NHÀ nước và CÁCH MẠNG xã hội CHỦ NGHĨA - Pdf 30

NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI
I. NHÀ NƯỚC:
1. Nguồn gốc và bản chất của nhà nước:
a. Nguồn gốc của nhà nước:

Lịch sử cho thấy không phải khi nào xã hội cũng có nhà nước. Trong xã hội
nguyên thuỷ, do kinh tế còn thấp kém, chưa có sự phân hóa giai cấp, cho nên chưa có nhà
nước. Đứng đầu các thị tộc và bộ lạc là các tộc trưởng do nhân dân bầu ra, quyền lực của
những người đứng đầu thuộc về uy tín và đạo đức, việc điều chỉnh các quan hệ xã hội được
thực hiện bằng những quy tắc chung. Trong tay họ không có và không cần một công cụ cưỡng
bức đặc biệt nào.
Lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn đến sự ra đời chế độ tư hữu và từ đó xã hội phân
chia thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hoà được xuất
hiện. Điều đó dẫn đến nguy cơ các giai cấp chẳng những tiêu diệt lẫn nhau mà còn tiêu diệt luôn
cả xã hội. Để thảm hoạ đó không diễn ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời. Đó là nhà
nước. Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nước chiếm hữu nô lệ, xuất hiện trong cuộc đấu
tranh không điều hoà giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Tiếp đó là nhà nước phong kiến,
nhà nước tư sản.
Nguyên nhân trực tiếp của sự xuất hiện nhà nước là mâu thuẫn giai cấp không thể điều
hoà được. Đúng như V.I.Lênin nhận định: "Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu
thuẫn giai cấp không thể điều hoà được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt
khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được, thì nhà nước xuất hiện. Và
ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều
hoà được". Nhà nước chỉ ra đời, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội
và sẽ mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa. b. Bản chất của nhà nước:
Nhà nước ra đời tựa hồ đứng ngoài xã hội, làm cho xã hội tồn tại trong vòng trật tự
nhất định nhưng trên thực tế, chỉ giai cấp có thế lực nhất - giai cấp thống trị về kinh tế mới có
đủ điều kiện lập ra và sử dụng bộ máy nhà nước. Nhờ có nhà nước, giai cấp này cũng trở

Các nhà nước được tổ chức một cách khác nhau. Song, bất kỳ nhà nước nào cũng có ba
đặc trưng cơ bản sau:
a) Nhà nước quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định.
Khác với tổ chức thị tộc, bộ lạc thời nguyên thủy được hình thành trên cơ sở những quan
hệ huyết thống, Nhà nước được hình thành trên cơ sở phân chia dân cư theo lãnh thổ mà họ
cư trú. Quyền lực nhà nước có hiệu lực với mọi thành viên trong lãnh thổ không phân biệt
huyết thống. Đặc trưng này làm xuất hiện mối quan hệ giữa từng người trong cộng đồng với
nhà nước. Mỗi nhà nước được xác định bằng một biên giới quốc gia nhất định.b) Nhà nước có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế đối với mọi
thành viên trong xã hội.
Khác với các cơ quan điều hành công việc chung trong thị tộc, bộ lạc, nhà nước của
giai cấp thống trị nào cũng có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp. Bộ máy quyền lực đó bao
gồm các đội vũ trang đặc biệt (quân đội, cảnh sát, nhà tù, v.v.) và bộ máy quản lý hành chính.
Nhà nước thực hiện quyền lực của mình trên cơ sở sức mạnh cưỡng bức của pháp luật và dùng
các thiết chế bạo lực để pháp luật của mình được thực thi trong thực tế.c) Nhà nước hình thành hệ thống thuế khóa để duy trì và tăng cường bộ máy cai trị.
Nhà nước không thể tồn tại nếu không dựa vào thuế khóa, quốc trái và các hình thức
bóc lột khác. Đó là những chế độ đóng góp có tính chất cưỡng bức để nuôi sống bộ máy cai trị.
Hệ thống thuế khóa, cống nạp như vậy hoàn toàn không có trong hình thức tổ chức xã hội thị
tộc, bộ lạc. Nó chỉ tồn tại gắn liền với hình thái tổ chức nhà nước. Bằng các hình thức khác
nhau như vậy, nhà nước của giai cấp bóc lột không những là công cụ trấn áp giai cấp mà còn
là công cụ thực hiện sự bóc lột các giai cấp bị áp bức.3. Chức năng cơ bản của nhà nước:
Bản chất giai cấp của nhà nước được thể hiện ở các chức năng của nó. Tùy theo góc

