MỤC LỤC
1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp trong cả nước có xu hướng gia tăng, trong đó có nhiều vụ tai nạn
lao động nghiêm trọng làm chết, bị thương nhiều người và thiệt hại nhiều
về tài sản. Các quy định của pháp luật về huấn luyện an toàn vệ sinh lao
động ngày càng được hoàn thiện và cụ thể hơn. Các cấp, các ngành và các
doanh nghiệp đã quan tâm, chú trọng việc huấn luyện về an toàn vệ sinh
lao động. Tuy nhiên, qua điều tra về nhu cầu huấn luyện an toàn vệ sinh
lao động trong những năm qua cho thấy công tác huấn luyện về an toàn vệ sinh
lao động cũng còn nhiều hạn chế, bất cập như: Tỷ lệ huấn luyện còn thấp và
mang tính hình thức, số lượng giảng viên cũng thiếu và chưa được đào tạo
bài bản, phương pháp huấn luyện chưa phù hợp, chưa có những bộ giáo
trình chuẩn về các nội dung huấn luyện để phục vụ cho từng đối tượng
huấn luyện
Giáo trình môn học An toàn lao động trong sản xuất cơ khí được biên
soạn theo đề cương môn học của Bộ môn Chế tạo Máy - Khoa Cơ Khí - Học viện
Kỹ thuật Quân sự. Nội dung biên soạn được xây dựng trên cơ sở các giáo trình
đã được giảng dạy tại các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên
nghiệp. Một số nội dung mới được cập nhật và thay đổi nhằm đáp ứng được yêu
cầu nâng cao chất lượng học tập của sinh viên trong sự nghiệp công nghiệp hóa
và hiện đại hóa đất nước.
Với những tiêu chí nêu trên các tác giả đã đưa vào Giáo trình các nội
dung nhằm cung cấp cho sinh viên, học viên trong nhà trường, cũng như những
người đang làm việc trong nhà máy, xí nghiệp những kiến thức cơ bản về khoa
học bảo hộ lao động, luật pháp, chế độ chính sách bảo hộ lao động, vệ sinh lao
động, kỹ thuật an toàn trong lao động và sản xuất, phòng chống cháy nổ và công
tác bảo hộ lao động trong doanh nghiệp. Nọi dung giáo trình gồm:
Chương 1: Những vấn đề chung và luật pháp bảo hộ lao động
Chương 2: Kỹ thuật vệ sinh lao động
- Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ
có hại, bụi…
- Các yếu tố hoá học như hoá chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các
chất phóng xạ…
- Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký
sinh trùng, côn trùng, rắn…
- Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian
chổ làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh…
- Các yếu tố tâm lý không thuận lợi
1.1.3. Tai nạn lao động
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức
năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao
5
động, gắn liền với việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động. Nhiễm độc
đột ngột cũng là tai nạn lao động.
Tai nạn lao động được phân ra: Chấn thương, nhiễm độc nghề nghiệp và
bệnh nghề nghiệp
- Chấn thương: Là tai nạn mà kết quả gây nên những vết thương hay huỷ
hoại một phần cơ thể người lao động, làm tổn thương tạm thời hay mất khả năng
lao động vĩnh viễn hay thậm chí gây tử vong. Chấn thương có tác dụng đột ngột.
- Nhiễm độc nghề nghiệp: là sự huỷ hoại sức khoẻ do tác dụng của các
chất độc xâm nhập vào cơ thể người lao động trong điều kiện sản xuất
- Bệnh nghề nghiệp: Là bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao
động có hại, bất lợi (tiếng ồn, rung ) đối với người lao động. Bệnh nghề nghiệp
làm suy yếu dần dần sức khoẻ hay làm ảnh hưởng đến khả năng làm việc và sinh
hoạt của người lao động. T
uy nhiên, các bệnh này thường
xảy ra từ từ và mãn
tính. Bệnh nghề nghiệp có thể phòng tránh được mặc dù có một số bệnh khó cứu
chữa và để lại di chứng. Các nhà khoa học đều cho rằng người lao động bị bệnh
5. Bệnh nhiễm độc trinitrotoluen (TNT)
6. Bệnh nhiễm độc asen và hợp chất asen
7. Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp
8. Bệnh nhiễm độc hoá chất, thuốc trừ sâu nghề nghiệp
9. Bệnh nhiễm độc cacbon monoxit nghề nghiệp
10. Bệnh nhiễm độc cadimi nghề nghiệp
11. Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân.
