BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐOÀN TUẤN PHƯỢNG
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN
DƯƠNG HƯỚNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐOÀN TUẤN PHƯỢNG
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN
DƯƠNG HƯỚNG
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trương Đăng Dung
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu
sắc tới PGS.TS. Trương Đăng Dung - người thầy trực tiếp
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, giúp tôi hoàn thành đề tài của
mình.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các nhà khoa học hiện đang
làm công tác nghiên cứu tại Viện Văn học Việt Nam, Phòng
Sau Đại học và các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn -
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài này.
7
4. Phương pháp nghiên cứu
8
5. Dự kiến đóng góp
6. Cấu trúc luận văn
9
9
NỘI DUNG
10
Chương 1: TIỂU THUYẾT DƯƠNG HƯỚNG TRONG TIẾN
TRÌNH ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
10
1.1. Những đặc điểm của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986
10
1.1.1. Về phương diện nội dung
10
1.1.2. Về phương diện nghệ thuật
14
1.2. Vị trí của tiểu thuyết Dương Hướng trong bối cảnh đổi mới của
tiểu thuyết Việt Nam
18
Chương 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
DƯƠNG HƯỚNG
25
2.1. Khái lược về nhân vật tiểu thuyết
25
2.2. Các kiểu nhân vật tiểu thuyết của Dương Hướng.
30
2.2.1. Người nông dân
32
phong cách khác nhau như luồng gió mới làm dịu mát cánh đồng văn chương
sau nhiều năm bị không khí ngột ngạt của chiến tranh làm khô cằn. Sau đại
hội VI của Đảng (1986), với những đổi mới mang tính bản lề, trong đó văn
chương không còn lệ thuộc nhiều vào chính trị, tư tưởng nhà văn không còn
bị ràng buộc là bước ngoặt thuận lợi để nhiều tác giả, tác phẩm đua nhau tỏa
sáng. Dương Hướng là một trong những nhà văn đã tạo được dấu ấn sâu đậm
trong lòng người đọc.
1.2. Nhà văn Dương Hướng là cái tên được nhiều người biết đến, ông
được đánh giá là một nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học đương đại
Việt Nam. Tuy số lượng tác phẩm không nhiều nhưng nó đã ghi lại những dấu
ấn trong tiến trình phát triển tiểu thuyết đương đại Việt Nam. Dương Hướng
đã dám “chạm” tới lãnh địa mà nhiều nhà văn còn ngần ngại để phản ánh
những góc khuất của lịch sử, với cái nhìn mới, chân thực và sâu sắc về cuộc
sống.
Thuộc số các nhà văn xuất hiện và trưởng thành từ phong trào văn nghệ
quần chúng, Dương Hướng đến với nghiệp văn khá muộn nhưng đã để lại cho
đời những tác phẩm hay, được bạn đọc yêu thích. Đó là cái tài và cũng là cái
duyên của người cầm bút. Đặc biệt trên lĩnh vực tiểu thuyết, nhà văn đã gặt
hái được thành công đáng ghi nhận. Cùng với Thân phận tình yêu của Bảo
2
Ninh, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không
chồng của Dương Hướng là một trong ba tác phẩm tiêu biểu của văn học thời
điểm cao trào đổi mới văn học. Dù chỉ là nhà văn “nghiệp dư” với số lượng
tiểu thuyết khá khiêm tốn nhưng Dương Hướng đã là một cái tên thường được
nhắc đến trong các công trình nghiên cứu về văn học sau 1975. Với cảm quan
hiện thực nhạy bén và tinh thần công dân đầy trách nhiệm, nhà văn đã không
ngại đối thoại với những quan niệm đơn giản về hiện thực. Đất nước hòa bình
nhưng vẫn còn đó những nỗi đau, những mất mát làm nhức nhối lương tâm
nhà văn. Dương Hướng đã mạnh dạn nhìn sâu vào bi kịch của cả một lớp
người: những số phận con người, những toan tính lầm lạc, những ảo vọng
Nguyễn Huy Thiệp với Tướng về hưu, Ma Văn Kháng với Mùa lá rụng trong
vườn, Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Minh
Châu với Cỏ lau,… Dương Hướng với Bến không chồng, cùng với Nỗi buồn
chiến tranh của Bảo Ninh và Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc
Trường là ba tác phẩm đoạt giải thưởng Hội nhà văn năm 1991.
