Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 100m, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ THẢO CẤU TRÚC QUẦN XÃ VE GIÁP (ACARI: ORIBATIDA)
Ở HỆ SINH THÁI ĐẤT RỪNG TỰ NHIÊN ĐỘ CAO 100 m,
THUỘC VƢỜN QUỐC GIA CÚC PHƢƠNG,
TỈNH NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS. TSKH Vũ Quang Mạnh,
người thầy hướng dẫn đã quan tâm, tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quí báu của Ts. Đào Duy Trinh,
Ncs. Lại Thu Hiền, cùng các anh, chị, bạn bè trong nhóm nghiên cứu. Trân
trọng cám ơn sự hỗ trợ và tạo điều kiện của các cán bộ bộ môn Động vật học,
Ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN, phòng Sau Đại học trường ĐHSP Hà Nội
2, BGH trường TH, THCS, THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm Bắc Giang nơi tôi học
tập và công tác.
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng tri ân chân thành tới gia đình, bạn bè trong
khóa học 16 STH, SHTN và quê hương, những người đã mang lại cho tôi
niềm tin và hạnh phúc. Hà Nội, ngày 02 tháng 08 năm 2014
Tác giả luận văn

TRẦN THỊ THẢO

I-2 Tầng đất sâu 11-20 cm
J‟ Chỉ số đồng đều
Chữ viết tắt
HST Hệ sinh thái
k Mùa khô
KVNC Khu vực nghiên cứu
m Mùa mưa
MĐTB Mật độ trung bình quần thể
VQG Vườn quốc gia
VQN Vườn quanh nhà
RNT Rừng nhân tác
RTN Rừng tự nhiên
TCCB Trảng cỏ cây bụi

MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5
5
6

16
16
17
19
19
2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đa dạng thành phần loài Oribatida ở vùng nghiên cứu
3.1.1. Danh sách thành phần loài Oribatida ở vùng nghiên cứu
3.1.2. Đặc điểm phân bố của Oribatida theo tầng và theo mùa ở
vùng nghiên cứu
3.1.3. Bàn luận và nhận xét
3.2. Cấu trúc quần xã Oribatida ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên
độ cao 100 m, thuộc vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng, tỉnh Ninh Bình
3.2.1. Biến đổi cấu trúc quần xã Oribatida theo tầng thẳng đứng
trong hệ sinh thái đất ở khu vực nghiên cứu
3.2.2. Cấu trúc quần xã Oribatida theo mùa ở khu vực nghiên cứu
3.2.3. Bàn luận và nhận xét
3.3. Bƣớc đầu đánh giá vai trò chỉ thị sinh học của quần xã
Oribatida
3.3.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng quần xã Oribatida như yếu tố
chỉ thị sinh học
3.3.2. Vai trò chỉ thị sinh học của quần xã Oribatida trong môi
trường đất ở khu vực nghiên cứu
3.3.3. Bàn luận và nhận xét
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Thống kê số lượng mẫu thu được tại VQG Cúc Phương
Bảng 3.1: Danh sách loài Oribatida ở khu vực nghiên cứu
Bảng 3.2: Thành phần các họ Oribatida ở độ cao 100 m, VQG Cúc
Phương
Bảng 3.3: Sự phân bố các bậc taxon của Oribatida theo mùa nghiên cứu
Bảng 3.4: Bảng giá trị các chỉ số định lượng của quần xã Oribatida theo
tầng sâu thẳng đứng ở HST đất ở khu vực nghiên cứu
Bảng 3.5: Một số chỉ số định lượng của Oribatida theo tầng sâu thẳng
đứng trong hệ sinh thái đất và theo mùa ở KVNC
Bảng 3.6: Các loài Oribatida ưu thế trong các tầng sâu thẳng đứng
trong hệ sinh thái đất ở khu vực nghiên cứu
Bảng 3.7: Các loài Oribatida phổ biến trong các tầng sâu thẳng đứng ở
khu vực nghiên cứu
Bảng 3.8: Các loài Oribatida ưu thế theo mùa ở khu vực nghiên cứu
Bảng 3.9: Các loài Oribatida phổ biến theo mùa ở khu vực nghiên cứu
Trang

