Luận văn: Các biện pháp tạo hình ảnh nhằm gây hứng thú nhận thức cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học cơ sở (qua thực nghiệm sư phạm lớp 9 tại Hà Nội) - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI


CAO MẠNH CƯỜNG

CÁC BIỆN PHÁP TẠO HÌNH ẢNH
NHẰM GÂY HỨNG THÚ NHẬN THỨC CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
(QUA THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM LỚP 9 TẠI HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thị Côi
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới
Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa lịch sử, Phòng sau đại học, các
thầy cô giáo trong tổ bộ môn Lí luận và Phương pháp dạy học Lịch
sử trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt sâu sắc tới GS-TS Nguyễn
Thị Côi người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt cả
quá trình làm luận văn hơn một năm vừa qua.
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người
thân, bạn bè và đồng nghiệp đã cổ vũ, giúp đỡ, động viên tác giả
trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Hà Nội tháng 10 năm 2014-10-12
Tác giả
Cao Mạnh Cường

pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng,
đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công
nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng,
đáp ứng yêu cầu về chất lượng” [w.w.w.ĐCS.gov.vn ]
Để thực hiện mục tiêu đó, đòi hỏi ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục
phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng phải không ngừng nâng cao
chất lượng dạy và học nhằm đào tạo ra những thế hệ thanh niên có trình độ,
chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu xã hội, đưa đất nước phát triển. Điều này còn
được cụ thể hóa trong Luật Giáo dục (sửa đổi bổ sung) năm 2011, Điều 27.3 đã
chỉ rõ: “Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và
những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học
phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”.
Trong hệ thống các môn học hiện nay ở trường THCS, Lịch sử là môn
chiếm nhiều ưu thế đối việc giáo dục tư tưởng đạo đức cho thế hệ trẻ. Giáo
dục lịch sử giúp HS hình dung và hiểu rõ bức tranh lịch sử quá khứ của dân
1
tộc cũng như lịch sử thế giới, khiến các em thêm yêu quê hương, đất nước
mình đồng thời trân trọng những thành quả của cha ông. Từ đó, hình thành
lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, định hướng tốt cho tương lai, tin
tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, lịch sử phải
góp phần mình vào việc đào tạo thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu của đất nước.
Tạo hình ảnh là một biện pháp quan trọng trong quá trình dạy học, nó
giúp HS lĩnh hội kiến thức một cách vững chắc, bài học trở nên sinh động
hơn, tránh được sự đơn điệu tẻ nhạt, “hiện đại hóa lịch sử”. Bên cạnh đó, tạo
hình ảnh có vai trò quan trọng trong DHLS ở trường phổ thông, đặc biệt là
đối với HS nhỏ tuổi ở cấp THCS. Đó là một biện pháp để nâng cao hiệu quả
bài học. Bởi vì, hình ảnh lịch sử giúp HS có biểu tượng chân thực cụ thể về sự
kiện quá khứ, qua đó các em hiểu được bản chất của sự kiện, hứng thú nhận

một số quan điểm của một số tác giả sau:
Herbart (1776-1841) là nhà tâm lý học, nhà triết học, nhà giáo dục học
người Đức – người sáng lập ra trường phái giáo dục hiện đại ở Đức thế kỷ
XIX đã đưa ra 5 mức độ của dạy học là tính sáng rõ, tính liên tưởng, tính hệ
thống, tính phong phú và đặc biệt hứng thú là yếu tố quyết định kết quả của
người học. Ông đã đề cao vấn đề hứng thú trong dạy học quan trọng hơn các
yếu tố khác, quyết định đến sự thành bại của việc dạy học.
Ovide Decroly (1871-1932) là bác sỹ và nhà tâm lý người Bỉ khi nghiên
cứu về khả năng tập đọc và tập làm tính của trẻ đã xây dựng học thuyết về
những trung tâm hứng thú và về lao động tích cực.
Đến năm 1946 E.Clapade với vấn đề “Tâm lý trẻ em và thực nghiệm sư
phạm” đã đưa ra khái niệm hứng thú dựa trên bản chất sinh học. Trong giáo
3
dục chức năng ông cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hứng thú trong
hoạt động của con người và cho rằng quy luật của hứng thú là cái trục duy
nhất mà tất cả hệ thống phải xoay quanh nó.
J.Piaget (1896-1996) là nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy Sỹ có rất
nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em và giáo dục. Ông rất chú trọng
đến hứng thú của học sinh. Ông viết : “Nhà trường kiểu mới đòi hỏi phải hoạt
động thực sự, phải làm việc một cách chủ động dựa trên nhu cầu và hứng thú
cá nhân”. Ông nhấn mạnh: Cũng giống như người lớn, trẻ em là một thực thể
mà hoạt động bị chi phối bởi quy luật hứng thú hoặc của nhu cầu. Nó sẽ
không đem lại hiệu quả đấy đủ nếu người ta không khêu gợi những động cơ
nội tại của hoạt động đó, mọi việc làm của trí thông minh đều dựa trên những
hứng thú, hứng thú chẳng qua chỉ là một trạng thái chức năng động của sự
đồng hóa.
Như vậy, khi nghiên cứu về hứng thú đã hình thành nên các xu hướng
khác nhau như nghiên cứu theo tâm lí, trong mối quan hệ của sự phát triển
nhân cách hay theo giai đoạn lứa tuổi. Đây là những nội dung quan trọng giúp
chúng tôi nghiên cứu về hứng thú nói chung, hứng thú nhận thức nói riêng.

