Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu tiềm năng thực hiện chủ trương xã hội hóa thể dục thể thao trong các trường THPT Thành phố Tuyên Quang - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN ANH DŨNG
NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG THỰC HIỆN CHỦ
TRƯƠNG XÃ HỘI HÓA THỂ DỤC THỂ THAO TRONG
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH
PHỐ TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số: 60140103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Vũ Chung Thủy
Hà Nội – 2014
LỜI CẢM ƠN !
LỜI CẢM ƠN !
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới toàn
thể quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, trang bị cho tôi hệ thống tri thức về
khoa học và nghiên cứu khoa học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Quản lý sau đại học,
Khoa Giáo dục thể chất của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Sở GD& ĐT
tỉnh Tuyên Quang, Sở Văn hoá, TDTT và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, cùng
bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS Vũ
Chung Thủy - người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn chắc khó tránh khỏi những
khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô cùng
các bạn đồng nghiệp.
Trân trọng cảm ơn!

1.1. Vị trí của GDTC trường học trong giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ 9
1.1.1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng về công tác
giáo dục thế hệ trẻ 9
1.1.2. Vị trí của trường học trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước 11
1.1.3. Vị trí của GDTC trường học trong đào tạo và phát triển toàn diện
thế hệ trẻ 12
1.1.4. Mục tiêu GDTC ở trường phổ thông các cấp 13
1.2. Đặc điểm cơ bản của hệ thống giáo dục thể chất trong nhà trường
THPT 15
1.2.1. Đặc điểm hệ thống chương trình giáo dục thể chất 15
1.2.2. Đặc điểm cơ chế tổ chức công tác GDTC trường học 17
1.2.3. Đặc điểm hoạt động sư phạm của giáo viên TDTT 18
1.3. Các khái niệm liên quan 22
1.3.1. Khái niệm về xã hội hoá 22
1.3.2. Xã hội hoá trong hoạt động TDTT 24
1.4. Xã hội hoá TDTT trong thời kỳ đổi mới ở nước ta 25
1.6. Đặc trưng cơ bản của xã hội hoá TDTT trường học 29
1.7. Mối quan hệ giữa xã hội hoá TDTT trong các trường THPT với hiệu
quả công tác GDTC trong nhà trường 31
Chương 3 56
3.2.1 Căn cứ đề xuất biện pháp triển khai công tác xã hội hoá TDTT
trong các trường trung học phổ thông thành phố Tuyên Quang 62
3.2.1.1 Những cơ sở lý luận để đề xuất biện pháp xã hội hoá TDTT 62
3.2.1.2 Những cơ sở thực tiễn để đề xuất biện pháp xã hội hoá TDTT
trong các trường THPT thành phố Tuyên Quang 66
3.2.1.3 Lựa chọn các biện pháp cơ bản trong khai thác tiềm năng xã hội
hoá TDTT trong các trường THPT thành phố Tuyên Quang 69
3.2.2. Xây dựng và đề xuất một số biện pháp triển khai công tác xã hội
hoá TDTT trong các trường THPT Thành phố Tuyên Quang 72