17
27

37
39

43

Biểu đồ 3.12: Loài ưu thế theo mùa ở tầng đất 11-20 cm
Trang
16
21

44

44
50
51
51
52 61
62
62
63
63
64
64 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cấu trúc quần xã động vật đất, nhóm chân khớp bé ở đất
(Microarthropoda) bao gồm các nhóm động vật không xương sống thuộc
ngành chân khớp (Arthropoda), có chiều dài cơ thể khoảng 0,1 – 0,2 mm cho

về các mặt bảo vệ thiên nhiên, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích văn hóa
và phục vụ tham quan du lịch. Nguồn tài nguyên sinh học nơi đây được
nghiên cứu khá kỹ nhưng chủ yếu tập trung vào khu hệ động vật có xương
sống, nấm, côn trùng và thực vật. Các nhóm động vật không xương sống
trong đất hầu như biết đến rất ít, đặc biệt là Oribatida (hiện biết 29 loài) [14].
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Cấu trúc quần
xã Ve giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 100 m,
thuộc vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình”.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài bổ sung dẫn liệu về đa dạng sinh học của quần xã Oribatida ở hệ
sinh thái (HST) đất rừng VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình.
Đề tài cung cấp dẫn liệu về đặc điểm phân bố và đặc trưng định lượng
của quần xã Oribatida ở VQG Cúc Phương. Cấu trúc quần xã Oribatida về
đặc điểm phân bố và mật độ quần thể ở HST đất rừng VQG Cúc Phương
được nghiên cứu và phân tích đồng bộ, theo 2 mùa (mùa mưa và mùa khô) và
theo 4 tầng sâu thẳng đứng trong HST đất rừng ở khu vực nghiên cứu gồm:
tầng rêu 0 - 100 cm trên mặt đất (I+1); tầng thảm lá bề mặt đất (I0); tầng đất
0-10 cm (I-1); tầng đất sâu 11 - 20 cm (I-2).

3
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài bổ sung tư liệu về thành phần loài Oribatida, góp phần bổ sung
tài nguyên đa dạng động vật đất của Việt Nam.
Góp phần đánh giá về sự ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên đến cấu
trúc quần xã Oribatida ở khu vực nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài, đặc điểm phân bố của quần xã
Oribatida (Acari: Oribatida) ở HST đất rừng tự nhiên phân bố ở đai cao 100 m
trên mặt biển thuộc VQG Cúc Phương, và bước đầu đánh giá vai trò chỉ thị


5
NỘI DUNG

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Ve giáp luôn chiếm khoảng trên 50% trong tổng số Chân khớp bé,
chúng tham gia tích cực vào mọi chu trình tự nhiên, vào các quá trình sinh
học của đất, quá trình vận chuyển năng lượng và vật chất, quá trình làm sạch
đất khỏi bị ô nhiễm các chất thải (hữu cơ và vô cơ), chất phóng xạ. Chúng
làm gia tăng độ màu mỡ của đất thông qua các hoạt động sống của mình [14].
Trong hơn 30 năm qua, cho đến năm 2000 các kết quả nghiên cứu hàng
năm của các chuyên gia chuyên ngành trên thế giới, đặc biệt là các kết quả
liên quan đến khu hệ và phân bố của Ve giáp đã được bảo tàng lịch sử tự
nhiên Gorlitz, CHLB Đức giới thiệu trong 31 số của ấn phẩm Quốc tế
Bibliographia: Oribatologica. Từ năm 2001 ấn phẩm chuyên ngành này được
mang tên mới là Acari: Bibliographia Acarologica: Oribatida [14].
Các nghiên cứu về Oribatida ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm
60 và do các tác giả nước ngoài thực hiện, sau đó được mở rộng từ những
năm 80 của thế kỷ trước, trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu thuộc

loài thuộc 45 họ. Đa số các loài Ve giáp của Ôxtrâylia mới được mô tả trong
khoảng 20 năm gần đây (Niedbala et al., 1997) [52].
Ở Trung Quốc, Wang et al (2000, 2003) đã thống kê được 580 loài và
phân loài thuộc 279 giống và có cung cấp thông tin chi tiết về sự phân bố của
mỗi loài ở các tỉnh của Trung Quốc [53].
Khu hệ Ve giáp của Lavia, trước năm 1943 mới ghi nhận được 10 loài
theo công bố của Graube, 1943. Đến 1943, Eglitis đã thu thập thêm và công
bố 50 loài (Eglitis, 1943). Năm 1954, khu hệ này bao gồm 120 loài và đến
năm 2007 đã ghi nhận 200 loài thuộc 58 họ theo Baranovska A, 2007 [52].