Nhóm IV: Các bệnh về da nghề nghiệp
1. Bệnh sạm da nghề nghiệp
2. Bệnh loét dạ dày, loét vách ngăn mũi, viêm da, chàm tiếp xúc
3. Bệnh viêm loét da, viêm móng và xung quanh móng nghề nghiệp
4. Bệnh nốt dầu nghề nghiệp.
Nhóm V: Các bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp
1. Bệnh lao nghề nghiệp
2. Bệnh viên gan do virus nghề nghiệp
3. Bệnh do xoắn khuẩn Leptospira nghề nghiệp.
4. Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.
1.2. Mục đích, ý nghĩa, tính chất của công tác BHLĐ
1.2.1. Mục đích của công tác BHLĐ
Mục tiêu của công tác BHLĐ là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ
thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại được
phát sinh trong quá trình sản xuất, tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi,
ngày càng được cải thiện tốt hơn để ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề
7
nghiệp, hạn chế ốm đau làm giảm sút sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác
đối với người lao động, nhằm bảo vệ sức khoẻ, đảm bảo an toàn về tính mạng
người lao động và cơ sở vật chất, trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực
lượng sản xuất, tăng năng suất lao động.
1.2.2. Ý nghĩa của công tác BHLĐ
Bảo hộ lao động trước hết là phạm trù của lao động sản xuất, do yêu cầu
ô nhiễm, giải pháp đảm bảo an toàn đều là những hoạt động khoa học kỹ thuật.
Hiện nay, việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào công
tác bảo hộ lao động ngày càng phổ biến. Trong quá trình kiểm tra mối hàn bằng
tia gamma (γ), nếu không hiểu biết về tính chất và tác dụng của các tia phóng xạ
thì không thể có biện pháp phòng tránh có hiệu quả. Nghiên cứu các biện pháp an
toàn khi sử dụng cần trục, không thể chỉ có hiểu biết về cơ học, sức bền vật liệu
mà còn nhiều vấn đề khác như sự cân bằng của cần cẩu, tầm với, điều khiển điện,
tốc độ nâng chuyển
Muốn biến điều kiện lao động cực nhọc thành điều kiện làm việc thoải
mái, muốn loại trừ vĩnh viễn tai nạn lao động trong sản xuất, phải giải quyết
nhiều vấn đề tổng hợp phức tạp không những phải hiểu biết về kỹ thuật chiếu
sáng, kỹ thuật thông gió, cơ khí hoá, tự động hoá mà còn cần phải có các kiến
thức về tâm lý lao động, thẩm mỹ công nghiệp, xã hội học lao động Vì vậy công
tác bảo hộ lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật tổng hợp.
c, BHLĐ mang tính quần chúng
Tất cả mọi người từ người sử dụng lao động đến người lao động đều là
đối tượng cần được bảo vệ. Đồng thời họ cũng là chủ thể phải tham gia vào công
tác BHLĐ để bảo vệ mình và bảo vệ người khác.
BHLĐ có liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất. Công nhân
là những người thường xuyên tiếp xúc với máy móc, trực tiếp thực hiện các qui
trình công nghệ do đó họ có nhiều khả năng phát hiện những sơ hở trong công
tác bảo hộ lao động, đóng góp xây dựng các biện pháp về kỹ thuật an toàn, tham
gia góp ý kiến về mẫu mã, quy cách dụng cụ phòng hộ, quần áo làm việc…
9
Mặt khác dù các qui trình, quy phạm an toàn được đề ra tỉ mỉ đến đâu,
nhưng công nhân chưa được học tập, chưa được thấm nhuần, chưa thấy rõ ý
nghĩa và tầm quan trọng của nó thì rất dễ vi phạm.