Bến không chồng của Dương Hướng là tác phẩm viết về đề tài nông
thôn miền Bắc hậu chiến tranh. Ngòi bút sắc sảo của ông đã bóc tách thành
công những mảng miếng hiện thực xã hội miền Bắc sau cuộc chiến. Nhà văn
đã mổ xẻ rất thấu đáo bi kịch của con người thời hậu chiến, mối quan hệ họ
tộc, vấn đề tâm linh, tính dục trong tác phẩm,… qua đó toát lên vẻ đẹp nhân
văn nhân bản sâu sắc.
Từ khi xuất hiện năm 1991, Bến không chồng là cái tên được nhắc tới
khá nhiều trong giới nghiên cứu phê bình. Nguyễn Văn Long cho rằng: “Tác
phẩm cho thấy một phương diện của thực trạng đời sống tinh thần trong nông
thôn(…). Trong Bến không chồng, Dương Hướng cho thấy là trong nhiều
4
trường hợp, con người vừa là nạn nhân mà cũng là thủ phạm của tấn bi kịch
đời mình, họ phải chịu trách nhiệm một phần về số phận của mình. Cách nhìn
của anh, theo tôi là đúng mực, bình tĩnh và khách quan mà vẫn toát lên niềm
tin và nỗi xót xa về con người…” [44,tr.406]. Theo tác giả, nông thôn trong
tác phẩm của Dương Hướng không được khai thác sâu ở phương diện các
phong trào cách mạng, các vấn đề của đời sống chính trị xã hội mà ông tập
trung làm rõ ý thức và tập quán về họ tộc tới số phận con người. Đó là yếu tố
làm nên cái mới và sức hấp dẫn ở cuốn tiểu thuyết này: “Bến không chồng
không có những tìm tòi mới lạ về nghệ thuật. Cách trần thuật và miêu tả của
Dương Hướng mộc mạc tự nhiên, có những chỗ còn đơn giản và thô vụng
nữa. Sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết chính là ở sự chân thực, ở vốn hiểu biết
đời sống nông thôn và một cách nhìn cảm thông, nhân đạo với số phận con
người…”[44, tr.407]. Nhận định của nhà nghiên cứu cho chúng tôi những gợi
ý quý báu.
gai góc mà nó đã đặt ra. Tác phẩm đã phản ánh đời sống xã hội xuyên suốt
một thời kỳ dài của lịch sử dân tộc: cuộc cải cách ruộng đất, phong trào hợp
tác hóa ở miền Bắc, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, cuộc chiến
tranh biên giới phía Bắc và thời kỳ đất nước mở cửa Với tiểu thuyết này,
một lần nữa nhà văn Dương Hướng nhìn lại lịch sử như một nhân vật với
những vấn đề của nhân tình thế thái. Một trong những lực hút của Dưới chín
tầng trời chính là nghệ thuật xây dựng nhân vật và cốt truyện. Tác phẩm đã
nhận được nhiều ý kiến đánh giá khác nhau.
Trong bài viết “Cách nhìn của Dương Hướng trong tiểu thuyết Dưới
chín tầng trời”, nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến đã viết: “Nếu như
tiểu thuyết trước hết là cốt truyện thì tác phẩm này thừa sức hấp dẫn. Vì cốt
6
truyện rất ly kỳ, nhiều tuyến nhân vật quan hệ éo le, số phận ba chìm bảy
nổi…, nhiều tuyến hành động diễn ra các miền Trung, Nam, Bắc, có xóm làng
và thành phố, có chiến trường ác liệt ở miền Nam và sinh hoạt nhộn nhạo, rối
ren vùng biên giới phía Bắc Với tôi thì tiểu thuyết trước hết là những nhân
vật” [33,tr.503].
Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng có bài viết với tiêu đề “Bi kịch lạc
quan trong Dưới chín tầng trời” in trên Tạp chí Nhà văn số 10 - 2008 và sau
đó được in trong cuốn Tiểu thuyết đương đại (Nxb Văn hóa thông tin). Ông
cho rằng đây là cuốn tiểu thuyết “mang đậm chất sử thi tâm lý” bởi “tác phẩm
được mở ra với một thời gian dài và một không gian rộng và tầng tầng lớp lớp
nhân vật. Một hình ảnh đời sống trọn vẹn, đa chiều và phức tạp từ “thượng
đỉnh” tới “hạ giới” ”
Phong Lê trong bài “Từ Bến không chồng tới Dưới chín tầng trời” cho
rằng: “Dưới chín tầng trời, hơn 500 trang cỡ lớn - đặc chữ, ôm chứa một sự
sống trải dài suốt hơn nửa thế kỷ, gồm nhiều hệ nhân vật, với số lượng tính cả
chính - phụ là đến cả trăm, không chỉ vượt hẳn Bến không chồng và Trần gian
người đời gộp lại mà còn vượt lên nhiều tiểu thuyết khác, để đứng ở hàng đầu
về quy mô và tầm vóc phản ánh…”. Dưới chín tầng trời, đó là toàn cảnh nhân
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Đặt vấn đề nghiên cứu Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết
của nhà văn Dương Hướng, luận văn hướng tới việc khám phá, phát hiện
cách nhìn và thể hiện thân phận con người trong tiểu thuyết của nhà văn
Dương Hướng. Từ đó thấy được đóng góp của nhà văn trong nền văn xuôi
đương đại nói chung và nền văn học dân tộc nói chung.
8
3.2. Đối tượng
Luận văn sẽ khảo sát tiểu thuyết của nhà văn Dương Hướng trên
phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật làm đối tượng nghiên cứu. Từ đó
tìm kiếm và khẳng định sự linh hoạt và những nét riêng độc đáo trong ngòi
bút nhà văn.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung khai thác ba tiểu thuyết của nhà văn Dương Hướng
Bến không chồng (1990); Trần gian người đời (1991); Dưới chín tầng trời
(2007). Và ở một chừng mực nhất định sẽ có sự so sánh, đối chiếu với tác
phẩm của một số nhà văn khác.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu tác gia văn học
Luận văn nghiên cứu tiểu thuyết của Dương Hướng như một quá trình
vận động liên tục của những quan niệm về con người, về hiện thực và về bút
pháp, từ đó lý giải những tương tác giữa hoàn cảnh lịch sử - xã hội với khát
vọng sáng tạo của nhà văn.
4.2. Phương pháp so sánh đối chiếu
Cùng với việc phân tích những nét mới trong tiểu thuyết của Dương
Hướng, tác giả luận văn tiến hành so sánh, đối chiếu với một số tác phẩm
khác nhằm khẳng định vị trí và giá trị của tác phẩm.
4.3. Phương pháp khảo sát, thống kê
Trong khi phân tích tác phẩm luận văn sử dụng các phương pháp khảo
đại Việt Nam, ta thấy có những dấu hiệu chuyển biến đáng mừng từ chủ đề
đến phương thức biểu hiện của tác phẩm. Các nhà văn đã cố gắng bám sát vào
hiện thực cuộc sống, hoặc nhìn nhận lại quá khứ ở những khía cạnh khác nhau
qua đó đưa ra những vấn đề mang tính cấp thiết của thời đại.
Sau 1975, đề tài chiến tranh vẫn được nhiều cây bút tiểu thuyết quan
tâm . Sức hấp dẫn của hai cuộc kháng chiến thần thánh vẫn luôn là nguồn cảm
hứng không bao giờ vơi cạn. Một loạt cuốn tiểu thuyết về chiến tranh cuối
những năm 1970 được viết ngay khi chiến tranh vừa kết thúc với ấn tượng
còn nóng hổi của những nguồn tư liệu “mắt thấy tai nghe”, chưa đủ thời gian
để lắng lại, nhưng vì thế mà nó sinh động và đặc biệt là rất kịp thời đáp ứng
nhu cầu của người đọc muốn hiểu rõ hơn về cuộc chiến đấu. Miền cháy,
Những người đi từ trong rừng ra (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió lốc
(Khuất Quang Thụy), Nắng đồng bằng (Chu Lai), Mở rừng (Lê Lựu) vv… là
những cuốn tiểu thuyết đã tái hiện được hiện thực chiến tranh rộng lớn, khốc
liệt một cách chân thực và sắc nét.