Chức năng đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và thực
hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nhà nước khác vì lợi ích của giai cấp
thống trị cũng như lợi ích quốc gia, khi lợi ích quốc gia không mâu thuẫn với lợi ích của giai
cấp thống trị. Ngày nay, trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, việc mở rộng chức năng đối
ngoại của nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt.
Cả hai chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của giai
cấp thống trị. Chúng là hai mặt của một thể thống nhất. Tính chất của chức năng đối nội quyết
định tính chất chức năng đối ngoại của nhà nước; ngược lại tính chất và những nhu cầu
của chức năng đối ngoại có tác động mạnh mẽ trở lại chức năng đối nội.

4. Các kiểu và hình thức nhà nước:
Kiểu nhà nước là khái niệm dùng để chỉ bộ máy thống trị đó thuộc về giai cấp nào, tồn
tại trên cơ sở chế độ kinh tế nào, tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội nào.
Mỗi kiểu nhà nước lại có thể tồn tại dưới các hình thức khác nhau. Hình thức nhà nước
là khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực nhà nước.
Nói cách khác đó là hình thức cầm quyền của giai cấp thống trị.
Hình thức nhà nước bị quy định bởi bản chất giai cấp của nhà nước, bởi tương
quan lực lượng giữa các giai cấp, bởi cơ cấu giai cấp - xã hội, bởi đặc điểm truyền thống chính
trị của đất nước
Tương ứng với ba chế độ xã hội có đối kháng giai cấp trong lịch sử là hình thái kinh
tế - xã hội chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế - xã hội phong kiến và hình thái kinh tế - xã hội tư
bản chủ nghĩa là ba kiểu nhà nước: nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến và nhà
nước tư sản. Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi quốc gia mà mỗi kiểu nhà nước
được tổ chức theo những hình thức nhất định. Nhà nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất "giai
cấp vô sản", nhưng lại là một kiểu nhà nước đặc biệt.Nhà nước chiếm hữu nô lệ. Đây là nhà nước của giai cấp chủ nô thời cổ đại mà tiêu
biểu là các hình thức lịch sử nhà nước chủ nô ở Hy Lạp và La Mã cổ đại như chính thể quân
chủ và chính thể cộng hoà, chính thể quý tộc và chính thể dân chủ. Các hình thức này chỉ

chúng lao động để bảo vệ lợi ích và quyền thống trị của giai cấp tư sản. Đúng như V.I.Lênin
đã đã chỉ ra: “Những hình thức của nhà nước tư sản thì hết sức khác nhau, nhưng thực
chất chỉ là một: chung quy lại thì tất cả những nhà nước ấy, vô luận thế nào, cũng tất nhiên
phải là nền chuyên chính tư sản".
Tuy nhiên có thể thấy trước khi có nền dân chủ vô sản thì nền dân chủ đạt được trong
chủ nghĩa tư bản là nấc thang khá quan trọng trong sự tiến hóa của nền dân chủ trong lịch sử.
Sự ra đời chế độ dân chủ tư sản là một bước tiến về chất trong sự phát triển của nhà nước. ở
đó, nó đã kết tinh được những giá trị dân chủ được sáng tạo ra trong thời kỳ trước khi giai
cấp công nhân cầm quyền, đồng thời thể hiện được những nhân tố mang tính nhân loại, mang
tính nhân dân chứa đựng trong một số chuẩn mực dân chủ đang được thực hiện ở các nước tư
bản chủ nghĩa. Sự phát triển hợp quy luật của các giá trị đó là những nhân tố nội tại dẫn tới
phủ định chủ nghĩa tư bản. Nền dân chủ vô sản với tư cách là nền dân chủ cao về chất so với
dân chủ tư sản cũng chỉ ra đời một khi biết kế thừa, phát triển toàn bộ những giá trị dân chủ mà
loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử, đặc biệt là những giá trị dân chủ đạt được trong chủ nghĩa
tư bản.