đích, ý nghĩa của công tác GDTC và thể thao trong trường học
Error: Reference source not found
Bảng 2.11. Bảng tổng hợp nhận thức của giáo viên chủ nhiệm về mục
đích, ý nghĩa của công tác GDTC và thể thao trong trường học
Error: Reference source not found
Bảng 1.12. Bảng tổng hợp sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường về
công tác giáo dục thể chất, hoạt động TDTT và đánh giá thực trạng
công tác GDTC Error: Reference source not found
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Mục đích của thể dục, thể thao (TDTT) là tăng cường thể chất cho nhân dân,
nâng cao trình độ thể thao, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa và giáo dục
con người phát triển toàn diện để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc [19].
Trong những năm gần đây, sự nghiệp TDTT nước ta đã có nhiều tiến bộ.
TDTT quần chúng tiếp tục phát triển với nhiều hình thức đa dạng, góp phần nâng
cao sức khoẻ, xây dựng lối sống lành mạnh, cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần
của nhân dân. TDTT lớn mạnh không ngừng, một mặt do có sự đầu tư lớn hơn của
Nhà nước, mặt khác xã hội hoá TDTT đã và đang từng bước hình thành và phát
triển, đem lại những kết quả quan trọng, đó là huy động được sức mạnh của toàn
xã hội chăm lo công tác TDTT, góp phần làm cho TDTT ngày càng có tính quần
chúng rộng rãi, trình độ được nâng cao. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày
càng nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về tầm quan trọng của công tác TDTT
trường học - một bộ phận cơ bản của nền TDTT nước ta. Quan tâm lãnh đạo
công tác TDTT trường học có ý nghĩa chiến lược to lớn, nhằm thúc đẩy GDTC,
nâng cao sức khoẻ, thể lực, đời sống văn hoá tinh thần của học sinh để chủ động
chuẩn bị nguồn nhân lực, đồng thời góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu,
phát triển tài năng thể thao cho đất nước.
Hiện nay, nước ta có trên 17 triệu học sinh phổ thông, đây là nguồn nhân lực

TDTT dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước ”. Chiến lược phát triển TDTT
cũng nêu rõ: Đối tượng chiến lược của Thể thao Việt Nam là thanh, thiếu niên; địa
bàn chiến lược của Thể thao Việt Nam là trường học; phương thức điều hành là xã
hội hoá và chuyên nghiệp hoá [15, 17,18].
Như vậy, có thể khẳng định xã hội hoá TDTT nói chung và xã hội hoá TDTT
trong trường học nói riêng là một chủ trương lớn, một chính sách đúng đắn phù hợp
với quy luật phát triển xã hội nước ta trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Tuy nhiên công tác xã hội hoá TDTT trường học trong cả nước nói chung và tỉnh
2
Tuyên Quang nói riêng còn có nhiều hạn chế. Đó là do cơ chế quản lý và tổ chức
hoạt động TDTT trường học hoàn toàn do các cơ sở giáo dục triển khai thực hiện,
các lực lượng xã hội chưa có sự phối hợp trong quá trình thực hiện chủ trương xã
hội hoá; khả năng huy động tài chính đầu tư trực tiếp cho hoạt động TDTT còn quá
hạn hẹp kể cả nguồn đầu tư của Nhà nước và các nguồn đầu tư khác. Hơn nữa, nhận
thức của phụ huynh và học sinh về GDTC và thể thao trường học còn rất hạn chế;
nhà trường và giáo viên, nhất là giáo viên chủ nhiệm chưa coi trọng công tác
GDTC, chưa coi TDTT là một phương tiện giáo dục hữu hiệu ngoài giờ học đối với
thanh thiếu niên học sinh; chưa phối hợp giữa gia đình và nhà trường về công tác
GDTC, hoạt động TDTT và đánh giá tình trạng thể chất của học sinh.
Trong thực tiễn đã có một số đề tài nghiên cứu theo hướng triển khai xã hội
hoá, tiêu biểu như “Nghiên cứu xây dựng câu lạc bộ TDTT sinh viên Đại học Huế”,
(2001 - Nguyễn Gắng); “Nghiên cứu các giải pháp xã hội hóa nhằm khai thác tiềm
năng để phát triển TDTT quần chúng ở thành phố Đà Nẵng”, (2006 - Đặng Quốc
Nam); “Nghiên cứu về người tập TDTT ở thành phố Nam Định”, (2009 - Bùi Vũ
Tâm); … Tuy nhiên, có thể thấy việc nghiên cứu, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện
xã hội hóa chưa được quan tâm thường xuyên, chưa xác định đầy đủ các yếu tố tiềm
năng để thực hiện chủ trương xã hội hoá TDTT, cũng như chưa có các biện pháp phù
hợp, khả thi để đưa chủ trương xã hội hóa vào thực tiễn sinh động, đặc biệt là xã hội
hóa TDTT trong trường học. Do đó xã hội hóa TDTT chưa thực sự trở thành động
lực mang lại chất lượng và hiệu quả GDTC cho học sinh trong các trường THPT của