Muốn làm tốt công tác bảo hộ lao động, phải vận động được đông đảo
mọi người tham gia. Cho nên BHLĐ chỉ có kết quả khi được mọi cấp, mọi ngành
quan tâm, được mọi người lao động tích cực tham gia và tự giác thực hiện các
1
Không huấn luyện về an toàn lao động cho
người lao động
270 5,26%
2 Thiết bị không đảm bảo an toàn 349 6,8%
3 Không có thiết bị an toàn 145 2,83%
4
Không có quy trình, biện pháp an toàn lao
động
225 4,39%
5 Do tổ chức lao động 114 2,22%
6
Không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân
cho người lao động
111 2,16%
b,Về phía người lao động
Bảng 1-2
TT Nguyên nhân Số vụ Tỷ lệ/ Tổng số vụ
báo cáo
1
Vi phạm các quy trình, biện pháp làm việc
an toàn về an toàn lao động
1514 29,54%
2
Không sử dụng các trang bị, phương tiện
bảo vệ cá nhân
258 5,03%
3
Do người khác vi phạm quy định về an
toàn lao động
không thể thiếu được trong việc tạo nên sản phẩm. Điều đó không những đúng
với môi trường ở nội dung là nơi khai thác nguyên liệu và năng lượng ở các dạng
rắn, lỏng, khí thậm chí cả phóng xạ cũng như tiếng ồn. Nguyên nhân của sự
không lưu ý đến môi trường là một yếu tố sản xuất chủ yếu là ở chỗ người ta đã
12
coi môi trường thiên nhiên là một sản phẩm tự do. Với quan điểm đó là tự do nên
không tính đến như một yếu tố sản xuất, nếu như nó không phải là khan hiếm –
có nghĩa là nó không có giá trị kinh tế, việc khai thác và sử dụng nó sẽ gây nên
chi phí cho kinh tế doanh nghiệp. Vì lẽ đó môi trường đã không được đưa vào lý
thuyết sản xuất và lý thuyết chi phí.
Hiện nay nhu cầu về môi trường ngày càng tăng và môi trường đã trở
thành một ngành kinh tế với chi phí đáng kể thì sự khiếm khuyết trong lý thuyết
kinh điển ngày càng bộc lộ rõ nét. Tuy vậy, vấn đề này có thể xử lý từng phần
mà không cần đến sự thay đổi về lý thuyết, bởi vì nhu cầu về môi trường được
thể hiện bằng việc gia tăng giá cả các yếu tố sản xuất là “phương tiện sản xuất”và
là “nguyên nhiên vật liệu”. Ngay trong bản thân giá cả của một yếu tố sản xuất
như yếu tố lao động cũng có thể chứng minh một cách gián tiếp là hiệu ứng “môi
trường”. Ví dụ : vì lý do ô nhiễm không khí trong nơi sản xuất cho nên số người
ốm đau tăng được thể hiện bằng việc tăng chi phí trong quĩ lương và do đó giá
thành sản phẩm tăng. Như vậy, hiệu ứng ngoại vi ở đâu ra phát sinh? Đó là việc
người không gây ô nhiễm không khí cũng phải gánh chịu sự tăng giá thành của
sản phẩm.
Hiệu ứng này cũng có giá trị đối với yếu tố sản xuất khác, bởi lẽ đó cũng
có hiệu ứng ngoại vi tác động đến. Giá cả tăng là do các điều kiện môi trường đã
đụng chạm đến tất cả những người có nhu cầu về “đầu vào”và nó không phụ
thuộc vào mức độ và thể thức của nhu cầu về môi trường trong sản xuất mà do
các yếu tố đầu vào mang lại. Hiệu ứng ngoại vi càng lớn thì yêu cầu về môi
trường trong sản xuất sẽ là một yếu tố có trong xây dựng giá thành sản phẩm
càng tăng.
Hoặc càng làm giảm hiệu lực của ý nghĩa cải tiến sản xuất để giảm giá
là phải sử dụng tất cả các phương tiện kinh tế sao cho thiên nhiên sẵn sàng sản
sinh và cung ứng sản phẩm. Kinh tế hoá thiên nhiên sẽ trở thành một quá trình tổ
chức của sản phẩm.
1.4.2. Môi trường là yếu tố đầu vào
Việc sử dụng sản phẩm hoá thạch và sản phẩm của môi trường thiên
nhiên trong quá trình kinh tế được giới thiệu trong hệ thống đầu vào kinh điển
như là nguyên liệu và phương tiện sản xuất.
