bộ giáo dục và đào tạo B TI CHNH
HC VIN TI CHNH
H TH OAN TRANG BO V QUYN LI CA NH U T TRấN
TH TRNG CHNG KHON VIT NAM
luận án tiến sĩ kinh tế
hà nội - 2015
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Nếu có gì
sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiêm.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN Hà Thị Đoan Trang
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NHÀ ĐẦU TƢ
TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1
1.1 Những vấn đề cơ bản về thị trƣờng chứng khoán và nhà đầu tƣ trên thị trƣờng
chứng khoán 1
2.3.1 Kết quả chấm điểm các tiêu chí đánh giá mức độ bảo vệ quyền lợi NĐT trên
TTCKVN 123
2.3.2 Những thành công và hạn chế của hoạt động bảo vệ quyền lợi NĐT trên
TTCKVN 128
2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng bảo vệ quyền lợi NĐT còn nhiều hạn chế 136
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO VỆ QUYỀN LỢI NHÀ ĐẦU TƢ TRÊN
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 146
3.1 Định hƣớng phát triển thị trƣờng chứng khoán và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ trên
thị trƣờng chứng khoán Việt Nam 146
3.1.1 Định hƣớng phát triển thị trƣờng chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011-2020 146
3.1.2 Định hƣớng bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ trên TTCK Việt Nam 148
3.2 Quan điểm và mục tiêu bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán
Việt Nam 150
3.2.1 Quan điểm bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán Việt nam 150
3.2.2 Mục tiêu bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ trên TTCK VN 152
3.3 Giải pháp bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam 153
3.3.1 Nhóm giải pháp dành cho các nhà quản lý 153
3.3.2 Nhóm giải pháp dành cho các DNNY 175
3.3.3 Nhóm giải pháp dành cho các công ty chứng khoán 179
3.3.4 Nhóm giải pháp dành cho các nhà đầu tƣ 180
3.4 Các giải pháp điều kiện và hỗ trợ 182
3.4.1 Ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị
trƣờng chứng khoán và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ 182
3.4.2 Tăng cung hàng hóa có chất lƣợng cho TTCK, đa dạng hóa sự lựa chọn cho nhà
đầu tƣ 183
3.4.3 Phát triển và đa dạng hóa các loại hình nhà đầu tƣ, nâng cao tính chuyên nghiệp
trong đầu tƣ chứng khoán 185
3.4.4 Nâng cao địa vị pháp lý cho UBCKNN 186
3.4.5 Tăng cƣờng hợp tác quốc tế 186
Doanh nghiệp niêm yết
HĐQT
Hội đồng Quản trị
HNX
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE
Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
IFC
Tổ chức Tài chính Quốc tế
NĐT
Nhà đầu tƣ
NHTM
Ngân hàng Thƣơng mại
QĐTCK
Quỹ đầu tƣ chứng khoán
QTCT
Quản trị công ty
SGDCK
Sở giao dịch chứng khoán
TTCK
Thị trƣờng chứng khoán
TTLKCK
Trung tâm Lƣu ký Chứng khoán
UBCKNN
Ủy ban Chứng khoán Nhà nƣớc
WB
Ngân hàng Thế giới
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với thị trƣờng tài chính nói chung và thị trƣờng chứng khoán nói
riêng, nhà đầu tƣ là một trong những thành phần quan trọng nhất. Nhà đầu tƣ
ngoài việc cung cấp vốn cho nền kinh tế còn đóng góp một phần quan trọng vào
việc duy trì và tăng tính thanh khoản cho thị trƣờng. Do đó, bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của các nhà đầu tƣ chính là việc làm cần thiết giúp phát triển thị trƣờng bền
vững, thị trƣờng chứng khoán có phát triển hay không là phụ thuộc phần lớn vào
khả năng tài chính, kiến thức, niềm tin và đạo đức kinh doanh của các nhà đầu
tƣ.
Vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ chứng khoán không còn xa lạ đối với
các nền kinh tế trên thế giới. Các nhà quản lý cũng nhƣ các nhà khoa học đều có
xu hƣớng công nhận rằng nhà đầu tƣ phải luôn đƣợc coi là trọng tâm của thị
trƣờng chứng khoán, tài sản và các quyền lợi gắn liền của nhà đầu tƣ phải đƣợc
tôn trọng và bảo vệ thì thị trƣờng chứng khoán mới có thể phát triển và ổn định.
