ĐÁNH GIÁ CƯỜNG lực KHAI THÁC THỦY SẢN NHẰM QUẢN LÝ tốt hơn CÁC KHU BẢO tồn BIỂN TRƯỜNG hợp NGHIÊN cứu ở KHU BẢO vệ RẠN TRÀO XÃ VẠN HƯNG HUYỆN vạn NINH TỈNH KHÁNH hòa - Pdf 30

ĐÁNH GIÁ CƯỜNG LỰC KHAI THÁC THỦY SẢN NHẰM QUẢN LÝ TỐT HƠN CÁC
KHU BẢO TỒN BIỂN TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU Ở KHU BẢO VỆ RẠN TRÀO XÃ
VẠN HƯNG HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA
Trần Văn Hào
Phòng KT&BVNL TS, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3
Tel 0915.839.250 Email:
TÓM TẮT
Bài báo này tập trung nghiên cứu khảo sát và đánh giá cường lực khai thác ở vùng biển ven bờ huyện Vạn
Ninh, tỉnh Khánh Hòa nơi khu bảo vệ Rạn Trào được xây dựng. Với mục đích xác định các nghề khai thác có ảnh
hưởng lớn tới nguồn lợi ven bờ khu vực Rạn Trào, thời điểm những loại nghề này hoạt động mạnh trong năm. Đồng
thời, tính toán cường lực khai thác cho các nghề tại vùng biển ven bờ Vạn Ninh theo các tháng trong năm. Với các
giả thuyết của mô hình kinh tế sinh học cổ điển của Gordon (1954), tác giả đã tính toán cường lực khai thác cho
các nghề khai thác chính tại địa phương. Kết hợp với kết quả khảo sát, đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng
đồng (PRA) và phân tích tính chọn lọc của các loại ngư cụ, tác giả đã đưa ra những kết luận về cường lực khai thác
và tính chọn lọc của các loại hình ngư cụ tại địa phương và đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao tính chọn lọc,
thân thiện với môi trường và đảm bảo tính bền vững cho một số loại hình ngư cụ hoạt động khai thác thủy sản tại
vùng biển ven bờ huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu bảo vệ Rạn Trào thuộc xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa được hình
thành từ năm 2000 với sự hỗ trợ của Liên minh sinh vật biển quốc tế (IMA), tiền thân của Trung
tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD, và được MCD tiếp tục phát triển cho
tới nay. Qua hơn 10 năm hoạt động, với mục đích phục hồi rạn san hô, tái tạo và phát triển nguồn
lợi hải sản ở vùng biển Rạn Trào dựa vào cộng đồng ngư dân địa phương, khu bảo vệ Rạn Trào
cũng như người dân địa phương đã có những chuyển biến tích tực, đạt được nhiều kết quả khả
quan về cả môi trường và kinh tế xã hội được nhiều nhà quản lý, kinh tế và xã hội đánh giá cao
(UBND huyện Vạn Ninh, 2008). Tuy nhiên, do hầu hết các xã của Vạn Ninh đều phát triển mạnh
nghề khai thác thủy sản ven bờ, tổ chức sản xuất ở quy mô nhỏ, manh mún, mỗi chuyến biển
thường chỉ kéo dài 1 đến 3 ngày. Người dân đánh bắt tự do, ý thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản của
người dân địa phương đã được cải thiện song vẫn còn hạn chế. Với khoảng hơn 3.000 tàu thuyền
lớn nhỏ các loại, hoạt động trên các loại hình khai thác chính là lưới kéo, lưới trũ, lưới rê, nghề
lưới vây, mành và lặn bắt Trong số đó, tàu khai thác ven bờ (<90 CV) chiếm tới 98%. Người