hoá TDTT trong các nhà trường THPT thành phố Tuyên Quang.
Giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu này, luận văn tiến hành các nội dung nghiên
cứu sau:
- Nghiên cứu xác định tiềm năng thực hiện xã hội hoá TDTT trong các
trường THPT Thành phố Tuyên Quang;
- Nghiên cứu đề xuất giải pháp ứng dụng các tiềm năng trong tiến trình
thực hiện chủ trương xã hội hoá TDTT trong các nhà trường THPT thành phố
Tuyên Quang.
4
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tiềm năng xã hội hóa TDTT trong các nhà trường THPT ở Thành phố
Tuyên Quang.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài là đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo
viên TDTT, giáo viên chủ nhiệm và học sinh trong các trường THPT của Thành phố
Tuyên Quang.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác xã hội hóa TDTT trong các
trường THPT.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Thực trạng về trường lớp, đội ngũ giáo viên, học sinh trong các trường
trung học phổ thông Thành phố Tuyên Quang.
- Xác định các yếu tố tiềm năng để thực hiện chủ trương xã hội hoá TDTT
trong các trường trung học phổ thông Thành phố Tuyên Quang.
- Khả năng biến tiềm năng thành động lực thực hiện chủ trương xã hội hoá
TDTT trong các trường trung học phổ thông Thành phố Tuyên Quang.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng một số phương pháp sau:
6.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu được sử dụng để tham khảo các

n
i
Xi
X
n
=
=


Trong đó:
X
là số trung bình cộng.

i
X
là kết quả đo của từng cá thể

n
là tổng số người tham gia.
∑ là ký hiệu tổng
6
6.5.2. Công thức so sánh hai số trung bình:

2 2
( 30)
A B
tinh
c c
A B
X X

d
δ
là độ lệch chuẩn gia tăng
n là số cá thể được khảo sát
6.5.4. Tính hệ số tương quan r:
3,2,1
)()(
))((
22
=
−−
−−
=
∑ ∑

i
yyxx
yyxx
r
il
ii
(n < 30)
Trong đó: x là chỉ số đo của từng cá thể nhóm A
y là chỉ số đo của từng cá thể nhóm B

X
,  là giá trị trung bình của hai nhóm tương ứng
6.5.5. Hệ số tương quan thứ bậc:
)1(
6

- Tiến hành phỏng vấn các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý, các
giáo viên để lựa chọn các tiêu chí, các chỉ tiêu về công tác GDTC và công tác xã hội hóa
TDTT trong các trường THPT.
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động GDTC và công tác xã hội hóa
TDTT trong các trường THPT Thành phố Tuyên Quang.
- Nghiên cứu lựa chọn và đánh giá thực trạng các yếu tố tạo thành tiềm năng
thực hiện xã hội hoá TDTT trong các trường THPT Thành phố Tuyên Quang.
- Lựa chọn, xây dựng và đề xuất giải pháp ứng dụng các tiềm năng trong tiến
trình thực hiện chủ trương xã hội hoá TDTT trong các nhà trường THPT Thành phố
Tuyên Quang.
* Giai đoạn 3: Từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 10 năm 2014
- Tiến hành phân tích kết quả nghiên cứu.
- Viết hoàn chỉnh luận văn, công bố kết quả nghiên cứu trên báo chí, chuẩn
bị bảo vệ luận văn trước Hội đồng khoa học.
9. Địa điểm nghiên cứu
- Các trường THPT Thành phố Tuyên Quang.
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
8
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Vị trí của GDTC trường học trong giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ
1.1.1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng về công tác giáo
dục thế hệ trẻ
Nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, trước hết, phải nói đến tư tưởng
giải phóng con người thoát khỏi tăm tối, lạc hậu, đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc
văn minh, tiến bộ. Đây vừa là mục tiêu, vừa là khát vọng "tột bậc" của Người. Trong
mỗi giai đoạn cách mạng, dù ở trong hoàn cảnh nào, Người cũng là chiến sĩ tiên phong
đi vào phong trào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ,
đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập; giải phóng họ thoát khỏi ách áp bức bóc lột
của thực dân phong kiến, thoát khỏi sự ràng buộc của hệ tư tưởng lạc hậu, tạo mọi điều

