động quảng cáo tại khách
sạn Sammy Đà Lạt”; Luận văn cử nhân của Nguyễn Thị Hiền năm 2012 “ Thực
trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách sạn
Vietsovpetro” (2012)…
Các công trình nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào phân tích sự quản lý
nhà nước trong kinh doanh dịch vụ du lịch và pháp luật trong kinh doanh du lịch nói
chung, hoặc so sánh đánh giá sự thay đổi giữa pháp lệnh Du lịch 1999 và LDL
2005, các cam kết khi gia nhập WTO đối với dịch vụ kinh doanh lữ hành. Các công
trình nghiên cứu này chưa đi sâu phân tích pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực kinh
doanh lưu trú du lịch một cách cụ thể. Dù vậy, các nghiên cứu này là những tài liệu
tham khảo quan trọng, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu sâu hơn các quy định của
pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch.
Ngoài ra, qua nghiên cứu các bài viết, tạp chí liên quan tác giả còn tiếp cận
được một số bài báo đăng trên các tạp chí như Hoàng Thị Lan Hương (2010), "Bài
học cho Việt Nam từ kinh nghiệm phát triển bền vững kinh doanh lưu trú du lịch ở
một số nước trên thế giới" đăng trên Tạp chí Kinh tế phát triển số 2; Hải Dương
(2008), "Một số bất cập trong hoạt động kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch", đăng
trên Tạp chí Du lịch Việt Nam số 11; hay một số bài viết trên các tờ báo điện tử,
chẳng hạn như bài viết "Những thuận lợi khó khăn trong kinh doanh lưu trú du lịch
khi luật du lịch thực thi” của tác giả Đỗ Thị Hồng Xoan…Tuy nhiên những bài báo,
kết quả nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc phân tích dưới góc độ quản lý nhà nước
về hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch. Mặc dù vậy, các thông tin từ các bài viết
trên cũng có những giá trị tham khảo nhất định cho việc nghiên cứu chuyên sâu
pháp luật kinh doanh lưu trú du lịch.
3
Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể

vật của chủ nghĩa Mác-Lênin và phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như:
phương pháp khảo sát được sử dụng tại Chương II phần thực trạng kinh doanh lưu
trú: khảo sát các cơ sở kinh doanh lưu trú trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh,
4
thành phố Đà lạt để tìm ra được loại hình kinh doanh lưu trú mới; phương pháp thu
thập số liệu thực tế của các cơ sở kinh doanh lưu trú tại Đà Lạt, phương pháp phân
tích; phương pháp so sánh được áp dụng chủ yếu trong phần 2.1 về thực trạng quy
định pháp luật về kinh doanh lưu trú du lịch như là: so sánh quy định của Luật Du
lịch 2005 với Pháp lệnh du lịch 1999, so sánh các Nghị định hướng dẫn về kinh
doanh du lịch để tìm ra sự chồng chéo và thiếu sót của các văn bản quy phạm pháp
luật về du lịch nói chung và kinh doanh lưu trú du lịch nói riêng; phương pháp tổng
hợp: tổng hợp các nhận định của các chuyên gia, các công trình đã nghiên cứu trước
đó, cũng như tổng hợp các số liệu về kinh doanh lưu trú du lịch. Từ các phương
pháp trên, tác giả có được kết quả để đánh giá và nghiên cứu những nội dung cơ bản
của luận văn.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Kết quả nghiên cứu giúp cho người đọc tiếp cận và đánh giá hoạt động kinh
doanh lưu trú du lịch dưới góc độ pháp luật và thực tiễn. Luận văn này có thể là tài
liệu tham khảo hữu ích cho những người muốn tìm hiểu về pháp luật kinh doanh
lưu trú du lịch và thực tiễn thi hành, như người kinh doanh, sinh viên, và các nhà
nghiên cứu.
Một số kiến nghị cũng có thể được những cơ quan chức năng quan tâm.
6. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kinh doanh lưu trú du lịch.
Chương 2: Thực trạng pháp luật kinh doanh lưu trú du lịch và Định hướng
hoàn thiện.
5
CHƯƠNG 1