- Y (Yield): Sản lượng khai thác của mỗi nghề hoặc của toàn bộ hoạt động khai thác tại thời điểm
nghiên cứu.
- CPUE (Catch Per Unit Effort): Sản lượng khai thác trên một đơn vị cường lực của mỗi loại
nghề được khảo sát.
d. Các giả thuyết
Việc tính toán và đánh giá cường lực khai thác cho một vùng biển nhỏ cố định như ở Rạn
Trào, Vạn Ninh được thực hiện dựa trên một số giả thuyết sau:
- Giả thuyết 1: Số lượng tàu thuyền khai thác tại vùng biển Vạn Ninh là không đổi trong
năm khảo sát (Ola Flaaten, 2011). Điều này có nghĩa là số lượng tàu thuyền tại Vạn Ninh đi ra
ngoài vùng biển ven bờ của địa phương (đi xa bờ hoặc sang địa phận vùng biển khác) đúng bằng
số lượng tàu thuyền của các địa phương khác (các địa phương lân cận như Ninh Hòa, Nha Trang
hay Vũng Rô (Phú Yên)) tới khai thác trong vùng biển Vạn Ninh.
- Giả thuyết 2: Để đơn giản hóa, đội tàu khai thác tại địa phương được giả định có tính
đồng nhất (homogeneous). Điều này có nghĩa là các tàu thuyền trong nhóm có chi phí và doanh
thu chuyến biển tương đối đồng đều. Giá bán cá không có dao động lớn trong năm và không bị
ảnh hưởng nhiều khi sản lượng đánh bắt tăng cao (Gordon, 1954)
- Giả thuyết 3: Để áp dụng cách tính toán này, nghề cá tại Vạn Ninh được mặc định là
hoạt động ở cơ chế tự do (open-access fisheries)
Năng lực đánh bắt và chỉ số CPUE
Ước định sản lượng đánh bắt theo cường lực khai thác
Cơ cấu đội tàu theo nhóm nghề, nhóm CV và theo địa phương
Đánh giá cường lực khai thác
Điều tra thông tin thứ cấp, sơ cấp về khai thác
Đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA)
Khảo sát thực tế trên biển
Đánh giá tính chọn lọc của ngư cụ
Hình 1 . Khung phân tích của đề tài.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Cơ cấu, đặc điểm và trang thiết bị trên tàu cá ở huyện Vạn Ninh
Tính tới tháng 10 năm 2010, toàn huyện Vạn Ninh có 2.999 tàu thuyền các loại. Trong đó, có

Tổng 434 490 121 115 80 1.240
(Nguồn: Chi cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản tỉnh Khánh Hòa)
* Đặc điểm tàu thuyền
Hầu hết tàu thuyền của Vạn Ninh có kết cấu theo kiểu truyền thống, kích thước nhỏ, chiều dài
tàu từ 4,5 đến 14,0m, trung bình là 9,8m. Chiều rộng phổ biến từ 2,0 đến 4,0 m. Chiều cao của
tàu từ 0,5 tới 1,8m, trung bình là 1,2m. Các chỉ số về kích thước tàu thuyền được thể hiện ở bảng
3.
Bảng 3. Các chỉ số trung bình chỉ báo đặc điểm tàu nghề tại Vạn Ninh
Chỉ tiêu trung bình
Các chỉ số trung bình tàu thuyền phân theo nghề khai thác
Lưới kéo Lưới trũ Lưới rê Nghề câu
Công suất (CV) 32.7 28.5 16.1 14.2
Chiều dài (m) 10.6 11.3 6.0 6.6
Chiều rộng (m) 2.9 3.0 1.7 1.7
Chiều cao (m) 1.4 1.2 0.7 0.9
Số mẫu (N) 37 22 23 8
(Số liệu điều tra cấp hộ dân của đề tài)
* Trang thiết bị trên tàu
Mức độ đầu tư trang thiết bị trên tàu cá ở Vạn Ninh là tương đối đơn giản. Người dân chỉ mới
trang bị các dụng cụ cốt yếu, thực sự cần thiết theo đặc điểm hoạt động của từng loại tàu nghề và
cũng để phù hợp với khả năng kinh tế của người dân địa phương. Cụ thể, đối với nghề lưới kéo
84% trang bị máy định vị GPS và 81% trang bị máy khai thác (máy thu lưới “cảo”), do tính chất
công việc nên 100% tàu lưới trũ được trang bị máy dò cá. Riêng đối với máy thông tin liên lạc
thì 100% các tàu thuyền được trang bị. Nếu đi trong tuyến bờ, điện thoại di động được sử dụng
phổ biến nhất, nếu đi tuyến lộng sử dụng các máy thông tin liên lạc tầm gần như ICOM 3 và 6
băng, OWAI
3.2. Kết quả phỏng vấn nhanh về tính chọn lọc của các loại ngư cụ tại địa phương.
Nghề lưới kéo và nghề trũ là những nghề xâm hại nguồn lợi mạnh mẽ tại vùng biển Vạn
Ninh. Bên cạnh đó, các ý kiến cũng tập trung cho rằng, nghề lưới rê, nghề câu tay là những nghề
ít ảnh hưởng tới nguồn lợi ven bờ. Ngoài ra, một số hình thức khai thác hủy diệt vẫn còn tồn tại