liệu nghiên cứu (trực tiếp và gián tiếp), thông hiểu (hiểu), ghi nhớ, luyện tập
kỹ năng, kỹ xảo bằng những bài tập luyện tập” [trang 37,38]. Bên cạnh đó
Khalamôp đã nhấn mạnh vai trò của đồ dùng trực quan trong đó có hình ảnh:
hình ảnh và các loại đồ dùng trực quan có vai trò quan trọng trong việc gây
hứng thú nhận thức cho học sinh trong học tập lịch sử nhằm nâng cao chất
lượng dạy học bộ môn lịch sử trong các nhà trường phổ thông.
Đặc biệt, bộ sách đổi mới phương pháp dạy học của Tổ chức ASCD Hoa
Kỳ được Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mua bản quyền và dịch (2011) đã
5
mang đến cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý giáo dục và giáo viên có cách
tiếp cận mới mẻ về phương pháp dạy học.
Thomas Armstrong với tác phẩm “Đa trí tuệ trong lớp học” gồm 16
chương, trong đó ông cho rằng con người đều có ít nhất 8 loại trí tuệ là: trí tuệ
ngôn ngữ, trí tuệ logic – toán học, trí tuệ không gian, trí tuệ hình thể động
năng, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ giao tiếp, trí tuệ nội tâm và trí tuệ tự nhiên học
tương ứng với nó là 8 dạng khả năng tư duy. Như vậy, Thomas Armstrong đã
tiếp cận hình ảnh như một công cụ để học tập, nhớ, giải quyết vấn đề và các
dạng khác nữa của tư duy cao cấp.
Bên cạnh đó Robert J.Marzano với “Nghệ thuật và khoa học dạy học”
gồm 10 chương trong đó đi sâu vào hoạt động dạy học giúp người giáo viên
có một phần nghệ thuật và khoa học. Ông chỉ ra rằng: “cả tóm tắt và ghi chép
đều là các phương pháp tổng hợp thông tin. Thông tin cũng có thể được mã
hóa dưới dạng phi ngôn ngữ hay dưới dạng hình ảnh”[Sđd, tr.49], và sau đó,
GV giúp HS liệt kê lên bảng những khía cạnh của việc đọc bản đồ, sử dụng
bản đồ như công cụ hữu ích của việc ghi nhớ.
Ngoài những tài liệu về tâm lí học, giáo dục học vấn đề nghiên cứu còn
được thể hiện qua các công trình về phương pháp dạy học lịch sử
2.1.2. Tài liệu về giáo dục lịch sử
Do đặc trưng của bộ môn lịch sử mà các nhà giáo dục lịch sử đã đề cao
vai trò của các biện pháp tạo hình ảnh (đồ dùng trực quan, ngôn ngữ ) tiêu