14
Thế nhưng, nhu cầu về môi trường được tính đến trong giá thành sản
phẩm được lưu ý đến mức độ nào thì vẫn chưa có lời giải thoả đáng. Song có thể
mạn phép cho rằng xu hướng là tuỳ thuộc vào chi phí trong khai thác và nó được
coi như thang để tính giá thành chứ không phải là dự toán về sự khan hiếm hay
thực chất nó là nhu cầu của môi trường.
Việc sử dụng môi trường cho đến nay chủ yếu vẫn là không mất tiền
(không chi phí). Chỉ có điều là chi phí cho việc khai thác ngày càng tăng do đã
mất sự dồi dào về nguồn dự trữ, chi phí cao lên do sự điều chỉnh đền bù và phần
nhiều do các yêu cầu trách nhiệm của các biện pháp phòng ngừa nhằm ngăn chặn
hay giảm thiệt hại. Ngoài ra, còn có chi phí cho nhu cầu môi trường là đất, là
cảnh quan, là không khí, là nước , v.v để tiếp nhận chất thải của sản xuất và tiêu
dùng. Tất cả các cái đó đã làm tăng các yêu cầu lên và với nó là chi phí. Ví dụ:
- Tăng yêu cầu về xử lý chất thải rắn trong đó có chất thải đặc biệt hoặc
nguy hại, kỹ thuật xử lý.
- Tăng yêu cầu về xử lý nước thải (hệ thống kỹ thuật để xử lý, lệ phí xử
lý).
- Tăng yêu cầu trong việc xử lý khí thải và tiếng ồn.
Tuy nhiên, trong khai thác yếu tố đầu vào và trong việc tận dụng môi
trường là nơi tiếp nhận các loại chất thải vẫn chưa được đưa vào sổ sách kế toán
bởi vì còn sự chênh lệch giữa từng vùng lãnh thổ giữa các quốc gia.
1.4.3. Môi trường là nơi tiếp nhận đầu ra
Trong phần trước đã nêu lên chức năng của môi trường là “Nguồn cung
Tất cả các vật dụng đều thải ra từ lĩnh vực tiêu dùng dân dụng (từ tủ lạnh
đến ô tô).
Yêu cầu của môi trường bao gồm các lĩnh vực cảnh quan, không khí, đất,
sinh vật (trực tiếp và gián tiếp). Ở đây có chiều hướng là có sự thay đổi về điều
kiện bảo hiểm trên cơ sở luật pháp và sự chịu trách nhiệm.
1.4.4. Đặc điểm môi trường của yếu tố sản xuất
a, Môi trường là sản phẩm tự do
16
Ở góc độ kinh tế doanh nghiệp thì môi trường được coi là một sản phẩm
tự do, nếu như việc sử dụng nó không phải chi phí. Điều đó cũng có giá trị, nếu
như nó gây nên chi phí chung cho nền kinh tế và để điều chỉnh thiệt hại đó, nó
được điều tiết qua thuế và các loại lệ phí và như vậy, chi phí được phân bổ lại
cho các đối tượng chịu thuế và chi phí. Thế nhưng, như trong mục 1.4.2 để giải
trình giá thành của các yếu tố kinh điển cơ bản tăng lên với sự khan hiếm của yếu
tố môi trường, thì đó là kết quả của quá trình phân bổ chi phí. Nguyên nhân của
nó là chi phí cần thiết để bảo vệ môi trường, như lệ phí, chi phí theo yêu cầu cụ
thể và chi phí cho rủi ro ngày càng tăng.
b, Môi trường là sản phẩm của cộng đồng
Một thực tế là đại bộ phận sản phẩm của môi trường là sản phẩm của
cộng đồng. Điều đó dẫn đến việc sản phẩm đó không chia được và cũng không
bán được. Người ta có thể tự nguyện tham gia để tạo ra nó. Bởi lẽ, người nào
cũng có thể sử dụng sản phẩm cộng đồng đó, về nguyên tắc là không cấm đoán,
do đó người ta đã sử dụng tuỳ ý mà không cần phải đóng góp chi phí. Chính vì
thế môi trường không có nhu cầu và vì vậy nó cũng không có thị trường.