họ, mạnh dạn trao cho thanh niên những trách nhiệm xứng đáng ”
Trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ IV, Đảng ta đã ra quyết định số 14-NQ/TW
về cải cách giáo dục với tư tưởng: xem giáo dục là bộ phận quan trong của cuộc
cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến
lúc trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.
Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với
yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt
Nam. Đặc biệt, sự nghiệp Giáo dục và Giáo dục lý luận chính trị được Đại hội toàn
quốc lần thứ X đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh hơn nữa nhằm giáo dục con người
phát triển toàn diện, nhất là thế hệ trẻ [13;14;18;19;20].
GD&ĐT là một lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội, nó liên quan đến
nhiều lĩnh vực khác, cho nên Đảng ta rất chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo.
Những năm qua quan điểm của Đảng về đường lối phát triển giáo dục và đào tạo
chủ yếu tập trung ở Nghị quyết Trung ương 2, khoá VIII; Kết luận của Hội nghị lần
6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban
10
chấp hành Trung ương Đảng khoá IX; Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, X. Qua các Văn kiện này thể hiện một số quan điểm chỉ đạo phát triển GD&ĐT
[19] [21], như sau:
- GD&ĐT nhằm xây dựng con người có đầy đủ phẩm chất để xây dựng và
bảo vệ đất nước. Giữ vững mục tiêu XHCN trong GD&ĐT, nhất là chính sách công
bằng xã hội.
- Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, cùng với khoa học và công nghệ
là yếu tố quyết định góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
- GD&ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân; mọi người, mọi cấp chăm lo
cho GD&ĐT. GD&ĐT phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, với khoa học
công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh.
1.1.2. Vị trí của trường học trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước

thời gian học phải đạt được mức cần thiết về trình độ chuẩn bị thể lực toàn diện để
tham gia các hình thức hoạt động xã hội quan trọng tiếp đó.
Năm học 2013 - 2014 là năm học thực hiện kế hoạch phát triển GD&ĐT đã
có văn bản hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển GD&ĐT giai đoạn 2011-2015.
Một nội dung đáng chú ý với giáo dục phổ thông là đẩy mạnh học 2 buổi/ngày ở
THPT. Như vậy, với cùng nội dung nhưng thời lượng tiếp thu tăng lên sẽ có thêm
thời gian cho các em nhận biết bài học, giúp các em không bị quá tải vì việc học.
Tuy nhiên sẽ là không cần thiết nếu như chỉ nhằm giảm tải khối lượng kiến
thức mà không nâng cao GDTC và kỹ năng sống. Song nâng thế nào cho đủ cũng là
một câu hỏi không dễ trả lời.
Thời điểm hiện nay, đại đa số trường THPT học theo chương trình 1
buổi/ngày, khiến các em vừa có ít thời gian để tiếp thu kiến thức, lại quá căng thẳng
vì giờ học kéo dài.
Song theo suy nghĩ của nhiều vị phụ huynh, việc học cả ngày hay nửa ngày
không quan trọng mà các em có được phát triển đầy đủ về thể chất, kỹ năng sống,
hiểu biết xã hội hay không. Việc học cả ngày nếu không có những điều chỉnh, chỉ
đứng trên phương diện giảm tải học văn hóa sẽ kéo theo việc các em không còn thời
gian để phát triển về thể chất.
12
Với tư duy hiện đại, nhiều vị cha mẹ không còn quan tâm quá nhiều đến
chuyện điểm số bởi đối với họ sức khỏe và sự phát triển về thể chất của con cũng
rất cần được chú ý. Bởi có một cơ thể khỏe mạnh mới giúp các em đủ sức để tiếp
thu kiến thức và tăng sức sáng tạo. Hầu hết các trường THPT ở nước ta hiện nay
đều đã bắt đầu chú tâm đến việc phát triển song song giữa kiến thức và thể chất
cho các em.
Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương quan trọng về công tác TDTT
trường học, được thể hiện trong Luật Giáo dục, Luật TDTT với tinh thần “Nhà
nước coi trọng TDTT trường học nhằm phát triển hoàn thiện thể chất cho tầng lớp
thanh thiếu niên, nhi đồng. GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh,
sinh viên được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại

chất lượng giáo dục càng thuận lợi thì việc đánh giá chất lượng giáo dục chỉ còn là
vấn đề kỹ thuật.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục là một yêu cầu đặc biệt quan trọng
nhằm “nâng cao dân trí - đào tạo nhân lực - bồi dưỡng nhân tài”, phát triển nguồn lực
con người - động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị lần 4
của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII [14], Nghị quyết Hội nghị lần 2 của
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII [18] và Kết luận của Hội nghị lần 6 của
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX [19] đều khẳng định GD&ĐT là quốc sách
hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, đồng thời, đề ra các yêu cầu
ngày càng cao cho GD&ĐT.
Vấn đề đặt ra là, từ chiến lược phát triển giáo dục cần phải quán triệt thành
những mục tiêu cụ thể tới từng cấp học, môn học, từng nội dung chương trình,
phương pháp giảng dạy và đánh giá chất lượng giáo dục, đặc biệt là chất lượng của
sản phẩm giáo dục. GDTC trong trường học nói chung và các trường THPT nói
riêng ở nước ta là một nội dung bắt buộc, được quy định tại Điều 41, Hiến pháp
Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam [25]. Nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh
chính là góp phần đào tạo nguồn nhân lực phát triển toàn diện, phục vụ sự nghiệp
14
công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh
Việt Nam nói chung và học sinh THPT thành phố Tuyên Quang nói riêng phải
hướng tới mục tiêu cụ thể sau đây:
Nắm được tri thức cơ bản và thực hiện được ở mức nhất định những kỹ năng
vận động, kỹ chiến thuật và luật thi đấu một số môn thể thao; có tăng tiến về các tố
chất thể lực, đặc biệt sức bền, sức nhanh, sự khéo léo góp phần gìn giữ và nâng cao
sức khoẻ; đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; góp phần hình thành nếp sống lành
mạnh, tác phong nhanh nhẹn, tính kỷ luật, thói quen tự giác tập luyện TDTT và giữ
gìn vệ sinh cùng một số phẩm chất đạo đức khác; thể hiện khả năng của bản thân
về TDTT, góp phần tạo nguồn và bồi dưỡng nhân tài; biết vận dụng những điều đã
học vào trong sinh hoạt ở trong và ngoài nhà trường, nhất là trong tự học, tự tập