Đối với thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, kể từ khi thành lập đến nay đã
đƣợc hơn một thập kỉ, đã đóng góp một phần không nhỏ cho phát triển kinh tế,
khơi thông dòng vốn cho sản xuất kinh doanh, tạo ra một môi trƣờng kinh doanh
năng động, một phƣơng tiện huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Điều quan
trọng là đã tạo đƣợc một môi trƣờng đầu tƣ hay một sân chơi lớn cho các nhà
đầu tƣ lớn nhỏ, trong và ngoài nƣớc.
Đối với mỗi loại hình nhà đầu tƣ lại có những đặc thù khác nhau, khả
năng tài chính khác nhau, trình độ hiểu biết khác nhau… dẫn tới nguy cơ bị xâm
hại lợi ích cũng khác nhau và khả năng tự bảo vệ khác nhau… Do đó, với mỗi
loại hình nhà đầu tƣ lại có những phƣơng thức bảo vệ khác nhau. Đối với nhà
đầu tƣ chuyên nghiệp, do khả năng tài chính và kiến thức đầu tƣ cao hơn các nhà
đầu tƣ không chuyên nghiệp, vì vậy họ có thể tự bảo vệ mình tốt hơn. Do đó,
trong phạm vi luận án sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi cho những
nhà đầu tƣ không chuyên nghiệp.
Reform”.
Một đóng góp rất quan trọng của công trình là nếu để thị trƣờng tài chính
phát triển tự do sẽ không phải là cách làm tốt để khuyến khích thị trƣờng phát triển, mà cần có một hành lang pháp lý bảo vệ các nhà đầu tƣ, có thể bằng toà án,
hoặc bằng chính các thành viên tham gia thị trƣờng.
Năm 2000, tác giả Olivier de La Grandville- Giáo sƣ Kinh tế tại Đại học
Geneva và Tham sƣ tại Chuyên ngành Khoa học Quản lý và Kỹ thuật tại Đại học
Stanford đã xuất bản cuốn “Bond Pricing and Portfolio Analysis: Protecting
Investors in the Long Run” (Giá trái phiếu và phân tích danh mục đầu tư: bảo
vệ các nhà đầu tư dài hạn).
Cuốn sách này đã cung cấp một cái nhìn toàn diện, cho phép tiếp cận các
phƣơng pháp quan trọng nhất trong định giá trái phiếu trong 20 năm qua. Với độ
chính xác cao dựa trên những nguyên tắc kinh tế cơ bản, Olivier de La
Grandville đã trình bày một khuôn khổ thống nhất cho sự hiểu biết các công cụ
định giá trái phiếu cơ bản. Trong đó sự đóng góp có giá trị nhất của cuốn sách là
lý luận chung có thể sử dụng để bảo vệ các nhà đầu tƣ chống lại các sự thay đổi
trong cơ cấu lãi suất.
Năm 2003, nhóm tác giả Rui Castro đến từ Khoa Kinh tế học trƣờng Đại
học Montreal Canada, Gian Luca Clementi đến từ Trƣờng Đại học New York
và Clenn MacDonald đến từ trƣờng Đại học Washington Mỹ đã cùng nghiên
cứu và đƣa ra công trình “Investor Protection, Optimal Incentives, and
Economic Growth”. Nghiên cứu này đƣa ra một vài mối liên quan thú vị giữa
bảo vệ nhà đầu tƣ và tăng trƣởng kinh tế. Họ đã chỉ ra rằng sự phân bổ rủi ro đƣa
đến các hợp đồng tài chính tối ƣu sẽ làm tăng mức độ bảo vệ nhà đầu tƣ.