người trong một khoảng thời gian không nhằm mục đích kiếm tiền như trong
định nghĩa của Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa Canada: "Du
3
Trần Đức Thanh (1998), Nhập môn khoa học du lịch, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, tr. 5.
4
Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa(2008), Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Đại học kinh tế
quốc dân, Hà Nội, tr 5.
5
Trần Đức Thanh (1998), tldd 3, tr. 12.
6
lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường
xuyên (nơi ở thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian ít hơn
khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của
chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi
vùng tới thăm".
6

Ở góc độ bao quát hơn, Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist
Organization) cho rằng du lịch là bao gồm tất cả mọi hoạt động của những
người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải
nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích
hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không
quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du
hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi
năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
7
Đây là một định
nghĩa tương đối đầy đủ và khái quát về du lịch.
Tóm lại, từ những định nghĩa trên cho thấy, khái niệm du lịch trên thế
giới có một nội hàm khá rộng, dùng để chỉ sự đi lại của con người tới những

Theo điều 10 Pháp lệnh Du lịch năm 1999 thì du lịch là hoạt động của con
người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham
quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Với định
nghĩa này thì du lịch mới dừng lại ở việc chỉ những hoạt động của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình để thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải
trí, nghỉ dưỡng, Khoản 1 Điều 4 Luật Du lịch 2005 đã điều chỉnh khái niệm
về du lịch theo hướng cụ thể hơn, theo đó thì "Du lịch là các hoạt động có liên
quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một
khoảng thời gian nhất định". Như vậy, khái niệm du lịch theo quy định của
Việt Nam có phạm vi khá hẹp, với bốn mục đích chính là tham quan, tìm
hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng.
Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh việc phát triển ngành du lịch thì
cũng kéo theo các loại hình dịch vụ liên quan. Theo định nghĩa của ISO
9001:1991 dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa
người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung
cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
9
Dịch vụ có thể được tiến hành
nhưng không gắn liền với sản phẩm vật chất.
10
Như vậy, có thể hiểu các hoạt động dịch vụ bổ trợ du lịch bao gồm các
hình thức sau:
Thứ nhất, dịch vụ lữ hành,
9
Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa (2008), tldd 4, tr. 94.
10
Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa (2008), tldd 4, tr. 94.
8
Dịch vụ lữ hành gồm các hoạt động chính như: “Làm nhiệm vụ giao

11
Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa (2008), tldd 4, tr. 69.
9
nơi cư trú của họ đến điểm du lịch. Phần lớn trong các trường hợp khách du
lịch sử dụng dịch vụ vận chuyển của các phương tiện giao thông đại chúng
hoặc của các công ty chuyên kinh doanh dịch vụ vận chuyển. Đây cũng là một
loại hình kinh doanh có điều kiện.
12
Thứ tư, dịch vụ phát triển khu du lịch,
Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch bao gồm đầu tư bảo
tồn, nâng cấp tài nguyên du lịch đã có, đưa các tài nguyên du lịch tiềm năng
vào khai thác, phát triển khu du lịch, điểm du lịch mới; kinh doanh kết cấu hạ
tầng du lịch, cơ sở vật chất- kỹ thuật du lịch. Chủ thể kinh doanh phát triển
khu du lịch, điểm du lịch phải xây dựng dự án phù hợp với phát triển du lịch,
trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Thứ năm, dịch vụ du lịch khác.
13