34
21 13 16.4 490 10.290 6.370 8.036

33
23 17 20.5 121 2.723 2.118 2.481
Câu
27
23 18 20.8 115 2.645 2.128 2.392
TB 23 15 19 1160 26.535 17.835 22.301
(Số liệu điều tra, khảo sát nhanh của đề tài)
Với chỉ số CPUE khảo sát được trong tháng 4, bảng 7 thể hiện sản lượng ước định trong
tháng thông qua chỉ số CPUE của tháng. Theo đó, nghề lưới kéo và nghề trũ cho sản lượng khá
cao với lần lượt là 953 tấn và 545 tấn. Ngược lại, các nghề câu và rê có số ngày khai thác trong
tháng lớn. Tuy nhiên, do chỉ số CPUE thấp, số lượng tàu thuyền ít nên sản lượng của 2 nghề này
là rất thấp, với lần lượt là 62 và 12 tấn trong toàn vùng biển Vạn Ninh trong tháng 4/2011.
Bảng 6. Sản lượng khai thác tức thời theo nghề tại thời điểm khảo sát
Nghề
E (ngày khai thác)
CPUE
(kg/ngày)
Y (tấn)
Max Min TB Max Min TB
Lưới kéo 10.850 5.425 8.333 114,4 1.241 621 953
Lưới trũ 10.290 6.370 8.036 67,8 698 432 545
Nghề câu 2.723 2.118 2.481 25,1 68 53 62
Nghề rê 2.645 2.128 2.392 5,1 14 11 12
Toàn bộ 26.535 17.835 22.301 74,6 1.979 1.330 1.664
(Số liệu điều tra, khảo sát nhanh của đề tài)
Số ngày khai thác tiềm năng theo các tháng trong năm của từng nghề được thể hiện ở
hình 3. Theo đó, một điều dễ dàng nhận thấy là nghề cá của huyện Vạn Ninh có thời gian hoạt