trong cuộc sống. Hình thành thói quen tập luyện TDTT thường xuyên và nếp sống
lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỷ luật, tinh thần tập thể và các phẩm chất ý chí.
Biết vận dụng những kiến thức kỹ năng đã học vào hoạt động ở nhà trường và trong
đời sống hàng ngày.
Quan điểm xây dựng và phát triển chương trình: chương trình môn Thể dục
phải góp phần thực hiện mục tiêu, kế hoạch dạy học chung và những đổi mới về
phương pháp dạy học, đánh giá ở từng cấp học. Lấy việc nâng cao sức khỏe, thể lực
học sinh làm mục tiêu quan trọng nhất, xuyên suốt từ tiểu học đến THPT.
Đảm bảo tính khoa học, sư phạm, liên thông, kết hợp truyền thống văn hóa dân
tộc, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học GDTC hiện đại. Chương trình phải
có tính khả thi, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi và giới tính, với sức khỏe, thể lực học
sinh, đồng thời định hướng cho việc nâng cao trình độ của đội ngũ giáo viên và tăng
cường cơ sở vật chất cho việc dạy và học.
Đảm bảo tính thống nhất của chương trình, đồng thời mở rộng quyền chủ
động, sáng tạo của địa phương trong quá trình thực hiện chương trình.
Nội dung và kế hoạch dạy học [39]:
Theo chương trình đã được triển khai từ trước đến nay cho thấy các kỹ năng
vận động cơ bản của học sinh đã được trang bị cho học sinh từ lứa tuổi tiểu học,
trong đó các trò chơi vận động chiếm vị trí chủ yếu ở bậc học này.
16
Các kỹ thuật điền kinh được ưu tiên lựa chọn để phát triển các tố chất vận
động chủ yếu cho học sinh.
Các môn tự chọn được đưa vào chương trình từ lớp 4, nếu học sinh tập môn tự
chọn liên tục cho đến hết lớp 12, chắc chắn sẽ đạt trình độ thành tích thể thao nhất
định, đồng thời qua quá trình đó cũng có thể phát hiện và bồi dưỡng nhiều tài năng
thể thao cho đất nước. Từ lớp 10 có 5 môn thể thao tự chọn là: bóng chuyền, bóng đá,
bóng rổ, bơi và đẩy tạ. Mỗi tuần các em học sinh đều được học 2 tiết một tuần. Trong
sự cố gắng giảm tải cho học sinh phổ thông, quỹ thời gian dành cho nhiều môn học
khác đã giảm xuống, nhưng với môn thể dục, vẫn được giữ nguyên. Được vận động
chính là nhu cầu của học sinh, tuy nhiên, chỉ với quỹ thời gian trên, thì chưa đủ kích

của GDTC, y tế trường học nói riêng.
1.2.3. Đặc điểm hoạt động sư phạm của giáo viên TDTT
Hoạt động của giáo viên TDTT mang tính sư phạm đa nhân tố và được thực
hiện trong phạm vi một hệ thống sư phạm GDTC nhất định. Hệ thống sư phạm giáo
dục là sự tổng hợp các thành phần cấu trúc và chức năng phụ thuộc vào mục đích
giáo dục. Những thành phần cấu trúc hoạt động của giáo viên TDTT được phản ánh
trong cấu trúc về kiến thức, còn các thành phần chức năng được phản ánh trong cấu
trúc về kỹ năng của giáo viên TDTT đó. Trong đó hiệu quả hoạt động phụ thuộc
vào mức độ phát triển các thành phần chức năng.
Bất kỳ một hoạt động chuyên môn nào cũng đặt ra những yêu cầu nhất định
đối với con người và sự phù hợp với các yêu cầu đó sẽ đảm bảo sự thành công trong
hoạt động chuyên môn đó. Giáo viên TDTT có vai trò quan trọng trong công tác
GDTC, do đó đòi hỏi người giáo viên TDTT phải có tầm nhìn sâu rộng, có trình độ
kiến thức và lý luận thực tiễn thể thao, đồng thời giáo viên TDTT phải là một nhà tổ
chức, nhà tâm lý học.
Giáo viên TDTT cần phải có kiến thức lý luận và kĩ năng thực hành. Trong
cấu trúc kiến thức của giáo viên TDTT bao gồm những kiến thức về chính trị xã
hội, tâm lý sư phạm, y sinh và chuyên môn. Những kiến thức về chính trị xã hội tạo
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status