7
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của mình kết hợp với các công trình
của các tác giả khác Schatz, 2002 đã tổng hợp và công bố bản mục lục các loài
Ve giáp đã biết ở khu vực Trung Châu Mỹ. Danh sách gồm 543 loài Ve giáp
thuộc 87 họ. Ngoài ra, ông còn liệt kê số lượng Ve giáp ở các quốc gia và vùng
lãnh thổ khác cũng thuộc khu vực này như: Cuba (225 loài), Antilles (387 loài),
Lasser Antilles (172 loài), Jamaica (28 loài), Dominica (21 loài)… (Schatz,
2002). Số lượng loài Ve giáp của Trung Mỹ, bao gồm cả Mexico là 987 loài,
nếu cộng thêm cả Antilles, con số này là 1238 loài (Schatz, 2002) [47].
Đến năm 2001, các nhà khoa học thế giới đã báo cáo Ve giáp có hơn
1300 giống của 191 họ, hơn 10000 loài, nhưng suy đoán rằng con số trên chỉ
chiếm khoảng 20% số loài có thực tế [49].
Các nghiên cứu về sinh thái học Ve giáp: Lindo et al., 2007, nghiên
cứu độ phong phú, độ giàu loài và thành phần quần xã Ve giáp ở dưới mặt đất
và trên tán cây của 12 cây thông đỏ ở rừng Thông – Độc nội địa (British
Columbia, Canada), các mẫu được thu từ lá, từ 3 nhóm địa y chức năng khác
nhau (địa y dạng lá, địa y dạng sợi và địa y dạng thùy) và dưới gốc cây. Kết
quả cho thấy: Ve giáp là nhóm chân khớp ưu thế ở tất cả các kiểu sinh cảnh.
Số lượng chân khớp và Ve giáp phong phú nhất ở đất rừng và trong mẫu địa y
dạng lá so với các sinh cảnh khác (tán cây, địa y dạng sợi, dạng thùy) (Lindo

Ve giáp là nhóm động vật nhạy cảm với sự thay đổi chất lượng không
khí (Andre, 1976; Weigmann et al., 1991; Weigmann et al., 1992; Steiner,
1995). Theo Steiner, ô nhiễm không khí, đặc biệt trong trường hợp nồng độ
NO
2
tăng cao, đã làm suy giảm độ giàu loài Ve giáp và tạo ra những quần xã
đơn điệu nhiều hơn. Ông cũng lưu ý rằng nhiều loài bị ảnh hưởng mạnh hơn
bởi đặc trưng của vi sinh cảnh hơn là bởi mức độ ô nhiễm và sự thay đổi trong
các cấu trúc quần thể [45].

9
Cấu trúc quần thể, độ giàu loài và đặc điểm sinh sản của Oribatida có
phản ứng âm tính với liều cao của một số kim loại nặng trong môi trường đô thị.
Trên thế giới còn có rất nhiều hướng nghiên cứu về Oribatida nữa như,
nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh; lịch sử hình thành loài; hướng tiến hóa
của Oribatida; ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên lên mật độ, thành phần loài
Oribatida; vai trò của Oribatida trong sự phân hủy và chu trình dinh dưỡng;
nghiên cứu về quy luật và các yếu tố phát tán Oribatida; nghiên cứu về môi
trường sống Ve giáp; sự đa dạng và phân bố Oribatida trên toàn cầu.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam
Cùng với những bước phát triển trong nghiên cứu về Oribatida trên thế
giới, ở Việt Nam các nghiên cứu trong lĩnh vực này cũng đã đạt được những
thành tựu đáng kể. Nhìn lại lược sử nghiên cứu, có thể chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: từ năm 1967 đến 1980
Giai đoạn 2: từ năm 1981 đến 1986
Giai đoạn 3: từ năm 1987 đến 2007
Giai đoạn 4: từ năm 2008 đến nay
Giai đoạn 1: Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam từ năm
1967 đến năm 1980
Trước năm 1967, chưa có công trình nào nghiên cứu về Ve giáp ở