11 5 7 10 15 37
12 7 10 15 18 50
Trung
bình năm
10.3 14.2 19.2 18.6 62.2
Số mẫu
(N)
43 34 33 27 137
(Số liệu điều tra, khảo sát nhanh của đề tài)
Cường lực khai thác ở vùng biển Vạn Ninh tập trung khai thác từ tháng 2 dương lịch tới
tháng 8 trong năm. Cường lực khai thác đạt đỉnh điểm vào tháng 5 với trên 22,2 nghìn ngày khai
thác cho tất cả các nghề trên toàn vùng biển. Cường lực bắt đầu giảm mạnh vào mùa mưa bão từ
cuối tháng 8 (tháng 7 âm lịch) và đạt cực tiểu vào tháng 10 với chỉ gần 8.000 ngày khai thác.
Sang tháng 11, cường lực khai thác bắt đầu có dấu hiệu tăng cao nhờ sự đóng góp của các nhóm
nghề câu, rê ven bờ. Nghề lưới trũ có cường lực khai thác cao nhất và tập trung khai thác từ
tháng 4 đến tháng 9. Cường lực khai thác của nghề trũ đạt cực đỉnh trong 3 tháng là từ tháng 5
đến tháng 7 trong năm với mức gần 9.800 ngày khai thác/tháng. Cuối tháng 10, đầu tháng 11 là
thời gian nghề trũ ít đi khai thác nhất với chỉ số cường lực chỉ đạt 3.400 ngày khai thác/tháng.
Nghề lưới kéo là nghề có cường lực khai thác lớn thứ 2 ở vùng biển Vạn Ninh. Cường lực của
nghề kéo tập trung chủ yếu trong 3 tháng từ tháng 3 đến tháng 5 dương lịch. Nghề lưới kéo đạt
đỉnh điểm trong tháng 4 với gần 7,4 nghìn đơn vị cường lực. Mặc dù nghề câu và lưới rê có số
ngày khai thác trong tháng rất cao, gần như khai thác quanh năm. Tuy nhiên, do sản lượng đánh
bắt ít, chỉ số CPUE thấp và số lượng tàu thuyền ít nên cường lực của hai nhóm nghề này thấp
hơn nhiều so với nghề trũ và nghề lưới kéo. Vào mùa khai thác chính, cường lực của hai loại
nghề này cũng chỉ xấp xỉ 3 nghìn đơn vị cường lực. Còn vào mùa mưa bão, chỉ số cường lực của
hai nghề này chỉ đạt khoảng 1 nghìn đơn vị cường lực trong tháng.
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. Kết luận
- Ở Vạn Ninh, tàu thuyền khai thác thủy sản tập trung chủ yếu ở các xã Vạn Thạnh, Đại Lãnh,
Vạn Thắng, Thị trấn Vạn Giã và xã Vạn Hưng. Trong đó, tàu thuyền của Vạn Hưng, Vạn Thắng

Tác giả xin chân thành cảm ơn tới Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển
Cộng đồng (MCD), Văn phòng MCD ở Khánh Hòa đã tài trợ kinh phí, cử thành viên cộng tác và
tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình thực hiện khảo sát. Xin chân thành cảm ơn Chi
cục KT&BVNL TS tỉnh Khánh Hòa, Phòng NN&PTNT huyện Vạn Ninh, UBND các xã Vạn
Hưng, Vạn Thắng và thị trấn Vạn Giã đã hỗ trợ, giúp đỡ và cung cấp những số liệu thứ cấp cần
thiết. Chân thành cảm ơn nhóm hạt nhân của khu bảo vệ Rạn Trào đã giúp đỡ nhóm thực hiện
đề tài trong các chuyến khảo sát trên biển.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bishnu B. Bhadari, 2003. Participatory Rural Appraisal (PRA), Institute for Global
Environmental Strategies (IGES)
2. FAO, 2002. Sample-based fishery surveys – Technical handbook, pages 9&17/132.
3. Flaaten Ola, 2011. Fisheries Economic and Management. Student book – Norwegian College of
Fishery Science, University of Trumso, 169 pages.
4. Gordon S. H., 1954. The economic theory of common property resources: the fisheries. Journal
of Political Economy, 62, 124-142
ABSTRACT
This paper investigate on observing and evaluating the fishing effort of inshore fisheries in Van Ninh district, Khanh
Hoa province where Trao Reef Conservative Area was built. The objectives of study are determining destructive
fishing gears which have many impacts to inshore resources in Trao reef conservation and illustrate the highest
active time period of gear types annually. Simultaneously, calculate fishing efforts of gear types monthly. With the
hypothesis of traditional bio-economic model was derived by Gordon (1954), the author computed main gears’
fishing effort in Van Ninh. By combining Participatory Rapid Assessment method (PRA) and analyzing the
selectivities of local fishing gears, author gave conclusions on fishing effort and gear selectivity and propose
solutions in order to improve selectivity, environmentally and sustainable of gear types which are fishing in Van
Ninh district’s inshore areas, Khanh Hoa province
Từ khóa: Cường lực khai thác, tính chọn lọc của ngư cụ, Rạn Trào, Vạn Ninh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status