Ngoài các hoạt động kinh doanh như đã nêu ở trên, trong lĩnh vực hoạt
động kinh doanh du lịch còn có một số hoạt động kinh doanh bổ trợ như kinh
doanh các loại hình dịch vụ vui chơi giải trí; tuyên truyền, quảng cáo du lịch;
tư vấn đầu tư du lịch. Cùng với xu hướng phát triển ngày càng đa dạng những
nhu cầu của khách du lịch, sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật và sự gia tăng
mạnh của các doanh nghiệp du lịch dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng tăng trên
thị trường du lịch thì các hoạt động kinh doanh bổ trợ này ngày càng có xu
hướng phát triển mạnh.
Như vậy, từ những phân tích trên có thể khẳng định: Du lịch là một
ngành kinh tế dịch vụ. Sản phẩm của ngành du lịch chủ yếu là dịch vụ không
tồn tại dưới dạng vật thể, không lưu kho lưu bãi, không chuyển quyền sở hữu
khi sử dụng. Dịch vụ du lịch là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác

vụ và hàng hóa. Đối với hàng hóa (vật chất) quá trình sản xuất và tiêu dùng
tách rời nhau. Người ta có thể sản xuất hàng hóa ở một nơi khác và ở một thời
gian khác với nơi bán và tiêu dùng, còn đối với dịch vụ không thể như vậy.
Do tính đồng thời như trên nên sản phẩm dịch vụ du lịch không thể lưu kho
được. Chẳng hạn thời gian nhàn rỗi của nhân viên du lịch vào lúc không có
khách không thể để dành cho lúc cao điểm, một phòng khách sạn không cho
thuê được trong ngày thì đã coi như mất dịch vụ, do đó mất một nguồn thu…
Dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời nên cung và cầu cũng không
thể tách rời nhau. Cho nên việc tạo ra sự ăn khớp giữa cung và cầu trong dịch
vụ là hết sức quan trọng
16
.
(iii) Sự tham gia của khách du lịch trong quá trình tạo ra dịch vụ.
Đặc điểm này nói lên rằng khách du lịch ở một chừng mực nào đó đã
trở thành nội dung của quá trình sản xuất.
Sự gặp gỡ giữa khách hàng và người sản xuất như một sự gắn bó qua
lại giữa các chủ thể với nhau. Sự gắn liền họ trong sự tác động qua lại này
15
Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa (2008), tldd 4, tr195.
16
Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa (2008), tldd 4, tr195.
11
trong dịch vụ được khẳng định phụ thuộc vào mức độ lành nghề, khả năng
cũng như ý nguyện của người tiêu dùng và người cung cấp dịch vụ. Ngoài
những nội dung kinh tế, những tính cách của con người trong sự tương tác
đóng vai trò quan trọng như cảm giác, sự tin tưởng, tính thân thiện về cá
nhân, mối liên kết và những mối quan hệ trong dịch vụ được coi trọng hơn
như khi mua những hàng hóa tiêu dùng khác. Dịch vụ gắn liền với những kinh
nghiệm chủ quan, đối với mỗi người là duy nhất đó cũng là một quá trình xã
hội, và tất nhiên có nhiều nhân tố khác nhau tác động lên quá trình này người