Tuy nhiên, bớt hẳn cái nhìn giản đơn, dễ dãi như nhiều tác phẩm giai
đoạn trước, những cuốn tiểu thuyết này có nét mới ở chỗ đã không né tránh
khía cạnh tổn thất đau thương của chiến tranh, đặc biệt là những cảnh ngộ,
những mảng tâm trạng hết sức riêng tư nhưng giàu tính nhân bản… Bên cạnh
11
đó, các nhà tiểu thuyết đã không ngần ngại đi vào khám phá những hạn chế,
góc khuất của lịch sử. Cũng chính vì thế mà tiểu thuyết chiến tranh đã gây ra
được tiếng vang lớn và làm xôn xao nền văn học nước nhà: Đất trắng của
Nguyễn Trọng Oánh; Chim én bay của Nguyễn Trí Huân; Miền cháy của
Nguyễn Minh Châu; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng,
Khúc bi tráng cuối cùng của Chu Lai; Thời xa vắng của Lê Lựu; Bến không
chồng, Dưới chín tầng trời của Dương Hướng Những mảng hiện thực mà
văn học ở giai đoạn trước chưa kịp phản ánh hoặc né tránh thì nay được tiếp
tục khai thác với những cảm hứng mới - cảm hứng bi kịch nhân văn, cảm
hứng nhận thức lại, cảm hứng trào lộng…
trong chuẩn mực giá trị, biết bao bi kịch chưa hề xuất hiện trong chiến tranh,
bao vấn đề bề bộn, phức tạp thời hậu chiến - đó là những bức xúc, nhức nhối
mà văn học hôm nay cố gắng phản ánh. Nhà văn không thể chỉ dựa vào kinh
nghiệm cộng đồng như trước đây được nữa. Giờ đây, họ phải dựa cả vào kinh
nghiệm cá nhân, vào trực giác, lắng nghe những mách bảo của tiềm thức, tìm
đến những suy đoán, dự cảm, thậm chí vượt khỏi thói quen và chuẩn mực
thông thường khi phản ánh và lí giải hiện thực - cái hiện thực đầy biến ảo
trong muôn ngàn dạng thái của những số phận đời tư, những tình trạng đạo
đức xã hội. Thời xa vắng của Lê Lựu là tác phẩm thành công mở đầu cho
khuynh hướng này. Trong tác phẩm Lê Lựu không chỉ đặt vấn đề nhân cách
con người mà còn phân tích tác động ngặt nghèo của hoàn cảnh khiến con
người bị hoàn cảnh nhào nặn thành kẻ buông xuôi không tự định đoạt được
cuộc sống của mình. Các nhà văn quan tâm nhất tới số phận con người và bi
kịch đời thường của họ, đó là bi kịch giữa khát vọng và thực tại, giữa sự cố
gắng vươn lên và sự bị kìm hãm, giữa nhân bản và phi nhân bản… Những
13
mạch ngầm và ghềnh thác của mỗi phận người trong và sau chiến tranh được
khai thác toàn vẹn hơn (Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh), đề xuất những
phép ứng xử với lịch sử (Phẩm tiết, Vàng lửa, Kiếm sắc - Nguyễn Huy
Thiệp), với cuộc sống hiện tại (Mảnh đất lắm người nhiều ma - Nguyễn Khắc
Trường), thể hiện thái độ tích cực đối với cuộc đấu tranh tự hoàn thiện nhân
cách, phẩm giá con người (Bức tranh- Nguyễn Minh Châu). Khám phá cái thế
giới phức tạp của con người cá nhân trở thành cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ
của các nhà văn. Tiểu thuyết giai đoạn này đã “quan niệm con người cá nhân
như một nhân cách, một nhân cách kiểu mới” . Đó là những con người vừa có
khiếm khuyết, vừa đẹp đẽ, thánh thiện. Đặc biệt, ở giai đoạn văn học này, các
cây bút đã đi vào khám phá con người tự nhiên và những chiều sâu bí ẩn của
tâm linh, tiềm thức, vô thức. Các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị
Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương … đều nhấn mạnh phương diện bản
thể tự nhiên của con người, tạo nên tiếng nói đa thanh đầy “hòa âm” và
Thuận với Made in Vietnam, Chinatown, Paris 11 tháng 8; Lê Ngọc Mai
với Tìm trong nỗi nhớ, Trên đỉnh dốc; Lê Minh Hà với Gió từ thời khuất mặt;
Bùi Việt Sỹ với Người đưa đường thọt chân; Hữu Đạt với Hai đầu của bức
thư tình
Những nỗ lực đó của các nhà tiểu thuyết đã tạo nên một diện mạo mới
cho tiểu thuyết Việt Nam hôm nay.