Đặc tính đầu vào của môi trường là nơi tiếp nhận đầu ra không mong
muốn, là sử dụng môi trường để tiếp nhận đầu ra không mong muốn cũng giống
như việc sử dụng môi trường làm đầu vào, bao gồm các chất hữu cơ và vô cơ và
các yêu cầu về đất, nước, không khí và cảnh quan cho sản xuất. Song cái đó là
một tiềm năng có hạn và như vậy, nếu xem nó là một sản phẩm thì đó cũng là
một sản phâm khan hiếm, điều mà cho đến nay người ta vẫn thường bỏ qua. Bên
năng tái tạo hô hấp của môi trường thiên nhiên, thì nó mới gây nên chi phí về sự
khan hiếm. Ví dụ: khai thác gỗ trong rừng, chất thải hữu cơ trong nước và đất,
đánh bắt cá, săn bắn
Khác với sự khan hiếm định suất là nhu cầu về môi trường mà trong đó,
sự tái tạo thiên nhiên chỉ có thể thực hiện được trong một khoảng thời gian rất
dài và cũng có khi là không thực hiện đuợc, trong khan hiếm tích tụ thì yêu cầu
của môi trường có khác và về bản chất, nó là một quá trình không tái tạo lại
được. Ví dụ : ở đây là việc khai thác nguyên liệu khoáng sản và nguyên liệu hoá
thạch (kim loại, dầu mỏ, than) và trả lại thiên nhiên những chất thải trong đó có
chất độc hại như: kim loại nặng, tia xạ, …
1.4.5. Bảo vệ môi trường là tiêu chí của mục tiêu lợi nhuận
18
Các biện pháp nhằm tránh được ô nhiễm môi trường đối với các đơn vị
kinh tế được thể hiện là chi phí tăng lên về lâu dài là việc giảm doanh thu thì việc
thực hiện nó chỉ còn trông chờ vào việc lãnh đạo doanh nghiệp có mục tiêu kinh
tế là “Giữ gìn môi trường”, hay thông qua chính sách về trách nhiệm của nhà
nước để hình thành các mục tiêu lợi nhuận khác.
Không kể trường hợp vi phạm luật pháp thì mục tiêu có thể được diễn
đạt là “Sự trì hoãn các biện pháp bảo vệ môi trường”. Một giải pháp thay thế có
thể tránh né được nhưng không nhất thiết phải phù hợp hơn với môi trường. Như
vậy có thể áp dụng các biện pháp, ít có trong lĩnh vực qui phạm hay có thể tận
dụng được kẽ hở của luật pháp. Cụ thể thường là hình thức tránh né nấp dưới
dạng chuyển địa điểm, thay thế nguyên liệu- năng lượng và công nghệ, cũng như
qua quá trình chuyển hoá. Bên cạnh đó còn có sự lẫn tránh bằng cách chuyển
giao hình thức mục tiêu vật chất mang đặc tính sinh thái sang người thứ ba.
“Điều đó nói lên là các biện pháp kinh tế chất thải không được làm cho
môi trường về tổng thể của nó bị ô nhiễm nặng nề hơn so với sự ô nhiễm mà phế
liệu đó có thể gây nên”. Những ví dụ về hình thức tránh né như sau:
- Chuyển đổi địa điểm:
+ Trong phạm vi quốc gia: tận dụng các qui định pháp lý khác nhau của
+ Tiết kiệm phụ liệu.
- Cải tiến qui trình thao tác thông qua:
+ Phế liệu và phát thải, nội dung này đạt được thông qua: Chu trình, sự
thay thế, phương pháp và công nghệ mới. Ví dụ: Làm sạch nước thông qua lọc
nước thải trong chu trình công nghệ, chuyển đổi việc cung cấp năng lượng từ dầu
mỏ sang khí đốt, giảm định mức hư hao trong quá trình sản xuất, sử dụng lốp xe
cũ để tiết kiệm năng lượng trong sản xuất xi măng, có thiết bị tái sử dụng nhiệt
20
dư thừa, có phương pháp làm sạch khác không tiêu hao nước và không có nước
thải, có thiết bị đầu nối nhiệt lực với phế liệu của bộ phận chế biến gỗ.
Bên cạnh những biện pháp ngắn hạn chỉ nhằm tăng doanh thu và giảm
chi phí thì các biện pháp trung hạn và dài hạn cần phải quan tâm đến biện pháp
bảo vệ môi trường và nó cho thấy sự hữu hiệu của các biện pháp đó nằm trong kế
hoạch dài hạn.