công trình sau đây:
2.2.1 Tài liệu tâm lí học, giáo dục học:
Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học” ,tập I, NXB
Giáo Dục (1987) nêu khái quát vai trò, ý nghĩa của các loại đồ dùng trực quan
7
được sử dụng trong dạy học, ưu điểm cũng như nhược điểm và phương pháp
sử dụng cho từng loại. Các tác giả đã nhấn mạnh những phẩm chất quan trọng
của hứng thú nhận thức; hoạt động nhận thức tự giác, tính tích cực, tính độc lập
và tác dụng của chúng đối với kết quả học tập của HS. Các tác giả còn chỉ ra
rằng “hứng thú nhận thức, việc kiểm tra và đánh giá tri thức, rèn luyện kỹ
năng và kỹ xảo của học sinh là một khâu quan trọng của quá trình dạy học ”
Đặng Thành Hưng trong tác phẩm “Dạy học hiện đại lí luận – biện pháp
– kỹ thuật”(Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội 2002) đã nêu lên kĩ thuật sử dụng
và khai thác các phương tiện dạy học trên lớp trong đó có đồ dùng trực quan.
Ông cũng nêu lên các kĩ thuật cơ bản khi sử dụng các phương tiện để dạy học.
Chính đồ dùng trực quan và các phương tiện tạo hình ảnh là rất tốt cho HS
trong học tập.
Trần Bá Hoành trong cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học, chương
trình sách giáo khoa”(Nxb Đại Học Sư Phạm 2006) đã đề cao vai trò của việc
sử dụng đồ dùng trực quan khi thực hiện dạy học để nâng cao tính tích cực
của học sinh trong vấn đề nhận thức “muốn thực hiện dạy học tích cực cần
phải phát triển các phương pháp thực hành, các phương pháp trực quan theo
kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện” [trang 56]
2.2.2 Tài liệu giáo dục lịch sử:
Xuất phát từ nội dung, chức năng, đặc trưng của môn học mà các nhà
giáo dục lịch sử càng đề cao vai trò của hình ảnh lịch sử hay nói cách khác là
tạo biểu tượng lịch sử cũng như sử dụng hiệu quả chúng trong việc tạo hứng
thú nhận thức lịch sử nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử.
Các giáo trình Phương pháp dạy học lịch sử dùng cho sinh viên các
trường Đại học sư phạm do Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị chủ biên, xuất bản

9
biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử. Hình ảnh giúp HS khôi phục
lại bức tranh quá khứ, qua đó có biểu tượng chân thực chính xác về sự kiện,
hiện tượng lịch sử. Biểu tượng là cơ sở giúp HS nhận thức đúng bản chất của
sự kiện, hiện tượng lịch sử. Đồng thời tác giả cũng chỉ rõ các nguồn gốc của
hình ảnh. Đây là một trong những tác phẩm định hướng rất nhiều cho chúng
tôi khi thực hiện đề tài này.
Ngoài ra vấn đề trên còn được đề cập đến trong những bài báo đăng trên
các tạp chí giáo dục, tạp chí chuyên ngành, Thông tin khoa học đều khẳng
định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, các biện
pháp tạo hình ảnh nói riêng khi dạy lịch sử ở trường phổ thông. Trong đó tiêu
biểu là bài viết của tác giả Nguyễn Thị Côi“Kênh hình – một nguồn kiến thức
quan trọng” trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 23 năm 2002; Nguyễn
Thanh Nhàn “Sử dụng tranh ảnh trong dạy học lịch sử” tạp chí Nghiên cứu
giáo dục số 25 năm 2002; Trịnh Đình Tùng – Nguyễn Mạnh Hưởng (2008),
“Sử dụng CNTT để khai thác kênh hình trong SGK Lịch sử lớp 12 nhằm nâng
cao hiệu quả bài học”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay (tháng 9/ tr.36-39).
Nguyễn Mạnh Hưởng (2010), “Sử dụng CNTT để hướng dẫn HS khai thác
kênh hình khi dạy học về giải phóng miền Nam (1975)”, Tạp chí Thiết bị
Giáo dục, số 56, tr.19-21
Vấn đề này cũng được một số luận văn cao học, khóa luận tốt nghiệp của
sinh viên đề cập tới như: Dương Quỳnh Lưu, “Khai thác nội dung và phương
pháp sử dụng kênh hình phần LSTG lớp 11 PTTH” – Luận văn cao học
(1995); Dương Thị Thu (2007), “Sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa
theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS khi dạy học lịch sử lớp 11
THPT (chương trình chuẩn)”
Như vậy, có thể nói các biện pháp tạo hình ảnh nhằm gây hứng thú nhận
thức đã được bàn luận khá cơ bản ở cả công trình ngoài nước và trong nước.
10
Nhìn chung, hầu hết các tác giả đều khẳng định vai trò và ý nghĩa quan trọng