1.1.2. Về phương diện nghệ thuật
Nếu quan tâm đến đời sống của nền tiểu thuyết đương đại Việt Nam,
chúng ta dễ dàng nhận ra sự thay đổi khá mạnh mẽ trong nghệ thuật viết tiểu
thuyết. Cái sự thay đổi đó là lẽ tất yếu trong dòng chảy chung của nền văn học
đương đại đồng thời nó phù hợp với xu thế vận động của thời đại.
15
Một trong những thay đổi trong tiểu thuyết đương đại hôm nay là thay
đổi trong tư duy nghệ thuật của nhà văn. Đây là điều quan trọng nhất để tạo
nên những vận động trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam. Sống trong môi
trường công nghiệp hóa hiện đại hóa, con người không còn “ngây thơ”, đòi
hỏi văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng không phải “giảng đạo” mà là
phương tiện để giúp con người khám phá chính mình. Đồng thời văn chương
cũng là một phương tiện giải trí chứ không phải là “văn dĩ tải đạo” như trước.
Chính vì thế mà tư duy nghệ thuật của các nhà tiểu thuyết cũng phải thay đổi.
Các nhà tiểu thuyết hiện nay đã chú ý tiếp cận và khai thác sâu hơn những vấn
đề của cuộc sống thường nhật. Không những thế, họ còn đi sâu vào khai thác
đời sống tâm hồn của con người ở mọi tầng bậc khác nhau. Họ cố gắng
“phanh phui” mọi ngóc ngách trong tâm hồn con người cũng như trong đời
sống. Từ những thay đổi trong tư duy, trong cách nhìn dẫn đến biến đổi trong
nghệ thuật của tiểu thuyết đương đại Việt Nam.
Cùng với sự đổi mới về nội dung, các nhà văn đã cố gắng tìm tòi, thể
hiện những cách tân về phương diện nghệ thuật. Cùng với những cốt truyện
giàu kịch tính là những cốt truyện giàu tâm trạng. Những tác phẩm truyền
thống có kết cấu cốt truyện rõ ràng, mạch lạc, có mở đầu, có kết thúc (Thời xa
Ngoài đối thoại, độc thoại nội tâm cũng là một thủ pháp nghệ thuật có
hiệu quả trong quá trình tự ý thức của nhân vật, đi sâu vào thế giới nội tâm
đầy bí ẩn của nhân vật. Đặc biệt kĩ thuật dòng ý thức sử dụng thời gian đồng
hiện, hồi ức, hoài niệm, dòng suy tưởng, những giấc chiêm bao…để nhân vật
tự bộc lộ những miền sâu kín của tâm hồn nằm ngoài vòng kiểm soát của ý
thức con người. Nhà văn khơi sâu vào cõi tâm linh, vô thức của con người,
khai thác “con người ở bên trong con người”. Thủ pháp này thể hiện rõ trong
17
các tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh ( Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai),
Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài)…
Tiểu thuyết đương đại đang có hiện tượng co ngắn lại. Nhìn lại bộ mặt
của tiểu thuyết những năm đầu thập niên chín mươi của thế kỉ XX đến nay, ta
thấy đa số các tác phẩm chỉ có khoảng vài trăm trang trở lại như: Thiên sứ của
Phạm Thị Hoài có 180 trang, Thân phận tình yêu của Bảo Ninh có 338
trang, Bến không chồng của Dương Hướng có 281 trang, Tạ Duy Anh với Lão
Khổ có 260 trang, Đi tìm nhân vật có 225 trang, Thiên thần sám hối có 125
trang; Nguyễn Bình Phương với Thoạt kỳ thủy có 158 trang; Lạc rừng của
Trung Trung Đỉnh có 190 trang; Mạc Can với Tấm ván phóng dao có 197
trang; Thuận với Phố Tàu có 222 trang Có thể thấy tiểu thuyết đương đại đa
số mang hình thức của một truyện dài nhưng lại có sự dồn nén lớn về nội
dung phản ánh. Chính điều này đã góp phần tạo nên tính thơ và triết lý trong
tiểu thuyết đương đại. Chất triết lý toát ra từ những suy tư, những tranh biện
trong độc thoại và cả đối thoại của nhân vật. Chất thơ lại thể hiện trong những
mơ mộng, những cảm xúc của nội tâm con người hay ở chất liệu huyền thoại.
