Lưu Hùng
82
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM
CỦA BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM (1996 - 2012)
LƯU HÙNG
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Theo Quyết định số 689/TTg ngày 24/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ, Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam (DTHVN) chính thức được thành lập, trực thuộc Trung tâm
Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam) và đặt trong hệ thống bảo tàng quốc gia của Việt Nam. Trong quá trình xây dựng
và phát triển, tuy chức năng và nhiệm vụ của Bảo tàng DTHVN đã được chỉnh lý vài
lần, nhưng chức năng nghiên cứu về các dân tộc luôn được khẳng định và đặt ở vị trí thứ
nhất. Hiện nay các chức năng của Bảo tàng DTHVN được quy định như sau: “nghiên
cứu khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, phục chế hiện vật và tư liệu về các dân tộc;
tổ chức trưng bày, trình diễn và những hình thức hoạt động khác, nhằm giới thiệu, phổ
biến và giáo dục về những giá trị lịch sử, văn hoá của các dân tộc trong và ngoài nước;
cung cấp tư liệu nghiên cứu về các dân tộc cho các ngành; đào tạo cán bộ nghiên cứu,
nghiệp vụ, quản lý về nhân học và bảo tàng học” (Quyết định số 1595/QĐ-KHXH ngày
26/11/2010 của Chủ tịch Viện KHXHVN về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo tàng DTHVN).
Là một bảo tàng, nên nếu so với những cơ quan nghiên cứu chuyên ngành như
Viện Dân tộc học, việc nghiên cứu về các dân tộc của Bảo tàng DTHVN vừa có những
điểm chung, vừa có một số yêu cầu và đặc điểm riêng. Có thể khẳng định rằng:
“nghiên cứu là rất cần thiết đối với Bảo tàng DTHVN, để phục vụ từ sưu tầm cho đến
trưng bày hay trình diễn. Mỗi cuộc trưng bày, trình diễn cũng như mỗi sản phẩm khác
của Bảo tàng, muốn thành công đều phải dựa trên nghiên cứu và sử dụng các kết quả
nghiên cứu - sưu tầm” (Lưu Hùng, 2011, tr. 84). Suốt những năm qua, trong lĩnh vực
nghiên cứu đang đề cập ở đây, Bảo tàng DTHVN đã xác định và thực hiện theo một
người ở Việt Nam của Bảo tàng DTHVN, một cơ quan văn hoá và khoa học về các dân
tộc. Cũng cần nói thêm, tuy đây là bài viết về tình hình nghiên cứu, nhưng chỉ đơn thuần
đề cập trên cơ sở số lượng các công trình và ấn phẩm, hoàn toàn không đi vào nội dung
hay xem xét về chất lượng của các nghiên cứu đó.
Nếu sắp xếp một cách ước định các công trình nghiên cứu và ấn phẩm (từ đây gọi
chung là công trình) dựa trên ba tiêu chí: tộc người, khu vực, vấn đề, thì có thể thấy một
bức tranh tổng thể như sau:
1. Nghiên cứu theo tộc người
1.1. Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường
Có 3 dân tộc được nghiên cứu, với 62 công trình, chiếm hơn 26,7% trong tổng số
công trình được tập hợp. Cụ thể như sau:
- Người Việt: 59 công trình (95,16% tổng số của nhóm ngôn ngữ Việt - Mường).
- Người Mường: 2 công trình (3,22% trong nhóm này).
- Người Thổ: 1 công trình (1,61% trong nhóm này).
1.2. Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me
Có 9 dân tộc được nghiên cứu, với 30 công trình, chiếm 12,93% trong tổng số
công trình được tập hợp. Cụ thể như sau:
- Người Cơ-tu: 8 công trình (26,66% tổng số của nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me).
1
Như đã trình bày trong lời giới thiệu của số chuyên đề, do dung lượng có hạn nên Tạp chí Dân tộc học không
thể đăng tải phần Phụ lục của bài viết nhằm thống kê số công trình nghiên cứu của các đơn vị. Phụ lục đó sẽ
được công bố cùng bài viết này trên website của Viện Dân tộc học.
2
Ngoài ra, còn có khá nhiều công trình nữa tham gia các đề tài, chương trình nghiên cứu hoặc hội thảo, và đặc
biệt là có rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như: Dân tộc & Thời đại, Văn nghệ dân tộc & miền núi, Du
lịch Việt Nam, Nghiên cứu Phật học, Xưa & nay Lu Hïng
Có 4 dân tộc được nghiên cứu, với 17 công trình, chiếm 7,32% trong tổng số công
trình đã được tập hợp. Cụ thể như sau:
- Người Phù Lá: 6 công trình (35,29% tổng số của nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến).