Năm 2004, hai tác giả Arturo Bris và Christos Cabilis đến từ Trung tâm
Cuốn sách đã chỉ ra mức độ bảo vệ nhà đầu tƣ và vấn đề quản trị công ty
ở các nƣớc Mỹ Latin. Các dữ liệu trong cuốn sách có thể cho phép các nhà
nghiên cứu kết luận rằng các công ty tự áp đặt thực tiễn quản trị công ty tốt hơn,
hoặc đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Mỹ đang đƣợc định giá cao hơn
và có thể huy động vốn với chi phí thấp hơn. Mặc dù các kết quả này là đáng
khích lệ, nhƣng họ chỉ rõ một hƣớng đi thiếu vững chắc cho sự phát triển trong
tƣơng lai của thị trƣờng vốn các nƣớc Châu Mỹ Latin.
Năm 2008, tác giả Daniel Szentkuti ngƣời Hungary xuất bản cuốn sách
“Minority Shareholder Protection: Germany, France, and the United
Kingdom:A Comparative Overview ” (Bảo vệ cổ đông thiểu số, so sánh tổng
quan giữa Đức, Pháp và Anh). Trong cuốn sách này, tác giả đã chỉ ra 3 mô hình công ty luật chính ở
Châu Âu đối với vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số. Bắt đầu từ các phân tích tổng
thể của các công ty và các nhóm lợi ích khác nhau, nghiên cứu đề cập đến những
hiểu biết về kinh tế, xã hội bên cạnh việc bảo vệ cổ đông thiểu số. Dựa trên các
công cụ bảo vệ chủ yếu, tác giả đã tìm ra sự khác biệt giữa Đức, Pháp và Anh.
Trong từng giai đoạn hoạch định chính sách có giá trị cạnh tranh, các nhà lập
pháp chỉ có một con đƣờng hẹp để đáp ứng tất cả các lợi ích hợp pháp.
Năm 2009, tác giả Pavel Sevcik chuyên ngành Kinh tế Khoa học, trƣờng
Đại học Quebec Montreal, Canada đã đƣa ra nghiên cứu về “Financial
Contracts and the Political Economy of Investor Protection”. Trong nghiên
cứu này, tác giả đã đƣa ra lý thuyết về mức độ bảo vệ nhà đầu tƣ. Mức độ bảo vệ
thấp thƣờng đi kèm với các chi phí cao về tài chính do những vấn đề xấu phát
sinh giữa các nhà đầu tƣ và các doanh nghiệp. Tác giả phân tích mức độ bảo vệ
nhà đầu tƣ thế nào trong mô hình tích luỹ tƣ bản với các hợp đồng tài chính tối
trường cổ phiếu- Thực trạng và giải pháp”. Với đề tài này, tác giả đã phân tích
sâu sắc hệ thống lý luận về vấn đề bảo vệ nhà đầu tƣ kết hợp với những kinh
nghiệm quốc tế. Mặt khác tác giả cũng tìm hiểu thực trạng vấn đề bảo vệ nhà đầu
tƣ trên thị trƣờng cổ phiếu Việt Nam trong khoảng thời gian từ khi thị trƣờng
chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động đến năm 2004, tác giả tiến
hành điều tra khảo sát một số nhà đầu tƣ trên thị trƣờng lúc đó để đƣa ra những
kết luận nghiên cứu. Tuy nhiên, thị trƣờng chứng khoán Việt Nam lúc đó so với
ngày nay đã khác rất nhiều cả về quy mô thị trƣờng cũng nhƣ các yếu tố hạ tầng
cơ sở, kinh tế vĩ mô, hệ thống luật pháp Vào thời điểm đó, Việt Nam chƣa gia
nhập WTO, chƣa có Luật Chứng khoán, thị trƣờng mới chỉ có 26 công ty niêm
yết, khoảng 15.000 tài khoản cá nhân và 100 tài khoản của nhà đầu tƣ tổ chức.
Trong khi đó tính đến cuối năm 2014, toàn thị trƣờng đã có 1.240 loại CK
đƣợc niêm yết, trong đó có 671 loại cổ phiếu; 1 Chứng chỉ quỹ ETF và 567
loại trái phiếu. Tổng giá trị niêm yết cổ phiếu và chứng chỉ quỹ là 425 ngàn tỉ
đồng. Số lƣợng tài khoản giao dịch của nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc là hơn
1,34
1
triệu tài khoản.