Vì các cơ sở du lịch vừa là nơi sản xuất, vừa là nơi cung ứng dịch vụ
nên dịch vụ du lịch thuộc loại không di chuyển được. Khách hàng muốn tiêu
dùng dịch vụ thì phải đến cơ sở du lịch. Do đó để nâng cao chất lượng dịch vụ
và đem lại hiệu quả kinh doanh, khi xây dựng các điểm du lịch cần lựa chọn
địa điểm thỏa mãn các điều kiện tự nhiên: địa hình, khí hậu, thủy văn, tài
nguyên… Và điều kiện xã hội (dân số, phong tục tập quán, chính sách dân số,
cơ sở hạ tầng…). Đặc điểm này của dịch vụ du lịch đòi hỏi các cơ sở kinh
doanh du lịch tiến hành các dịch vụ du lịch xúc tiến mạnh mẽ để kéo được du
khách đến với điểm du lịch.
19
(vi) Tính thời vụ của dịch vụ du lịch.
Dịch vụ có đặc trưng rất rõ nét ở tính thời vụ. Ví dụ các khách sạn ở
các khu nghỉ mát thường vắng khách vào mùa đông nhưng lại đông nhất vào
mùa hè. Các nhà hàng trong khách sạn thường đông khách vào buổi trưa hoặc
chiều tối, hoặc các khách sạn gần trung tâm thành phố thường đông khách vào
ngày nghỉ cuối tuần… dẫn đến cung cầu dịch vụ mất cân đối, vừa gây lãng
phí cơ sở vật chất lúc trái vụ và chất lượng dịch vụ có nguy cơ giảm sút. Vì
vậy các doanh nghiệp thường đưa ra các chương trình khuyến mãi cho khách
du lịch khi cầu giảm hoặc tổ chức quản lí tốt chất lượng dịch vụ khi cầu cao
điểm.
20
(vii) Tính trọn gói của dịch vụ du lịch.
Bao gồm các dịch vụ cơ bản và các dịch vụ bổ sung. Dịch vụ cơ bản là
những dịch vụ mà nhà cung ứng cung cấp cho khách hàng nhằm thỏa mãn
nhu cầu cơ bản, không thể thiếu được với khách hàng như dịch vụ vận
chuyển, dịch vụ phòng, dịch vụ nhà hàng, bar… dịch vụ bổ sung là những
dịch vụ phụ cung cấp cho khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu đặc trưng và
nhu cầu bổ sung của khách.
Tuy chúng không có tính bắt buộc như dịch vụ cơ bản nhưng phải có
trong chuyến hành trình của du khách. Nhiều khi dịch vụ bổ sung lại có tính

So với Pháp lệnh Du lịch năm 1999 thì cơ sở lưu trú du lịch đã được đề
cập đến, nhưng cơ sở lưu trú du lịch chỉ là kinh doanh về buồng giường và
cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch
22.
Trong Luật Du lịch năm
2005 thể hiện rõ nghĩa cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường
và cung cấp dịch vụ khác phục vụ khách du lịch và cũng nêu rõ về hai loại
hình mới của cơ sở lưu trú du lịch là nhà nghỉ du lịch và nhà ở có phòng cho
khách du lịch thuê nhưng vẫn khằng định khách sạn vẫn là cơ sở lưu trú du
lịch chủ yếu.
21
Điều 12 Luật Du lịch 2005.
22
Điều 9 Pháp lệnh Du lịch 1999.
14
Như vậy lưu trú du lịch là việc khách du lịch ở lại một thời gian nhất
định tại các cơ sở lưu trú du lịch nhằm mục đích tham quan tìm hiểu giá trị
nghỉ dưỡng.
Lưu trú là một trong những nhu cầu chính của du lịch trong chuyến đi
du lịch. Dưới góc độ kinh doanh du lịch hiện nay, lưu trú, vận chuyển và ăn
uống vẫn còn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tỷ trọng du lịch Việt Nam. Mặt
khác, tùy theo khả năng chi trả của du khách, hiện trạng và khả năng cung
ứng của đối tác mà trong từng chuyến đi du lịch cụ thể du khách có thể được
hỗ trợ nghỉ lại tại các cơ sở lưu trú phù hợp.
Theo khoản 1, mục II Thông tư số 88/2008/TT-BVHTTDL ngày
30/12/2008 của Bộ Văn hóa Thông tin và Du lịch hướng dẫn thực hiện Nghị
định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/06/2007 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật du lịch về lưu trú du lịch, thì các loại hình lưu trú du lịch
bao gồm:
- Khách sạn (Hotel), là cơ sở lưu trú du lịch, có quy mô từ 10 buồng