Thông báo Dân tộc học năm 2012
85
- Người Hà Nhì: 4 công trình (23,5% trong nhóm này).
- Người Si La: 4 công trình (23,5% trong nhóm này).
- Người La Hủ: 3 công trình (17,65% trong nhóm này).
1.7. Nhóm ngôn ng
ữ Malayo
- Polynesia
Có 4 dân tộc được nghiên cứu, với 18 công trình, chiếm 7,76% trong tổng số công
trình được tập hợp. Cụ thể như sau:
- Người Gia-rai: 7 công trình (38,89% tổng số của nhóm ngôn ngữ Malayo -
Polynesia).
- Người Chăm: 5 công trình (27,77% trong nhóm này).
- Người Ê-đê: 4 công trình (22,2% trong nhóm này).
- Người Chu-ru: 2 công trình (hơn 11% trong nhóm này).
Như vậy, tổng số có 232 công trình nghiên cứu theo tộc người, đề cập đến 29 dân
tộc thuộc 7 nhóm ngôn ngữ. Trong số 29 dân tộc đó, có thể phân loại như sau:
- 6 dân tộc thuộc loại có 1 công trình
- 4 dân tộc thuộc loại có 2 công trình
- 4 dân tộc thuộc loại có 3 công trình
- 3 dân tộc thuộc loại có 4 công trình
- 3 dân tộc thuộc loại có 5 công trình
- 2 dân tộc thuộc loại có 6 công trình
- 1 dân tộc thuộc loại có 7 công trình
- 1 dân tộc thuộc loại có 8 công trình
- Nhóm ngôn ngữ Kađai: 1/4 dân tộc
- Nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao: 3/3 dân tộc
- Nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến: 4/6 dân tộc
- Nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesia: 4/5 dân tộc
2. Nghiên cứu theo vùng
Tổng cộng có 233 công trình, nghiên cứu trên cả 5 vùng lãnh thổ.
2.1. Vùng đồng bằng Bắc Bộ: Có 35 công trình, chiếm hơn 15% tổng số công
trình nghiên cứu của cả 5 vùng. Những nghiên cứu ở vùng này đều tập trung vào
người Việt.
2.2. Vùng miền núi miền Bắc: Có 129 công trình, chiếm 55,36% tổng số công
trình nghiên cứu của cả 5 vùng. Những nghiên cứu ở vùng này tập trung vào 16 dân
tộc: Thái (37 công trình), Hmông (20 công trình), Dao (25 công trình), Tày (11 công
trình), Phù Lá (6 công trình), Lào (5 công trình), Hà Nhì (4 công trình), Si La (4 công
trình), La Hủ (3 công trình), Nùng (3 công trình), Khơ-mú (3 công trình), Mường (3
công trình), Pà Thẻn (2 công trình), Thổ (1 công trình), Giáy (1 công trình), La Chí (1
công trình).
2.3. Vùng ven biển miền Trung: Có 15 công trình, chiếm 6,43% tổng số công
trình nghiên cứu của cả 5 vùng. Những nghiên cứu ở vùng này tập trung cả vào hai dân
tộc là Việt và Chăm.
Thông báo Dân tộc học năm 2012
87
2.4. Vùng miền núi Bắc Trung Bộ & Tây Nguyên: Có 49 công trình, chiếm hơn
21% tổng số công trình nghiên cứu của cả 5 vùng. Trong đó, 11 công trình đi vào những
vấn đề chung trong vùng, còn 37 công trình khác nghiên cứu riêng biệt về 11 dân tộc: Cơ-
tu (6 công trình), Gia-rai (7 công trình), Giẻ-Triêng (6 công trình), Mnông (4 công trình),
Ba-na (3 công trình), Bru-Vân Kiều (2 công trình), Ê-đê (2 công trình), Chu-ru (2 công
trình), Xơ-đăng (1 công trình), Co (1 công trình), Tà-ôi (1 công trình).
2.5. Vùng đồng bằng Nam Bộ: Có 5 công trình, chiếm 2,15% tổng số công
88
+ Tín ngưỡng - tôn giáo: 44 công trình (62,85% số công trình về văn hoá tinh thần).
+ Tri thức dân gian: 12 công trình (17,14% số công trình về văn hoá tinh thần).
+ Lễ hội: 6 công trình (8,57% số công trình về văn hoá tinh thần).
+ Trò chơi dân gian: 3 công trình (gần 4,3% số công trình về văn hoá tinh thần).
+ Nghệ thuật dân gian: 3 công trình (gần 4,3% số công trình về văn hoá tinh thần).
+ Hoa văn: 1 công trình (1,43% số công trình về văn hoá tinh thần).