Tiêu điểm là công trình của nghiên cứu về nhóm chân khớp bé
(Microathropoda) ở đất Cà Mau (Minh Hải) và Hà Nội (Từ Liêm), năm 1984
của tác giả Vũ Quang Mạnh. Công trình này đã đánh giá về sự khác nhau về
thành phần loài Oribatei và Collembola ở các sinh cảnh: vườn trồng lâu năm,
ruộng rau xanh, đất bờ sông ổn định và sự khác nhau về thành phần loài, số
lượng loài ở lớp đất 0 - 10cm [7].

11
Luận án Phó tiến sĩ của Vũ Quang Mạnh, 1985 về Oribatida ở các hệ
sinh thái tự nhiên và đất canh tác ở miền Bắc Việt Nam.
Như vậy, trong giai đoạn này các nghiên cứu về Oribatida đã có những
bước phát triển hơn so với giai đoạn trước. Hướng nghiên cứu, phạm vi địa lý
được mở rộng hơn so với nghiên cứu của giai đoạn trước. Tuy nhiên, các
nghiên cứu này vẫn đi sâu về nghiên cứu nhóm chân khớp bé nói chung còn
Ve giáp nói riêng chưa nhiều.
Giai đoạn 3: Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam từ năm
1987 đến năm 2007
Nghiên cứu đánh giá mật độ, thành phần loài khu hệ Microathropoda ở
đất Cà Mau, Vũ Quang Mạnh (1987), Vũ Quang Mạnh và M.Jeleva (1987) ở
đất rừng Tây Nguyên; vùng đồng bằng ven biển miền Bắc Việt Nam của Vũ
Quang Mạnh và Nguyễn Trí Tiến (1988, 1990). Năm 1990, Vũ Quang Mạnh
đã tổng kết tất cả các công trình nghiên cứu Chân khớp bé ở Việt Nam và đưa
ra danh sách 117 loài Ve giáp đã biết ở Việt Nam cho đến thời điểm đó, cùng
với đặc điểm phân bố của chúng theo vùng địa lý, loại đất và hệ sinh thái (Vũ
Quang Mạnh, 1990) [8].
Tiếp đó là rất nhiều công trình nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh, Vũ
Quang Mạnh và Nguyễn Trí Tiến, Vũ Quang Mạnh và Cao Văn Thuật, Vũ
Quang Mạnh và Vương Thị Hòa, Vũ Quang Mạnh và Nguyễn Thanh Huyền
nghiên cứu khu hệ Ve giáp ở Việt Nam (1985, 87, 88, 89, 90a, 90b, 93, 94,
95, 96, 99, 2000, 203, 204…).

sinh thái đất có liên quan rõ rệt với sự suy giảm gỗ rừng. Nó có thể được xem
xét và đánh giá như một đặc điểm sinh học, chỉ thị quá trình diễn thế của
VQG Tam Đảo nói riêng và của Việt Nam nói chung (Vũ Quang Mạnh và cs.,
2002) [11].