Mặt khác, trong tiểu thuyết hôm nay nảy sinh cuộc đối thoại ngầm giữa nhà
văn với độc giả. Cuộc đối thoại ngầm này được thực hiện thông qua điểm
nhìn của tác phẩm. Nếu trước kia, trong tác phẩm chỉ có một điểm nhìn: điểm
nhìn người kể chuyện, thì giờ đây, mỗi tác phẩm được soi chiếu bởi nhiều
điểm nhìn khác nhau. Điểm nhìn của tác phẩm được đặt vào nhiều nhân vật
khác nhau để soi chiếu một cách đa chiều, tạo nên sự đa dạng trong giọng
tôi tin sẽ được xã hội chấp nhận….Cái khó là viết sao cho hay, cho có tầm tư
tưởng. Bởi tôi quan niệm, trong văn học, không có chuyện đề tài cũ -
mới”[22].
19
Tác phẩm của Dương Hướng đã được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt bởi
quan niệm văn chương của ông gần gũi với mối quan tâm của họ. Ông nói:
“Nhiệm vụ cao cả của nhà văn là kiếm tìm cái đẹp và phải biết khai thác tới
tận cùng để nhìn cho thấu cả nỗi khổ đau và niềm đam mê khát vọng trong
tâm hồn con người” (Bến không chồng - Bến đỗ văn chương); "Khi viết tôi
không quan tâm đến chuyện mới hay cũ, đối tượng độc giả già hay trẻ. Quan
trọng là cái tâm của người cầm bút nói được tiếng nói của nhân dân, nỗi lòng
của người cần lao"[22].
Những đề tài Dương Hướng đề cập tới không phải là những đề tài mới.
Tuy nhiên, với sự sắc sảo, vốn sống phong phú cộng thêm lòng dũng cảm,
Dương Hướng thuộc số nhà văn dám len lỏi vào những vấn đề tế nhị, nhạy
cảm của xã hội thời hậu chiến cũng như thời đổi mới để đem đến cho độc giả
cái nhìn chân thực, có chiều sâu. Sự ra đời của tiểu thuyết Bến không chồng ở
thời điểm 1990 quả đã "góp được một cái nhìn mới mẻ về bức tranh đất nước
trong thời chiến và hậu chiến, kéo dài những mấy chục năm; với gánh nặng
không phải là chỉ chiến tranh, về phía khách quan; mà còn là những lầm lạc
của con người trong thời kỳ lịch sử có quá nhiều biến động và thử thách, mà
tất cả những ai "do lịch sử để lại" không đủ tầm và sức để vượt qua nó"[22].
Đó là những hệ lụy từ Cải cách ruộng đất, từ phong trào Hợp tác hóa, là
những nề nếp tâm lý, ý thức hủ lậu trong một xã hội nông nghiệp lạc hậu. Tất
cả đều có thể trở thành những nguyên cớ gây tai họa mà con người phải nhẫn
nhịn chịu đựng trong một thời gian dài như một áp đặt của định mệnh. Chỉ
đến giai đoạn chuyển giao giữa hai thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX, con
người mới chợt bừng tỉnh và nhận ra mình vừa là nạn nhân, vừa là tội nhân
của lịch sử. Người đọc không khỏi lặng đi suy nghĩ khi đọc những câu văn:
"Con cắn rơm, con cắn cỏ con lạy ông Ông hãy cứu lấy thằng Tốn. Nếu