3.2. Nghiên cứu phát triển
Có 47 công trình nghiên cứu thuộc mảng này, chiếm khoảng 17,53% tổng số
công trình của cả hai mảng, bao gồm 5 vấn đề sau:
- Vấn đề đô thị hoá: 3 công trình (6,38% số công trình nghiên cứu phát triển).
- Vấn đề môi trường & tài nguyên: 5 công trình (10,63% số công trình nghiên
cứu phát triển).
- Vấn đề bảo tồn & biến đổi: 32 công trình (68,08% số công trình nghiên cứu
phát triển).
- Vấn đề dân số, dân cư: 2 công trình (4,25% số công trình nghiên cứu phát triển).
- Vấn đề chính sách & cán bộ: 5 công trình (10,64% số công trình nghiên cứu
phát triển).
Vài nhận xét
- Thứ nhất, số lượng công trình nghiên cứu không đều giữa các tộc người. Có 5 tộc
người được chú ý nhiều hơn cả (Việt, Thái, Dao, Hmông và Tày), chiếm khoảng 65,5%
tổng số công trình theo tộc người. Nếu tính từ mức trên 5 công trình thì có 9 tộc người
(thêm các tộc Cơ-tu, Gia-rai, Giẻ-Triêng và Phù Lá), chiếm khoảng 77,15% tổng số
công trình. Trong khi đó, có 10 tộc người chỉ mới được nghiên cứu 1-2 công trình và có
25 tộc người chưa được đề cập với tư cách những công trình riêng biệt. Phần lớn các tộc
người dân số ít chưa được chú ý tới trong nghiên cứu chuyên sâu.
- Thứ hai, số lượng công trình nghiên cứu không đều giữa các vùng miền. Phần
lớn các nghiên cứu tập trung vào 3 khu vực (miền núi miền Bắc, miền núi Bắc Trung Bộ
& Tây Nguyên, đồng bằng Bắc Bộ), trong khi hai vùng ven biển miền Trung và đồng
bằng Nam Bộ rất ít được chú ý tới: cả hai vùng này chỉ chiếm khoảng 8,58% tổng số
về từng dân tộc hay từng vùng, vừa thiếu những người chuyên sâu về từng lĩnh vực
nghiên cứu trong Dân tộc học.
- Cuối cùng, những thực tế trên đây cho thấy việc nghiên cứu về các tộc người của
Bảo tàng DTHVN trong 17 năm qua (1996 - 2012) không được tổ chức và thực hiện theo
một kế hoạch tổng thể nào cả, mà chủ yếu tuỳ thuộc từng người nghiên cứu hay nhóm
nghiên cứu, liên quan đến cơ hội nghiên cứu, mà đó thường là dự án, đề tài, luận án.
Tài liệu tham khảo
1. Lưu Hùng (2011), “Một cái nhìn tổng quan về chặng đường nghiên cứu - sưu tầm
của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 15 năm qua (1995 - 2010)”, trong: Các công trình nghiên
cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Tập 7, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
(Tham khảo thêm Phụ lục 2) Lu Hïng90
PHỤ LỤC 2
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU & ẤN PHẨM
VỀ CÁC TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM
CỦA BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM
(1996 - 2012)
Để tiện theo dõi và đáp ứng yêu cầu phân tích trong bản danh mục này, các công
trình nghiên cứu hay ấn phẩm được sắp xếp một cách ước định thành ba phần riêng biệt
theo ba tiêu chí:
1- Theo tộc người
2- Theo vùng
3- Theo vấn đề
Thêm nữa, trong mỗi phần đó lại có sự sắp xếp nhất quán theo trình tự thời gian,
8. "Thờ cúng Đức Thánh Trần của người Việt ở Trung Quốc – một tín ngưỡng độc
đáo cố kết cộng đồng hải ngoại". Vũ Hồng Thuật, hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ
4, Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, Hà Nội, 26-28/11/2012.
9. "Về cộng đồng người Bồ Lô ở vùng ven biển Hà Tĩnh". Nguyễn Duy Thiệu, tạp
chí Nguồn sáng dân gian, số 4/2011.
10. "Bước đầu tìm hiểu các loại hình bùa chú của người Việt". Vũ Hồng Thuật,
trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb
KHXH, H, 2011, tr. 403-426.
11. "Hợp tác xã thuốc dân tộc Chùa Bộc với việc bảo tồn tri thức y dược học cổ
truyền". Đỗ Thị Thu Hiền, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr. 439-462.
12. Tìm hiểu vai trò của dòng họ người Việt ở một làng Bắc Bộ (Nghiên cứu
trường hợp làng Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội). Phạm Minh
Phúc, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3/2011.