Do sự khác biệt quá lớn nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế về
tính thời sự, chƣa cập nhật đƣợc những vấn đề mới nảy sinh từ năm 2004 đến
nay dẫn đến hệ thống giải pháp sẽ ít phù hợp với tình hình hiện tại. 1
http://motthegioi.vn/kinh-te/hnx-vinh-danh-6-cong-ty-chung-khoan-tieu-bieu-27556.html Năm 2012, tác giả Nguyễn Thị Thu Phƣơng đã bảo vệ thành công Luận
văn Thạc sĩ (chuyên ngành Luật kinh tế) với đề tài “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết”. Tác giả đã đề cập, đánh giá một
cách có hệ hống và đầy đủ về vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà
đầu tƣ trong các công ty niêm yết. Tuy nhiên, với chuyên ngành Luật kinh tế nên đề
tài đi sâu vào nghiên cứu bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ theo khía cạnh pháp lý và
không đề cập đến những góc độ khác liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu
tƣ. Mặt khác, năm 2012 Nghị định 108/NĐ-CP thay thế NĐ 85/NĐ-CP về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán chƣa ra đời, do đó những giải pháp
mà tác giả đƣa ra sẽ có hạn chế về sự phù hợp với tình hình hiện tại.
Ngoài ra, vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ ngày càng nhận đƣợc nhiều
sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà kinh tế cũng nhƣ các thành viên tham
gia thị trƣờng. Trên các tạp chí chuyên ngành, có rất nhiều bài báo đề cập đến
vấn đề này. Tuy nhiên dƣới dung lƣợng của một bài báo, lƣợng thông tin không
có nhiều và không mang tính tổng hợp, mỗi bài báo sẽ đề cập đến một vài khía
cạnh nhỏ của vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ và không đƣợc xâu chuỗi
thành một đề tài cụ thể. Nhƣng cũng không thể phủ nhận những phát hiện, những
quan điểm, những thông tin quan trọng mà những bài báo nhỏ lẻ đƣa ra đã phần
nào mang lại tiếng nói cho các nhà đầu tƣ và giúp cho vấn đề bảo vệ quyền lợi
nhà đầu tƣ chứng khoán của Việt Nam ngày càng hoàn thiện.
2.3 Tổng hợp các kết quả chính của các công trình
Nhìn chung, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ trên
TTCK trong thời gian gần đây đƣợc quan tâm nhiều nhất trong lĩnh vực Luật học,
các tác giả thƣờng khai thác vấn đề bảo vệ nhà đầu tƣ theo khía cạnh pháp lý. Có
thể nói, các công trình ở trong và ngoài nƣớc đã giải quyết đƣợc những vấn đề sau:
Đề tài sẽ tiếp cận vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ bằng những góc nhìn
mới mà các nghiên cứu trƣớc đây chƣa đề cập tới.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ
dựa trên các mối quan hệ của NĐT nhƣ: Doanh nghiệp niêm yết, công ty chứng
khoán, cơ quan quản lý và bản thân nhà đầu tƣ.
- Chấm điểm các tiêu chí để từ đó xác định đƣợc mức độ bảo vệ quyền lợi
nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
- Luận án đi sâu vào nghiên cứu các giải pháp, đặc biêt là công cụ tài
chính giúp bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ dựa trên kinh nghiệm của nƣớc ngoài. 3. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tƣ
trên thị trƣờng chứng khoán, trong đó tập trung làm rõ các quyền lợi và
nghĩa vụ của nhà đầu tƣ, những quyền lợi nào cần đƣợc bảo vệ cũng nhƣ các
phƣơng thức bảo vệ hiệu quả.
Lập ra đƣợc những tiêu chí đánh giá mức độ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ.
Từ đó tiến hành chấm điểm và đánh giá đƣợc mức độ bảo vệ quyền lợi nhà đầu
tƣ trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn, mục đích chính của luận án là tìm
ra những giải pháp hữu hiệu giúp bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ trên thị trƣờng
chứng khoán Việt Nam ngày một tốt hơn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận án sẽ tập trung nghiên cứu các biện pháp và công cụ để bảo vệ
quyền lợi nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán.
Phạm vi nghiên cứu là các nhà đầu tƣ cổ phiếu trên thị trƣờng chứng
khoán tập trung, đặc biệt là các nhà đầu tƣ không chuyên nghiệp. Do đó, nhà đầu
trƣờng chứng khoán.
Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới
về vấn đề bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tƣ một cách có chọn lọc, tác giả đã rút ra
đƣợc một số bài học thiết thực cho thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Thứ ba, dựa vào những thông tin đƣợc công bố công khai trên thị trƣờng,
các nguồn số liệu trên các báo cáo hoạt động của UBCKNN, báo cáo của một số
tổ chức quốc tế có uy tín , tác giả tiến hành lập thẻ điểm, chấm điểm và điều tra
khảo sát để thấy đƣợc mức độ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng
khoán Việt Nam hiện nay. Từ đó đánh giá đƣợc thực trạng bảo vệ quyền lợi nhà
đầu tƣ và những nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trong công tác bảo vệ
quyền lợi nhà đầu tƣ tại Việt Nam hiện nay.
Thứ tƣ, trên cơ sở định hƣớng phát triển thị trƣờng chứng khoán đến
năm 2020 và quan điểm, mục tiêu bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ, xuất phát từ
những nguyên nhân đƣợc nêu ra ở phần thực trạng. Luận án đã cung cấp
một số giải pháp hữu ích cho vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ trên thị
trƣờng chứng khoán Việt Nam. Ngoài những giải pháp mang tính pháp lý,
luận án còn đề cập đến những giải pháp tài chính và một số giải pháp khác
giúp bảo vệ quyền lợi nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam
ngày một hoàn thiện. 8. Kết cấu của luận án:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chƣơng nhƣ sau:
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NHÀ ĐẦU TƢ TRÊN THỊ
TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI NHÀ ĐÂU TƢ TRÊN
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
đổi” [23]. Nhƣng xét về mặt bản chất thì đây là quá trình vận động của tƣ bản,
chuyển từ tƣ bản sở hữu sang tƣ bản kinh doanh. Nhƣ vậy có thể nói, TTCK là
nơi các nhà đầu tư tiến hành các hoạt động mua, bán các loại chứng khoán, hay
nói cách khác TTCK là nơi trao đổi các nguồn tài chính trung và dài hạn.
1.1.1.2 Hàng hoá trên thị trường chứng khoán
Hàng hóa đƣợc giao dịch trên TTCK là các loại cổ phiếu, trái phiếu và
một số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm. Hay nói cách khác, hàng
hóa đƣợc mua bán, trao đổi trên TTCK là các loại chứng khoán. Trong đó 2
“Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở
hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán đƣợc thể
hiện dƣới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử” [14] bao
gồm các loại sau đây:
Cổ phiếu(shares) : Là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của ngƣời sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
Ngƣời nắm giữ cổ phiếu còn đƣợc gọi là “cổ đông”. Có các loại cổ phiếu nhƣ
sau:
Cổ phiếu thường hay cổ phiếu phổ thông là chứng chỉ xác nhận quyền sở
hữu của nhà đầu tƣ đối với tổ chức phát hành và xác nhận cho phép nhà đầu tƣ
đƣợc hƣởng các quyền lợi thông thƣờng của công ty. Các quyền lợi thông
thƣờng bao gồm: Quyền đƣợc hƣởng cổ tức; Quyền đƣợc mua cổ phiếu mới;
Quyền bỏ phiếu.
Cổ phiếu ưu đãi: Cổ phiếu ƣu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu
trong một công ty, đồng thời cho phép ngƣời nắm giữ loại cổ phiếu này đƣợc
hƣởng một số quyền lợi ƣu tiên hơn so với cổ đông phổ thông. Có các loại cổ
Thị trường thứ cấp là nơi diễn ra các hoạt động mua đi bán lại các chứng
khoán đã đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp. Thị trƣờng thứ cấp đảm bảo tính
thanh khoản cho các chứng khoán đã đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp.
- Căn cứ vào phương thức tổ chức giao dịch, TTCK được chia thành
TTCK tập trung và TTCK phi tập trung:
TTCK tập trung là thị trƣờng mà việc giao dịch, mua bán các chứng khoán
đƣợc thực hiện có tổ chức, có địa điểm giao dịch cố định, chứng khoán đƣợc
mua bán là những chứng khoán đã đƣợc niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán.