dựng gần đường giao thông, có kiến trúc thấp tầng (thường chỉ có một tầng)
phục vụ khách đi bằng phương tiện riêng (xe con, xe máy ) tại cơ sở lưu trú
này có bộ phận bảo dưỡng, kiểm tra sửa chữa xe cho khách. Đối tượng phục
vụ của loại hình này thường là khách có thu nhập trung bình. Ở nước ta loại
hình này còn chưa phát triển.
- Làng du lịch (Tourist village), là một quần thể các biệt thự hoặc
bungalow được bố trí để tạo ra một không gian du lịch cho phép khách vừa có
điều kiện nghỉ ngơi vừa có không gian biệt lập khi họ muốn. Được xây dựng
ở nơi có tài nguyên du lịch, cảnh quan thiên nhiên đẹp, có hệ thống dịch vụ
gần các nhà hàng, quầy bar, cửa hàng mua sắm, khu vui chơi giải trí, thể thao
và các phương tiện khác phục vụ du khách, loại hình này khá phát triển ở
Pháp, Tây Ban Nha
- Biệt thự du lịch (Tourist Villa): là biệt thự có trang thiết bị tiện nghi
cho khách du lịch thuê, cần tự phục vụ trong thời gian lưu trú. Có từ 3 biệt thự
du lịch trở lên đây là cụm biệt thự du lịch.
Ví dụ: Biệt thự Đà Lạt Edensee vip, Biệt thự Đà Lạt Edensee Mimoda
Supperior, Biệt thự Vũng Tàu-196A
16
- Căn hộ du lịch (Tourist apartment) là căn hộ có trang thiết bị tiện nghi
cho khách du lịch thuê, tự phục vụ trong thời gian lưu trú. Có từ mười căn hộ
trở lên.
Ví dụ: căn hộ du lịch Côn Đảo, du lịch căn hộ gia đình Thụy Sĩ-Pari,
căn hộ Mỹ Đức (Chung cư Mỹ Đức Bình Thạnh).
- Bãi cắm trại du lịch (Tourist Camping), là khu vực đất được quy
hoạch ở nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất
kỹ thuật du lịch và dịch vụ cần thiết khác cho cắm trại. Camping là một khu
vực mà ở đó người ta phân lô theo một quy hoạch nhất định. Tại các lô này
bằng các vật liệu khác nhau người ta tạo nên các nền (ximăng, chất dẻo, gỗ,
tre ) đoàn du khách cần chọn một địa điểm để dựng lều trại. Đại đa số các
loại cơ sở lưu trú này đều có kho cho thuê các trang thiết bị cần thiết để qua

dịch vụ du lịch, tiến hành các hoạt động kinh doanh liên quan đến tổ chức
dịch vụ cung cấp tiện nghi cho việc đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan và
hướng dẫn cho khách du lịch nhằm mục đích sinh lợi. Kinh doanh lưu trú du
lịch là hoạt động kinh doanh cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ
du lịch khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú chủ
yếu.
Trước đây kinh doanh lưu trú chỉ là hoạt động kinh doanh dịch vụ
nhằm bảo đảm chỗ ngủ qua đêm cho khách có trả tiền, nhưng với những đòi
hỏi thỏa mãn nhiều nhu cầu ở mức cao hơn của khách du lịch, các cơ sở kinh
doanh lưu trú du lịch dần tổ chức kinh doanh thêm những dịch vụ ăn uống
nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu của khách. Hoạt động kinh doanh lưu trú du
lịch cũng phát triển mạnh mẽ dẫn đến việc cạnh tranh giữa các cơ sở kinh
doanh lưu trú du lịch nhằm thu hút ngày càng nhiều khách và nhất là những
khách có khả năng chi trả cao đã làm tăng tính đa dạng trong hoạt động của
ngành. Ngoài hai dịch vụ lưu trú và ăn uống là những nhu cầu thiết yếu, kinh
doanh lưu trú du lịch còn bổ sung thêm dịch vụ như giải trí, thể thao, y tế,
dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, giặt ủi, tổ chức tiệc, cho thuê phương tiện…
Hiện nay có thể nói, kinh doanh lưu trú du lịch là tổng hợp của kinh
doanh các cơ sở lưu trú và các dịch vụ kèm theo. Trong đó các dịch vụ được
thực hiện tại các cơ sở lưu trú du lịch bao gồm: Khách sạn, Làng du lịch, Biệt
thự du lịch, Căn hộ du lịch, Bãi cắm trại du lịch, Nhà nghỉ du lịch, Nhà ở có
phòng cho khách du lịch thuê và các cơ sở lưu trú du lịch khác nhằm phục vụ
23
Điều 38 Luật Du lịch 2005.
18
cho khách du lịch. Kinh doanh lưu trú du lịch là một hoạt động kinh doanh
trong kinh doanh du lịch và kinh doanh lưu trú du lịch chỉ tập trung kinh
doanh các cơ sở lưu trú du lịch là khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn
hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách
du lịch thuê và các dịch vụ khác cho khách lưu trú.