13. "Luận bàn về một số đặc điểm văn hóa bùa chú của người Việt ở đồng bằng Bắc
Bộ, Việt Nam". Vũ Hồng Thuật, kỷ yếu hội thảo quốc tế Lịch sử văn hóa cư dân Bách
Việt trong bối cảnh văn hóa, lịch sử của các cư dân đảo Hải Nam, tại TP Hải Khẩu, tỉnh
Hải Nam, Trung Quốc; Nxb Sư phạm Hải Nam, 2011, tr. 431-440, tiếng Trung.
14. "Thủ sắc đường làng Văn Sơn (Thạch Đỉnh, Thạch Hà, Hà Tĩnh)". Nguyễn
Duy Thiệu, tạp chí Di sản văn hoá, số 3/2010.
15. "Nghiên cứu giới thiệu ngôi nhà người Việt trong khu trưng bày ngoài trời của
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam". Vũ Thị Thanh Tâm và nhóm nghiên cứu, thuộc nhiệm
vụ cấp Bộ Nghiên cứu giới thiệu ngôi nhà người Việt, Chăm, Êđê trong khu trưng bày
ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, 2009-2010.
16. "Nhận diện văn hoá phi vật thể của cộng đồng cư dân phố cổ Hà Nội". Võ Mai
Phương, trong Bảo tàng và nhân học đô thị, Nxb Từ điển bách khoa, H, 2009, tr. 286-302.
17. "Người Việt (Kinh) vùng ven biển miền Trung hội nhập cùng biển cả: trường
hợp nghiên cứu ở Ninh Thuận và Bình Thuận". Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Nguồn sáng
dân gian, số 3/2009.
18. "The Van chai and its role in the hierarchy of fisheries administration in
67, số 2/2008, tr. 237-255.
29. "Nghề chạm khắc gỗ ở ấp Long Định, xã Long Điền A, huyện Chợ Mới, An
Giang". Vũ Thị Thanh Tâm, trong Nam Bộ: Đất và Người, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh,
2007, tr. 247-256.
30. "Cộng đồng người Việt ở Lào, sinh tồn và giữ gìn bản sắc". Nguyễn Duy
Thiệu, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2007.
31. "Người Việt (Kinh) vùng ven biển miền Trung hội nhập cùng biển cả". Nguyễn
Duy Thiệu, tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 3/2007.
32. "Suy ngẫm về văn hoá biển ở Việt Nam". Nguyễn Duy Thiệu, tạp chí Di sản
văn hoá, số 1/2007.
33. "Thực trạng nghề làm giấy dó ở Đống Cao, Bắc Ninh". Vũ Hồng Thuật, hội
thảo quốc tế tại Vân Nam - Trung Quốc, tháng 9/2005.
Thông báo Dân tộc học năm 2012
93
34. “Phụ nữ Đại Yên với nghề thuốc nam”. Vũ Thị Hà, trong Các công trình nghiên
cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr. 150-165.
35. "From Do paper to Dong Ho Folk prints". Vũ Hồng Thuật, trong The
Preservation and Exhibition of East Asean Culture in Relation to Folk Craft Aesthetics,
Tokyo, 2003, tr. 61-68. "Từ giấy dó đến tranh Đông Hồ - một hành trình văn hoá", tạp
chí Thông tin khoa học xã hội, số 1/2005, tr. 59- 65.
36. "Nghề sơn ở làng Ngọ Trang". Vũ Thị Thanh Tâm, trong Các công trình nghiên
cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H, 2005, tr. 223-245.
37. "Vì sao người dân xã Sơn Kim vẫn tiếp tục vào rừng săn bắt thú". Vũ Hồng
Thuật, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb
KHXH, H, 2005, tr. 297-314.
38. "Nghề rèn làng Đa Sĩ, xã Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Tây". Vũ Thị Thanh Tâm,
đề tài cấp viện, 2004.
39. “Nghề sơn mài làng Hạ Thái”. Hoàng Thị Tố Quyên, trong Các công trình
49. “Nghề nón làng Chuông”. Phạm Minh Phúc, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam
Á, số 1/2001.
50. “Vài nét về gia phả và giá trị giáo dục cộng đồng của nó”. Phạm Minh Phúc, hội
thảo Gia phả Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại tại Bảo tàng DTHVN, tháng 5/2001.
51. "Lễ hội làng Trám". Vũ Hồng Thuật, trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt
Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, H, 2000, tr. 981- 987.
52. "Các nghi lễ liên quan đến ngôi nhà người Việt ở Triệu Sơn, Thanh Hoá". Vũ
Hồng Thuật, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T
2), Nxb KHXH, H, 2000.