giáo dục lịch sử về vấn đề tạo hình ảnh nhằm gây hứng thú nhận thức lịch sử
cho học sinh.
Điều tra thực trạng việc sử dụng các biện pháp tạo hình ảnh trong dạy
học lịch sử ở trường Trung học cơ sở hiện nay.
Tìm hiểu chương trình, nội dung sách giáo khoa lịch sử ở trường THCS
nói chung, môn Lịch sử lớp 9 nói riêng để xác định các biện pháp tạo hình
ảnh trong dạy học lịch sử nhằm gây hứng thú nhận thức cho học sinh.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm toàn phần để khẳng định tính khả thi
của các biện pháp đã được đề tài đề xuất ở trên.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là lý luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin
về nhận thức, giáo dục và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà
nước về giáo dục và giáo dục lịch sử ở trường phổ thông.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
∗Nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các tài liệu giáo dục, tâm lí học, giáo dục lịch sử, tài liệu lịch
sử liên quan đến đề tài và nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa
lịch sử ở trường Trung học cơ sở nói chung và lớp 9 nói riêng.
* Nghiên cứu thực tiễn:
- Tiến hành điều tra, khảo sát thực tế để đánh giá mức độ, thực trạng sử
dụng các biện pháp tạo hình ảnh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học cơ
sở nhằm gây hứng thú nhận thức cho học sinh thông qua các phiếu điều tra
giáo viên, học sinh và một số nhà quản lý giáo dục ở một số trường Trung học
12
cơ sở. Dự giờ học lịch sử ở trường Trung học cơ sở, trao đổi với các thầy cô ở
phổ thông về các vấn đề mà luận văn quan tâm.
∗Thực nghiệm sư phạm: soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm
theo những dự kiến về biện pháp mà luận văn đưa ra để khẳng định tính khả
thi của các biện pháp đó.

Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
hai chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tạo hình ảnh nhằm gây
hứng thú nhận thức cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học
cơ sở.
Chương 2: Một số biện pháp tạo hình ảnh trong dạy học lịch sử nhằm
gây hứng thú nhận thức cho học sinh THCS. Thực nghiệm sư phạm.
14
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO HÌNH ẢNH
NHẰM GÂY HỨNG THÚ NHẬN THỨC CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1.1 Hình ảnh
∗Khái niệm về hình ảnh
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học 2000, giải thích hình ảnh
là: “Hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học như máy
ảnh hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng
gợi tả sống động trong cách diễn đạt” [TĐTV, tr.355]
Trong triết học, hình ảnh được coi “là kết quả của sự phản ánh khách
thể, đối tượng vào ý thức của con người. Ở trình độ cảm tính, hình ảnh là
những cảm giác, tri giác và biểu tượng. Ở trình độ tư duy, đó là những khái
niệm, phán đoán và suy luận. Về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan, về
cách nhận thức tồn tại, hình ảnh là chủ quan. Hình thức thể hiện vật chất của
hình ảnh là các hành động thực tiễn, ngôn ngữ, các mô hình kí hiệu khác
nhau” [Triết học MLN, tr.356]
Từ các quan niệm trên, chúng tôi hiểu:
Hình ảnh là những gì chúng ta thấy được thông qua thị giác rồi sau đó
chuyển về não giúp ta cảm nhận hình ảnh đó một cách chân thực nhất.

nhìn,quan sát của loài người.
16
Theo Từ điển Tiếng Việt, tạo hình là “Tạo ra các hình thể bằng đường
nét, hình khối, màu sắc” [sđd. Tr 556s]
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, tạo hình là “Thủ pháp sáng tạo nghệ
thuật bằng ngôn ngữ hình khối, màu sắc, chất cảm, không gian, bố cục”. [tr.634]
Bên cạnh đó, các nghiên cứu khoa học về lịch sử con người đã chứng
minh: Trong nhận thức con người, chúng ta không chỉ nhu cầu được quan sát
và nắm bắt sự vật, sự việc một cách tinh tường, sâu sắc, mà còn là lòng khát
khao cháy bỏng về cách thức làm sao phải truyền đạt, biểu lộ được những
điều mà con người quan sát về những đối tượng ấy để bộc lộ những tình cảm
của mình qua hình ảnh. Vì thế mà chúng ta thấy rõ rằng, từ những bức vẽ
trong hang động đến những bức tranh trong các viện bảo tàng là cả một chặng
đường dài, một bước tiến lớn lao trong lịch sử phát triển
Trên cơ sở nghiên cứu và kế thừa các quan điểm nghiên cứu trên, chúng
tôi hiểu:
Tạo hình ảnh là con người sử dụng một loạt các cách thức, biện pháp để
truyền đạt, biểu lộ được những gì mà người ta quan sát về đối tượng nhận
thức ấy.
Còn Tạo hình ảnh lịch sử trong quá trình giảng dạy là GV sử dụng các
hình thức, biện pháp nhằm giúp HS có được hình ảnh cụ thể, chính xác nhất
về nội dung lịch sử cần nhận thức.
1.1.1.2,Hứng thú nhận thức
*Hứng thú
Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho thấy hứng thú đóng vai trò quan
trọng trong việc nâng cao năng lực trí tuệ con người. Vì vậy, nghiên cứu hứng
thú rất cần thiết, nhất là trong khoa học giáo dục.
17
I.F Khalamốp định nghĩa: “Hứng thú! Đó là nhu cầu nhuốm màu sắc
của cảm xúc, đi trước giai đoạn gây động cơ và làm cho hoạt động của con