du lịch.
Khái niệm về dịch vụ có rất nhiều quan điểm khác nhau. Một khái niệm
dịch vụ khái quát được sử dụng rộng rãi đó là khái niệm theo tiêu chuẩn Việt
Nam ISO 9000:2000 “Dịch vụ là kết quả của ít nhất một hoạt đồng cần được
tiến hành tại nơi tương giao giữa người cung cấp và khách hàng và thường
không hữu hình”.
24
Một khái niệm khác của lý luận Marketing thì dịch vụ
được coi là một hoạt động của chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, chúng có
tính vô hình và không làm thay đổi quyền sở hữu.
25
Như vậy, dịch vụ là kết
quả của hoạt động tương tác giữa nhà cung cấp và khách hàng không thể hiện
bằng sản phẩm vật chất, không làm thay đổi quyền sở hữu và không thể lưu
kho bãi. Dịch vụ thể hiện bằng tính hữu ích của chúng và có giá trị kinh tế.
Kinh doanh lưu trú du lịch được xem là một hình thức kinh doanh dịch
vụ du lịch bởi lẽ hoạt động này ngoài việc cung cấp nơi lưu trú cho khách du
lịch còn cung cấp cho khách du lịch các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch
vụ bổ sung khác. Hoạt động này luôn gắn liền với các dịch vụ du lịch khác,
xét cho cùng đây là một hoạt động kinh doanh dịch vụ, người kinh doanh
nhắm đến lợi nhuận trong khi khách du lịch thì hướng đến thỏa mãn nhu cầu.
Hai là: Để thực hiện được hoạt động kinh doanh này đòi hỏi chủ thể
kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh du lịch theo quy định của
pháp luật du lịch. Kinh doanh lưu trú du lịch là một ngành nghề đặc thù, tác
động đến nhiều lợi ích chung của cộng đồng cũng như tác động đến nhiều
doanh nghiệp kinh doanh du lịch khác. Để đảm bảo quyền tự do kinh doanh
cũng như hài hòa các quyền lợi khác như kinh tế, an ninh, trật tự xã hội, môi
trường, danh lam thắng cảnh , việc đăng ký kinh doanh lưu trú du lịch cần
phải đảm bảo điều kiện cần thiết do pháp luật quy định. chính vì thế mà tại
khoản 1 Điều 64 Luật Du lịch đã quy định các điều kiện chung về kinh doanh

du lịch. Mặt khác, các nhà kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch muốn tồn tại được
phải bằng mọi cách thu hút khách du lịch đến với cơ sở kinh doanh lưu trú
của mình.
Như vậy, tài nguyên du lịch sẽ thu hút khách du lịch tới và kinh doanh
lưu trú du lịch ở đó mới thành công. Giá trị và sức hấp dẫn của tài nguyên du
lịch sẽ quyết định hiệu quả của kinh doanh lưu trú du lịch. Chính vì vậy, khi
đầu tư vào kinh doanh khách sạn, đòi hỏi chủ thể kinh doanh phải nghiên cứu
kỹ các thông số của tài nguyên du lịch cũng như nhóm khách hàng mục tiêu
26
Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa (2008), tldd 4, tr. 220.

Trích đoạn Xử lý vi phạm pháp luật về kinh doanh lưu trú du lịch Thị trường cơ sở lưu trú du lịch Thực tiễn kinh doanh lưu trú ở Đà Lạt Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kinh doanh lưu trú du lịch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status