53. “Tác động của sự đổi mới đối với đời sống kinh tế - xã hội của Mông Phụ,
Đường Lâm”. Bế Viết Đẳng, tạp chí Dân tộc học, số 4/1999.
54. "L'Environnement végétal à Duong Lâm". Võ Thị Thường, trong Mong phu,
un village du delta du Fleuve Rouge (Vietnam), Nguyễn Tùng chủ biên, L'Harmattan,
Pari, 1999, tr. 227-256. ["Môi trường thực vật ở Đường Lâm", trong Mông Phụ - một
làng ở đồng bằng sông Hồng, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2003, tr. 177-205].
55. “Tìm hiểu diều sáo truyền thống”. Nguyễn Tôn Kiểm, trong Các công trình
nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 217-221.
56. “Nông nghiệp Việt, một đối tượng nghiên cứu – sưu tầm cấp bách và hấp dẫn”.
Nguyễn Anh Ngọc, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 89-105.
57. "Đôi điều về nghi lễ thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ". Vũ Hồng
Thuật, tạp chí Dân tộc học, số 2/1999, tr. 39-45.
58. "Hiện vật cúng Mụ của người Việt trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam". Vũ Hồng Thuật, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr 360-383.
59. “Đôi nét về văn hoá của người Việt ở quần đảo Lý Sơn”. Mai Thanh Sơn (bút
danh Nguyễn Sơn Trà), trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 271-282.
2. Người Mường
1. “Thế giới quan và vai trò của ông mo trong tang lễ của người Mường ở Hoà
Tây Nguyên”. Lưu Hùng, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam" (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr. 13-41.
2. Người Gié-Triêng
1. Nhà ở của người Triêng ở Việt Nam. Phạm Văn Lợi, Nxb Chính trị quốc gia, H,
2010, 295 trang.
2. “Một số quy cách cổ truyền trong làm và dựng nhà ở của người Triêng tỉnh Kon
Tum”. Phạm Văn Lợi, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam (T 4), Nxb KHXH, H, 2004, tr. 23-41.
3. “Kết cấu bộ khung nhà ở của người Triêng tỉnh Kon Tum”. Phạm Văn Lợi, tạp
chí Dân tộc học, số 4/2001, tr. 49-60.
4. “Nghề gốm Giẻ-Triêng”. Phạm Văn Lợi, tạp chí Dân tộc học, số 2/2000, tr. 18-25. Lu Hïng96
5. “Một vài nhận xét về nghề dệt truyền thống của người Triêng ở Quảng Nam”.
Phạm Văn Lợi, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
(T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 135-149.
6. “Nhà ở cổ truyền của người Bnoong”. Lưu Hùng, tạp chí Dân tộc học, số
1/1999, tr 42-49.
3. Người Mnông
1. “Người Mnông trước tình trạng suy giảm tài nguyên thiên nhiên (qua tìm hiểu ở
một số làng)”. Lưu Hùng, tạp chí Dân tộc học, số 5/2002, tr. 10-16.
2. “Kết cấu bộ khung nhà ở của người Triêng tỉnh Kon Tum”. Phạm Văn Lợi, tạp
chí Dân tộc học, số 4/2001, tr. 49-60.
3. “Vài nét về truyền thống quản lý và bảo vệ rừng của người Mnông (qua tìm hiểu
ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk)”. Lưu Hùng, tạp chí Dân tộc học, số 3/2001, tr 6-15.
4. “Người Êđê và Mnông ở Đắc Lắc - truyền thống và những biến đổi”. Phạm Văn
Vietnamse Studies, số 1+2/2008, tr. 67-72.
8. Người Co
1. “Vài nét về tín ngưỡng của người Co”. Lưu Hùng, tạp chí Dân tộc học, số
1/2004, tr. 13-21.
9. Người Xơđăng
1. “Góp phần tìm hiểu nghề rèn của người Tơđrá”. Lưu Hùng, tạp chí Dân tộc học,
số 4/1997, tr 7-17.
III. Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái
1. Người Thái
1. "Ứng phó với biến đổi khí hậu qua kinh nghiệm dân gian của người Thái ở
Nghệ An". Vi Văn An, hội thảo quốc tế Bảo tàng với biến đổi khí hậu toàn cầu , Huế,
6/2012.
2. "Tái định cư và sự thay đổi sinh kế của người Thái ở bản Mà, xã Thanh Hương,
huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An". Vi Văn An đồng tác giả, tạp chí Dân tộc học, số
2/2012, tr. 33-49.
3. "Tập quán xin và nhận con nuôi của người Thái ở xã Xuân Lẹ, huyện Thường
Xuân, tỉnh Thanh Hoá". Vũ Phương Nga, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng
Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr. 427-438.