13
Oribatida trong cấu trúc quần xã Acari ở hệ sinh thái VQG Ba Vì, Việt
Nam, Phan Thị Huyền và cs., 2004 đã xác định được mối liên hệ giữa đai cao
khí hậu ảnh hưởng tới cấu trúc quần xã Oribatida.
Các nghiên cứu về Ve giáp như yếu tố chỉ thị sinh học cho môi trường
đất cũng được đề cập. Krivolutsky et al., 1997 nhận định Ve bét là vật chủ
trung gian của các loài sán dây họ Anoplocephailidae.
Vũ Quang Mạnh và cs., 2002 đã đưa dẫn liệu bổ sung về cấu trúc và vai
trò quần xã Ve giáp VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc nhận định có sự thay đổi đặc
điểm đa dạng thành phần loài của quần xã Ve giáp theo chiều thẳng đứng, từ
thảm rêu quanh thân cây và vụn xác thực vật, nằm trên mặt đất từ độ cao 0 -
100cm, cho đến thảm lá rừng phủ trên mặt đất, lớp đất mặt 0 – 10cm và lớp
đất sâu 11 – 20cm ở hệ sinh thái VQG Tam Đảo. Chỉ số này có thể xem xét
như một yếu tố chỉ thị sinh học ở các diễn thế ở hệ sinh thái rừng Việt Nam
(Vũ Quang Mạnh và cs., 2002).
Trong tập 21 “Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam”, tác giả Vũ
Quang Mạnh đã có những đánh giá rất cao về giá trị nguồn lợi và hiện trạng
Ve giáp ở Việt Nam.
Oribatida là nhóm động vật đất nhạy cảm với sự thay đổi của các yếu tố
môi trường đất như: nhiệt độ, độ chua, hàm lượng các chất khoáng và lượng
mùn, đặc điểm cấu tạo cấu trúc quần xã Oribatida có liên quan mật thiết với
những thay đổi của điều kiện môi trường đất.
Nhiều nhóm Ve giáp là nhóm gây hại trực tiếp cho cây trồng hoặc có
vai trò như những vectơ mang truyền vi khuẩn, nguồn bệnh và giun sán kí
sinh trong môi trường này. Vì thế, qua phân tích cấu trúc các quần xã Ve giáp

cũng chỉ ra những thay đổi về sự phân bố thành phần loài theo đai cao khí hậu
(giảm dần từ 300m đến 1600m), số loài giảm đi khi di chuyển từ mùa khô
sang mùa mưa. Khẳng định rõ yếu tố Ấn Độ - Mã Lai của khu hệ Oribatida ở
VQG Xuân Sơn [22].

15
Một công trình khác nghiên cứu về Oribatida ở VQG Phong Nha – Kẻ
Bàng (Quảng Bình) của Nguyễn Hải Tiến, Vũ Quang Mạnh. Các tác giả
nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của cấu trúc quần xã Ve giáp với sự
thay đổi điều kiện môi trường ở khu vực nghiên cứu. Các tác giả đã ghi nhận:
vào mùa khô ở tầng đất 0-10cm số lượng loài Oribatida giảm theo thứ tự:
RTN trên núi đá vôi > RTN trên núi đất > RNT trên núi đất > RNT trên núi đá
vôi. Vào mùa mưa, số lượng loài giảm theo thứ tự: RTN trên núi đá vôi >
RNT trên núi đất > RTN trên núi đất > RNT trên núi đá vôi. Như vậy, số
lượng loài Oribatida có sự biến đổi theo từng loại đất, theo độ che phủ của
thực vật và mức độ tác động của con người. Đây là cơ sở sử dụng nhóm động
vật này như một chỉ thị sinh học đối với sự biến đổi môi trường [21].
Trong các công trình được công bố gần đây thì có thể nói công trình có
mức độ chuyên sâu và toàn diện nhất là công trình nghiên cứu về hệ thống địa
động vật Oribatida về hình thái và vai trò trong HST của tác giả Vũ Quang
Mạnh, các kết quả được trình bày trong luận án Tiến sĩ khoa học năm 2013
của tác giả. Trong công trình này ghi nhận 316 loài và 4 phân loài, thuộc 163
giống, 60 họ và 2 phân họ. Trong đó, có 111 loài (34,68%) đặc trưng chỉ phát
hiện ở Việt Nam, 155 loài (chiếm 48,44%) lần đầu tiên được phát hiện cho
khu hệ Ve giáp Việt Nam [20].
Trong công trình này, tác giả còn nghiên cứu và tổng kết vai trò phân
hủy xác thực vật, cấu trúc quần xã của chúng liên quan đến việc sử dụng các
thành phần hữu cơ và phân bón hóa học khác nhau trong sản xuất nông
nghiệp. Do vậy, những cấu trúc này có thể sử dụng như các chỉ thị sinh học
tiềm năng cho sự phát triển bền vững của HST nông nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status