HS khi có hứng thú nhận thức sẽ có những biểu hiện tích cực như: các
em tập trung chú ý vào đối tượng bằng mọi giác quan, khát khao nhận thức,
tích cực tư duy, hình thành động cơ học tập.
PGS.TS Trần Quốc Thành, Nguyễn Thị Thu Hằng ở tạp chí tâm lí học
viện khoa học xã hội Việt Nam số 4 (145) đã khẳng định:
“Hứng thú nhận thức là khuynh hướng lựa chọn của cá nhân nhằm vào
việc nhận thức được một hoặc một số lĩnh vực khoa học nhằm vào mặt nội
dung của nó, cũng như nhằm vào quá trình hoạt động. Trong đó cá nhân
không chỉ dừng lại ở đặc điểm bề ngoài của sự vật hiện tượng mà có xu thế đi
sâu vào bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng muốn nhận thức” [ Giáo
trình sự pt,2008 tr.55]
Từ các quan niệm khoa học nêu trên, chúng tôi hiểu:
Hứng thú nhận thức là khuynh hướng lựa chọn của cá nhân nhằm vào
việc nhận thức được nội dung của một hoặc một số lĩnh vực khoa học, cũng
như nhằm vào quá trình hoạt động. Nó là cái tạo ra động cơ quan trọng nhất
của học tập, là cơ sở thái độ của chủ thể nhận thức đối với học tập, từ đó
thúc đẩy chủ thể nhận thức học tập say mê.
Tóm lại, là một trường hợp riêng của hứng thú, hứng thú nhận thức có
những đặc điểm chung của hứng thú nói chung. Nhưng đồng thời lại có
những đặc điểm riêng. Hứng thú nhận thức nhằm vào nhận thức, tiếp thu tri
thức của các môn học ở nhà trường cũng như các đối tượng trong những hoạt
19
động thực tiễn mà cá nhân quan tâm. Trong quá trình học tập, hứng thú nhận
thức không chỉ nhằm vào nội dung môn học cụ thể với những đặc điểm của
môn học đó mà còn hướng vào quá trình đạt được những kiến thức đó, vào
hoạt động nhận thức, vào việc vận dụng những phương pháp học tập đã tiếp
thu nhằm hình thành các phương pháp học tập mới.
∗Các biểu hiện của hứng thú nhận thức
Theo các nhà giáo dục: để phát hiện ra hứng thú nhận thức có thể căn cứ
vào ba nhóm dấu hiệu sau đây:

cũng như chú ý không có chủ định.
- Biểu hiện về mặt ý chí:
Sự nỗ lực của ý chí thể hiện rõ trong hoạt động nhận thức. Khi GV đặt ra
vấn đề giải quyết thì HS kiên nhẫn suy nghĩ, tìm hiểu vấn đề đó đến cùng, có
khi mất ăn, mất ngủ khi chưa tìm ra lời giải đáp. Hay chịu khó sưu tầm, ghi
chép, tích lũy kiến thức cần thiết và bổ ích ở các tài liệu tham khảo như sách
báo, tạp chí để mở rộng tri thức đã tiếp thu được ở nhà trường.
- Biểu hiện về mặt tình cảm
Các em rất thích thú, phấn khởi, chủ động dành nhiều thời gian cho việc
học. Đồng thời không thích những nhiệm vụ nhận thức quá dễ dàng mà rất
vui vẻ, say sưa vượt qua những khó khăn trong học tập.
- Biểu hiện về mặt kết quả
Khi HS có hứng thú các em thường xuyên thành công trong học tập. Đôi
khi cũng có những thất bại, vấp váp nhưng không nản chí mà biết rút ra những
bài học kinh nghiệm bổ ích từ thất bại để vươn lên đạt kết quả cuối cùng,
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status