4. "Góp thêm tư liệu về quan hệ nguồn gốc của các nhóm Thái ở Lào và người
Thái Việt Nam". Vi Văn An, hội thảo quốc tế Nghiên cứu, đào tạo nhân học ở Việt Nam
trong quá trình chuyển đổi và hội nhập quốc tế, H, 20/10/2010.
5. "Tri thức dân gian của người Thái trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước". Vi
Văn An, tạp chí Dân tộc học, số 1/2008, tr. 15-24.
6. "Displaying the Xặng bók Tree of the Thái People". Võ Thị Thường, tạp chí
Asian Ethnology, số 2/2008, tr. 287-304.
7. “Nghề dệt của người Thái ở Việt Nam”. Vi Văn An đồng tác giả, trong Đồ
vải của người Thái ở tiểu vùng sông Mê Công: tiếp nối và biến đổi, Bảo tàng
DTHVN, 2006, tr. 75-92.
8. “Các giá trị trong văn hoá truyền thống của người Thái Bắc Trung Bộ”. Vi Văn
An, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb
Phạm Văn Dương, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam,
Nxb Văn hóa – Thông tin, H, 2002, tr. 230-240.
17. "Một số tập quán trong sinh đẻ và nuôi con nhỏ của người Thái Trắng ở
Mường So". La Công Ý, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ
Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2002, tr. 449-452.
18. "Nghề gốm của người Thái ở Mường Chanh". La Công Ý, tạp chí Dân tộc
học, số 6/2002.
19. "Lễ cha chiêng của người Thái Mai Châu, Hoà Bình (Việt Nam)". Võ Thị
Thường, trong Văn hóa và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam,
Nxb. Văn hoá – Thông tin, H., 2002, tr. 583-595.
20. "Médecine populaire: Rites et thérapeutie chez les Thai de Mai Châu (Việt
Nam)". Thèse de doctorat, soutenue en 2002 à l’Université Paris 10 - Nanterre ["Y học
dân gian: nghi lễ và liệu pháp chữa trị ở vùng người Thái Mai Châu, Hòa Bình, Việt
Nam". Võ Thị Thường, luận án tiến sĩ, ĐH Tổng hợp Pari 10 - Nanterre, Pháp, 2002,
450 trang].
Thông báo Dân tộc học năm 2012
99
21. "Những biến đổi trong các truyền thống xã hội của người Thái ở huyện Quỳ
Châu". Mai Thanh Sơn, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái
ở Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H, 2002, tr. 192-199.
22. "Flower tree of the Thai Yo (Thanh Hóa, Việt Nam)". Võ Thị Thường đồng tác
giả, Altars and Shrines of the World, Museum Kunst Palast, Dusseldort, 9/2001-1/2002,
tr. 116-119. ["Cây hoa nghi lễ của người Tày Dọ ở Thanh Hóa, Việt Nam", trong
catalogue trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật đương đại của Đức, từ 9/2001 đến 1/2002,
tiếng Đức].
23. “Tính thống nhất và tính khác biệt về trang phục của phụ nữ Thái ở Việt Nam”.
Vi Văn An, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4/2001, tr 74-80.
24. “Góp phần tìm hiểu về hai nhóm Thái Đen và Thái Trắng ở miền tây Nghệ
100
phòng chữa bệnh tật của người Thái Mai Châu, Hòa Bình, Việt Nam", báo cáo tại hội
thảo quốc tế ở Chiềng Mai, Thái Lan, 1998].
34. “Về tên gọi và lịch sử cư trú của các nhóm Thái ở miền tây Nghệ An”. Vi Văn
An, trong Văn hoá và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1998, tr.
318-331.
35. “Về quá trình hình thành các tổ chức mường của người Thái ở miền tây Nghệ
An”. Vi Văn An, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2/1998, tr 50-55.
36. “Structure of Social organization and land owneship of the Thai people in the
Highway N
0
7 of Nghe An province”. Vi Văn An, hội nghị quốc tế Thái học lần thứ 6,
Chiềng Mai, Thái Lan, tháng 10/1996.
37. “Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Thái ở miền núi Nghệ An”. Vi Văn
An, tạp chí Văn hóa dân gian, số 2/1996, tr. 61-68.
2. Người Tày
1. Đến với người Tày và văn hoá Tày. La Công Ý, Nxb KHXH, H, 2010, 415 trang.
2. "Đàn tính – The Marvelous and Sacred Musical Instrument of the Tày People".
La Công Ý, tạp chí Asian Ethnology, vol. 67, số 2/2008, tr. 271-286.