Để có được một giải pháp tốt tạo nên một môi trường lao động phù hợp
cho người lao động, đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành khoa học, được dựa
trên 4 yếu tố cơ bản sau:
- Ngăn chặn và hạn chế sự lan tỏa các yếu tố nguy hiểm và có hại từ
nguồn phát sinh. Biện pháp tích cực nhất là thay đổi công nghệ sản xuất với các
nguyên liệu và nhiên liệu sạch, thiết kế và trang bị những thiết bị, dây chuyền sản
xuất không làm ô nhiễm môi trường
- Thu hồi và xử lý các yếu tố gây ô nhiễm.
- Xử lý các chất thải trước khi thải ra để không làm ô nhiễm môi trường.
- Trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân.
1.5. Những nội dung chủ yếu của khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động
1.5.1. Nội dung khoa học kỹ thuật
Nội dung khoa học kỹ thuật chiếm một vị trí rất quan trọng, là phần cốt
lõi để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại, cải thiện điều kiện lao động.
Khoa học kỹ thuật BHLĐ là lĩnh vực khoa học rất tổng hợp và liên
ngành, được hình thành và phát triển trên cơ sở kết hợp và sử dụng thành tựu của
22
- Tạo hứng thú trong lao động.
2. Cơ sở của việc đánh giá các yếu tố môi trường lao động
- Khả năng lan truyền của các yếu tố môi trường lao động từ nguồn.
- Sự lan truyền của các yếu tố này thông qua con người ở vị trí lao động.
Hình1-1. Cơ sở đánh giá các yếu tố trong môi trường lao động
- Tác động chủ yếu của các yếu tố môi trường lao động đến con người:
+ Các yếu tố tác động chủ yếu là các yếu tố môi trường lao động về vật lý,
hoá học, sinh học và chỉ xét về mặt gây ảnh hưởng đến con người.
+ Tình trạng sinh lý của cơ thể cũng chịu tác động và phải được điều
chỉnh thích hợp, xét cả hai mặt tâm lý và sinh lý.
Tác động của năng suất lao động cũng ảnh hưởng trực tiếp về mặt tâm lý
đối với người lao động. Tất nhiên năng suất lao động còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khác nhau (chẳng hạn về nghề nghiệp, gia đình, xã hội ). Vì vậy khi nói
đến các yếu tố ảnh hưởng của môi trường lao động, phải xét cả các yếu tố tiêu
cực như tổn thương, gây nhiễu và các yếu tố tích cực như yếu tố sử dụng
Một điều cần chú ý là sự nhận biết mức độ tác động của các yếu tố khác
nhau đối với người lao động để có các biện pháp xử lý thích hợp.
23
3. Đo và đánh giá vệ sinh lao động
Đầu tiên là phát hiện các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường lao động về
mặt số lượng và chú ý đến những yếu tố ảnh hưởng chủ yếu, từ đó tiến hành đo,
đánh giá. Mỗi yếu tố ảnh hưởng đến môi trường lao động đều được đặc trưng
bằng những đại lượng nhất định và người ta có thể xác định nó bằng cách đo trực
tiếp hay gián tiếp thông qua tính toán.
4. Cơ sở về các hình thức vệ sinh lao động
Các hình thức của các yếu tố ảnh hưởng của môi trường lao động là
những điều kiện ở chỗ làm việc (trong nhà máy hay văn phòng ), trạng thái lao
động (làm việc ca ngày hay ca đêm ), yêu cầu của nhiệm vụ được giao (lắp ráp,
sửa chữa, gia công cơ hay thiết kế, lập chương trình ) và các phương tiện lao
thương
Yếu tố sử dụng
Tiếng ồn Phụ thuộc nhiều
vào sự hoạt động
của lao động (ví
dụ: tập trung hay
sự nhận biết tín
hiệu âm thanh)
Vượt quá giới hạn
cho phép. Phụ
thuộc thời gian tác
động tổn thương
thính giác.
Âm thanh dùng
làm tín hiệu.
Âm nhạc tác động
tốt cho tinh thần.
Rung động Ví dụ: những quá
trình gia công cần
độ chính xác cao
Vượt quá giới hạn
cho phép. Phụ
thuộc vào thời
gian tác động, tổn
thương sinh học,
ảnh hưởng đến
tuần hoàn máu.
ứng dụng trong y
học
25