TTCK phi tập trung (còn gọi là thị trƣờng OTC) là thị trƣờng mà việc giao
dịch, mua bán các chứng khoán đƣợc thực hiện phân tán ở nhiều địa điểm khác
nhau, không cố định.
Ngoài ra, căn cứ vào hàng hoá trên thị trường, TTCK được phân thành
các thị trường: Thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường chứng chỉ
quỹ
1.1.1.4 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Trên thị trƣờng chứng khoán, các chủ thể tham gia có thể đƣợc chia thành
các nhóm nhƣ sau: Nhà phát hành, nhà đầu tƣ, các tổ chức kinh doanh trên
TTCK và các tổ chức có liên quan đến TTCK. 4
Nhà phát hành: Là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua
TTCK, là ngƣời cung cấp hàng hóa cho TTCK. Bao gồm:
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu
chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phƣơng.
- Công ty (doanh nghiệp) là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công
5
nhuận. Tuy nhiên, các ngân hàng chỉ đƣợc đầu tƣ vào chứng khoán trong
những điều kiện nhất định nhằm bảo vệ ngân hàng trƣớc những rủi ro về giá,
đảm bảo an toàn trong kinh doanh. Một số nƣớc cho phép ngân hàng thành
lập các công ty con độc lập để kinh doanh chứng khoán và thực hiện nghiệp
vụ bảo lãnh phát hành (trong đó có Việt Nam). Ngoài ra, một số ngân hàng liên
kết với các công ty chứng khoán quản lý tiền của các nhà đầu tƣ phục vụ cho
mục đích mua bán chứng khoán trên thị trƣờng.
- Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán: Là các công ty thực hiện
nghiệp vụ quản lý các quỹ đầu tƣ chứng khoán, trong đó “Quỹ đầu tƣ chứng
khoán là một tập hợp những khoản tiền vốn từ những ngƣời đầu tƣ đƣợc hình
thành từ việc phát hành các chứng chỉ quỹ đầu tƣ để đầu tƣ vào các công cụ trên
thị trƣờng tài chính” [15]. Hay nói cách khác, quỹ đầu tƣ đƣợc hình thành do sự
đóng góp của các nhà đầu tƣ cá nhân tạo thành một quỹ, theo đó các công ty
quản lý quỹ sẽ tiến hành các hoạt động đầu tƣ trên TTCK theo một danh mục
đầu tƣ nhất định.
Các tổ chức có liên quan đến TTCK
Để đảm bảo duy trì các hoạt động của TTCK, không thể thiếu các tổ chức
này, bao gồm các cơ quan quản lý Nhà nƣớc, Sở giao dịch chứng khoán, Tổ
chức lƣu ký, thanh toán bù trừ chứng khoán…
Cơ quan quản lý Nhà nước: Có nghĩa vụ đảm bảo cho các hoạt động của
TTCK diễn ra theo đúng những quy định của pháp luật. Cơ quan này có thể có
nhiều tên gọi khác nhau nhƣ: Hội đồng chứng khoán quốc gia; Ủy ban chứng
khoán quốc gia; Ủy ban Chứng khoán Nhà nƣớc…).
- Sở giao dịch chứng khoán: Là một pháp nhân đƣợc thành lập theo quy
định của pháp luật, thực hiện việc tổ chức giao dịch chứng khoán cho các chứng
khoán của tổ chức phát hành đủ điều kiện niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng
khoán. Tại đây, các hoạt động mua, bán chứng khoán đƣợc diễn ra hợp pháp,
thuận tiện tùy thuộc vào mức độ chuyên nghiệp và cách thức tổ chức của Sở
Giao dịch Chứng khoán. .
động trên TTCK tạo cơ sở cho các tổ chức tự quản trực tiếp thực hiện các chứng
năng điều hành và giám sát thị trƣờng. Thông thƣờng các cơ quan này là Uỷ ban
Chứng khoán và các bộ ngành có liên quan nhƣ: Bộ tài chính (quản lý các vấn đề
liên quan đến kế toán, kiểm toán ); Ngân hàng Nhà nƣớc (quản lý các ngân
hàng thƣơng mại trong kinh doanh chứng khoán ); Bộ tƣ pháp (quản lý các vấn
đề xử lý các vi phạm trên TTCK ).