3. "Nghệ thuật rối Tày: Hành trình qua thời gian và hành trình của một nhà dân
tộc học trong việc tìm kiếm để giới thiệu về văn hoá người Tày". La Công Ý, trong
Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 5), Nxb KHXH, H,
2005, tr. 273-296.
4. "The perilous juorney of the then spirit army: A shamanic ritual of the Tay
people". La Công Ý, trong Vietnam: Journeys of Body, Mind and Spirit (Nguyễn Văn
Huy & Lauren Kedall chủ biên), Nxb Berkely, ĐH California, Hoa Kỳ, Bảo tàng Lịch
sử tự nhiên Hoa Kỳ và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, 2003, tr. 238-251.
5. "Cây đàn tính trong đời sống của người Tày ở Lạng Sơn". La Công Ý & Lê Đức
Hùng, trong Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb
4. "Tang ma của người Lào (qua điều tra tại xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn,
tỉnh Hà Tĩnh)". Vũ Hồng Thuật, trong Thông báo Văn hoá dân gian, Nxb KHXH, H,
2002, tr 487-495.
5. "Môi trường của cộng đồng người Việt & Lào ở khu vực Đại Kim, xã Sơn Kim,
huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh". Vũ Hồng Thuật, tham gia dự án hợp tác nghiên cứu
với Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ, 2001, 255 trang.
4. Người Nùng
1. "Nghề rèn của người Nùng An ở Phúc Sen". La Công Ý, trong Các công trình
nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 7), Nxb KHXH, H, 2011, tr. 361-383.
2. “Dân tộc Nùng”. Vi Văn An, trong Các dân tộc ở tỉnh Hà Giang, Nxb Thế giới,
H, 2003, tr. 145-174.
3. “Dân tộc Nùng”. Vi Văn An, trong Địa chí huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn,
Huyện uỷ & UBND huyện Tràng Định, Lạng Sơn, 2000.
5. Người Giáy
1. "Nghề chế tác bạc của người Giáy ở Bát Xát (Lào Cai)". La Công Ý, trong Văn
hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông
tin, H., 2002, tr. 253-255. Lu Hïng102
IV. Nhóm ngôn ngữ Kađai
1. Người La Chí
1. “Dân tộc La Chí”. Phạm Văn Dương, trong Các dân tộc ở Hà Giang, Nxb Thế
giới, H, 2004, tr. 207-227.
V. Nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao
1. "Tìm hiểu trò chơi của trẻ em người Hmông và Dao (qua khảo sát ở hai huyện
Sa Pa và Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai)". Chu Quang Cường, Đàm Thị Hợp, đề tài cấp viện,
103
13. “Dân tộc Dao”. Phạm Minh Phúc, trong Các dân tộc ở Hà Giang, Nxb Thế
giới, H, 2003.
14. “Một số tập quán và nghi lễ liên quan đến nhà cửa của người Dao Đỏ ở Sa Pa,
Lào Cai”. Võ Thị Mai Phương, trong Các công trình nghiên cứu của bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr. 93-99.
15. “Nhà nửa sàn nửa đất của người Dao Họ ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai”.
Phạm Văn Dương, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
(T3), Nxb KHXH, H, 2002, tr. 78-92.
16. “Mối quan hệ giữa lễ thành đinh và lễ cấp sắc của người Dao”. Võ Thị Mai
Phương, tạp chí Dân tộc học, số 2/2001, tr. 46-49.
17. Our craft tradition - A Yao community in Sapa. Võ Thị Mai Phương & Clair
Burkert, Nxb Thế giới, H, 2001.
18. “Trang phục trong nghi lễ của người Dao Đỏ ở Sa Pa, Lào Cai”. Võ Thị Mai
Phương, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2),
Nxb KHXH, H, 2001, tr. 223-229.
19. “Sơ bộ khảo sát về nghề thổ cẩm của người Dao ở xã Tả Phìn, huyện Sa Pa,
tỉnh Lào Cai”. Võ Thị Mai Phương, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân
tộc học Việt Nam (T 1), Nxb KHXH, H, 1999, tr. 158-174.
20. “Sự biến đổi kinh tế-xã hội và những vấn đề mới nảy sinh của người Dao xã
Tân Dân, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh trong 5 năm (1993-1998)”. Lê Duy Đại
chủ trì, một nhánh của đề tài cấp nhà nước KHXH 03-06: Quản lý sự phát triển xã hội
trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng, H, 1999.
21. “Thử phân loại trang phục hiện nay của người Dao”. Chu Thái Sơn đồng tác
giả, trong Sự phát triển văn hoá xã hội của người Dao: hiện tại và tương lai, Trung tâm
KHXH&NVQG, H, 1998, tr. 60-67.
22. "Về những biến đổi văn hoá - xã hội của người Dao Thanh phán ở Sơn Động,
tỉnh Hà Bắc". La Công Ý, trong Sự phát triển văn hoá - xã hội của người Dao: hiện tại
2005.
6. "Đồ trang sức của người Hmông Hoa". Trần Thị Thu Thuỷ, tạp chí Dân tộc
học, số 2/2004.
7. "Một số tri thức dân gian và nghi lễ tín ngưỡng liên quan đến canh tác nương
rẫy của người Hmông Trắng ở bản Mô Cổng, xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu, tỉnh
Sơn La". Trần Thị Thu Thuỷ, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam (T 4), Nxb KHXH, H, 2004, tr. 116-134.
8. “Vài nét khái quát về bộ sưu tập hiện vật trang phục Hmông của Bảo tàng Dân
tộc học Việt Nam và những ý kiến đối với việc sưu tầm, bảo quản hệ thống tư liệu hiện
vật này”. Nguyễn Thị Hồng Mai, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân
tộc học Việt Nam (T 4), Nxb KHXH, H, 2004, tr. 273-287.
9. "Dân số, sự phân bố dân cư và lịch sử tộc người". Mai Thanh Sơn, tham gia đề
tài Dân tộc Hmông ở Việt Nam của Viện Dân tộc học (Phạm Quang Hoan chủ nhiệm),
2003.
10. "Người Hmông với việc gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống". Mai
Thanh Sơn, tạp chí Dân tộc học, số 6/2004.
11. "Dân tộc Hmông". Vi Văn An, trong Các dân tộc ở tỉnh Bắc Kạn, Nxb Thế
giới, H, 2003, tr. 191-221.
12. “Đặc trưng nhóm tộc người qua sự bố trí bên trong ngôi nhà của nhóm Hmông
Hoa ở huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái”. trong Các công trình nghiên cứu của Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr. 130-141.
Thông báo Dân tộc học năm 2012 105
13. “Nhà ở của người Hmông Đen (tư liệu điền dã tại xã Tả Phìn, huyện Sa Pa,
tỉnh Lào Cai)”. Mai Thanh Sơn, trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam (T 2), Nxb KHXH, H, 2001, tr. 142-156.
14. "Triển vọng khai thác kỹ năng làm thổ cẩm của người phụ nữ Hmông ở San Xả
3. Văn hóa vật chất người Phù Lá ở Việt Nam. Mai Thanh Sơn, Nxb Văn hóa dân
tộc, H, 2002. Lu Hïng106
4. "Mấy vấn đề về lịch sử và quan hệ xã hội của nhóm Phù Lá Hán ở Việt Nam".
Mai Thanh Sơn, hội thảo quốc tế lần thứ III về người Di, Vân Nam - Trung Quốc, tháng
9/2000.
5. “Trang phục truyền thống của người Xá Phó ở Lào Cai”. Võ Thị Mai Phương &
Vi Văn An, tạp chí Văn hóa dân gian, số 1/1997.
6. “Một vài nhận xét về nghệ thuật trang trí của trang phục Xá Phó ở Lào Cai”. Võ
Thị Mai Phương, tạp chí Dân tộc học, số 1/1997, tr 61-67.
2. Người Hà Nhì
1. "Văn hóa người Hà Nhì ở xã Dào San, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Việt
Nam". Vũ Hồng Thuật, trong Người Hà Nhì ở Đông Nam Á, Mã Xung Vĩ chủ biên, dự
kiến xuất bản năm 2013, 80 trang, tiếng Trung.
2. "Mấy vấn đề về nguồn gốc và quá trình tộc người của dân tộc Hà Nhì và Cống".
Mai Thanh Sơn, tham gia đề tài cấp bộ Quan hệ giữa dân tộc Hà Nhì và dân tộc Cống ở
Việt Nam của Viện Dân tộc học (Phạm Quang Hoan chủ nhiệm), 2003.
3. "Kinh nghiệm sử dụng đất trồng của người Hà Nhì Đen (khảo sát tại thôn Lao Chải,
xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lao Cai)". Mai Thanh Sơn, tạp chí Dân tộc học, số 3/2002.
4. "Nhà cửa của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát - Lào Cai (cấu trúc kỹ thuật và
mặt bằng sinh hoạt)". Mai Thanh Sơn, tạp chí Dân tộc học, số 4/2001, tr. 37-43; "Nhà cửa
của người Hà Nhì ở Việt Nam (Đôi nét về kiến trúc và mặt bằng sinh hoạt", trong Các công
trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (T 3), Nxb KHXH, H, 2002, tr. 42-77.
3. Người Si La
1. Người Si La. Mai Thanh Sơn đồng tác giả, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2005.