Nhà nước vô sản. Nhà nước vô sản là một kiểu nhà nước đặc biệt trong lịch sử. Tính
chất đặc biệt của nó trước hết là ở chỗ nó chỉ tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng
sản, nó là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử của xã hội loài người. C.Mác khẳng
định: "Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách
mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và
nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai
cấp vô sản".Sự tồn tại của nhà nước vô sản trong thời kỳ quá độ này là tất yếu vì trong thời kỳ quá
độ xã hội còn tồn tại các giai cấp bóc lột và các lực lượng xã hội, chúng chống lại sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội khiến giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải trấn áp chúng
bằng bạo lực. Hơn nữa, trong thời kỳ quá độ còn có các giai cấp và tầng lớp trung gian khác.
Do địa vị kinh tế - xã hội của mình, họ dễ dao động giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, họ

phóng dân tộc mình, mà còn có vai trò lịch sử toàn thế giới. Do vậy, chuyên chính vô sản còn
phải làm nghĩa vụ quốc tế của mình, bằng việc giúp đỡ từ mọi phương diện có thể được cho
cuộc đấu tranh của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Nhà nước vô sản là tổ chức, thông qua đó, Đảng của giai cấp công nhân thực hiện vai
trò lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội. Không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhà
nước đó không giữ được bản chất giai cấp công nhân của mình. Do vậy, bảo đảm vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước là nguyên tắc sống còn của chuyên chính vô
sản. Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước không chỉ là yếu tố bảo đảm bản chất giai cấp
vô sản của nhà nước, mà còn là điều kiện để giữ tính nhân dân của nhà nước đó. Đây cũng là
một tính chất đặc biệt của nhà nước vô sản.
Nhà nước vô sản có thể tồn tại dưới các hình thức khác nhau. Công xã Pari năm 1871
đã sản sinh ra nhà nước vô sản kiểu Công xã. Hình thức thứ hai của chuyên chính vô sản là
Xôviết. ở một số nước, nhà nước vô sản còn tồn tại dưới hình thức nhà nước dân chủ nhân
dân v.v Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội mang lại cho nhà nước vô sản nhiều hình thức
mới. Tính đa dạng của nhà nước đó tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của thời điểm xác lập
nhà nước ấy, tùy thuộc vào tương quan lực lượng giữa các giai cấp và khối liên minh giai cấp
tạo thành cơ sở xã hội của nhà nước, tùy thuộc vào nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội mà nhà
nước đó phải thực hiện, tùy thuộc vào truyền thống chính trị của dân tộc. Hình thức cụ thể của
nhà nước trong thời kỳ quá độ có thể rất khác nhau, nhưng bản chất của chúng chỉ là một:
chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.

- Các hình thức của nhà nước chuyên chính vô sản: - Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
nhất định, chúng trở thành những bộ phận hợp thành của cách mạng xã hội.
Đảo chính là thủ đoạn giành quyền lực nhà nước bởi một cá nhân hoặc một nhóm người
nhằm xác lập một chế độ xã hội có cùng bản chất. Đảo chính không động đến chế độ xã hội và
không phải là phong trào cách mạng của quần chúng, cho nên đảo chính khác hoàn toàn với
cách mạng xã hội.
b. Nguyên nhân của cách mạng xã hội:Nguyên nhân sâu xa của cách mạng xã hội là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định thì quan hệ sản
xuất cũ trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của các lực lượng sản xuất. “Từ chỗ là những
hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những
xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội”.
Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu
hiện về mặt xã hội thành mâu thuẫn giữa giai cấp cách mạng, đại biểu cho lực lượng
sản xuất mới với giai cấp thống trị dùng mọi thủ đoạn, đặc biệt là sử dụng công cụ nhà nước
có trong tay để bảo vệ, duy trì quan hệ sản xuất lỗi thời. Để thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng
quan hệ sản xuất mới cao hơn và làm cho nó trở thành quan hệ sản xuất thống trị nhằm giải
phóng mình, giai cấp cách mạng phải tiến hành đấu tranh chống lại giai cấp thống trị,
phải giành lấy chính quyền nhà nước. Do vậy, cách mạng xã hội là đỉnh cao của đấu tranh
giai cấp và là bước nhảy vọt tất yếu trong sự phát triển của xã hội có giai cấp; vấn đề chính
quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.

c. Vai trò của cách mạng xã hội:Các cuộc cách mạng xã hội có vai trò to lớn trong đời sống xã hội. Chỉ có cách mạng
xã hội mới thay thế được quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới, tiến bộ, thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển; mới thay thế được hình thái kinh tế - xã hội cũ bằng hình thái kinh
tế - xã hội mới cao hơn. Cách mạng xã hội là bước chuyển biến vĩ đại trong đời sống xã hội

Động lực của cách mạng xã hội là những giai cấp có lợi ích gắn bó chặt chẽ và lâu dài
đối với cách mạng. Tùy theo điều kiện lịch sử cụ thể, động lực của cách mạng xã hội cũng thay
đổi.
Vai trò lãnh đạo trong cách mạng xã hội thuộc về giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của
thời đại, là giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới, là giai cấp tiến bộ nhất trong số các
giai cấp đang tồn tại. Chẳng hạn, giai cấp tư sản là giai cấp lãnh đạo trong cách mạng tư sản,
giai cấp vô sản là giai cấp lãnh đạo trong cách mạng vô sản.

2. Quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong cách mạng xã
hội:
Cách mạng xã hội chỉ có thể nổ ra, việc giành chính quyền chỉ trở thành nhiệm vụ trực
tiếp, khi đã có những điều kiện khách quan cần thiết đã chín muồi tạo thành tình thế cách
mạng.
Tình thế cách mạng là sự chín muồi của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất, của mâu thuẫn giai cấp trong xã hội dẫn tới những đảo lộn trong nền tảng kinh tế
- xã hội, tạo nên một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc khiến cho việc thay thế thể chế
chính trị đó bằng thể chế chính trị khác tiến bộ hơn như là một thực tế không thể đảo ngược.
Kinh nghiệm lịch sử đã chứng minh rằng nếu chưa có những điều kiện khách quan
cho một cuộc cách mạng xã hội thì không có một nỗ lực nào của người cách mạng có thể
đưa cách mạng đến thắng lợi. Nhưng một khi điều kiện khách quan cho cuộc cách mạng đã
chín muồi, thì vận mệnh của một cuộc cách mạng lại hoàn toàn tùy thuộc vào nhân tố chủ quan
và lúc đó nhân tố chủ quan là nhân tố chủ đạo.
Muốn cho cách mạng xã hội nổ ra và giành thắng lợi, ngoài tình thế cách mạng, còn
phải có sự chín muồi của nhân tố chủ quan và sự kết hợp đúng đắn nhân tố chủ quan với điều
kiện khách quan.
Sự chín muồi của nhân tố chủ quan trong cách mạng xã hội biểu hiện ở trình độ cao
của tính tổ chức, ở mức độ quyết tâm đến đỉnh điểm của giai cấp cách mạng sẵn sàng tiến

Phân tích đặc điểm nhà nước tư sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, V.I Lênin đi tới kết
luận về tính tất yếu phổ biến của cách mạng bạo lực: “Nhà nước tư sản bị thay thế bởi nhà nước
vô sản (chuyên chính vô sản) không thể bằng con đường "tiêu vong" được, mà chỉ có thể, theo
quy luật chung, bằng một cuộc cách mạng bạo lực thôi”.
Trong lịch sử nhân loại, chưa có giai cấp cách mạng nào giành được chính quyền nhà
nước bằng con đường từ bỏ bạo lực. Ngay cả khi cách mạng được thực hiện dưới hình thức
tương đối hoà bình, do giai cấp thống trị lỗi thời không còn đủ khả năng sử dụng sức mạnh
để giữ nhà nước của nó, thì giai cấp cách mạng vẫn phải dùng bạo lực làm hậu thuẫn, làm
điều kiện để sẵn sàng đập tan sự phản kháng của giai cấp thống trị, nếu nó dùng bạo lực để
chống lại.
Trong khi khẳng định cách mạng bạo lực, những người mácxít không phủ nhận khả
năng đưa cách mạng xã hội tiến lên bằng phương pháp hoà bình, kể cả việc sử dụng “con đường
nghị trường"; song nó chỉ có thể được bảo đảm khi có sức mạnh của phong trào quần chúng -
bạo lực cách mạng - làm hậu thuẫn.Xu thế từ đối đầu chuyển sang đối thoại hiện nay không bác bỏ quan điểm mácxít về bạo
lực cách mạng. Xu thế đó được tạo ra bởi chính sự lớn mạnh của các phong trào cách mạng và
hoà bình, bởi tương quan lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng. Trong khi không ngớt
rêu rao về sự cần thiết phải giải quyết xung đột bằng con đường đối thoại, nhưng lực lượng đế
quốc đã vẫn luôn sẵn sàng sử dụng bạo lực hết sức tàn nhẫn ở nhiều khu vực trên thế giới để áp
đặt quan điểm “hoà bình”, “dân chủ”, “nhân quyền” của họ.
Trong thời đại hiện nay, trước sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ,
sự biến đổi phức tạp của các trào lưu cách mạng, đặc biệt là tình trạng tạm thời khủng hoảng của
chủ nghĩa xã hội, các nhà lý luận tư sản đã lớn tiếng bác bỏ lý luận cách mạng xã hội của
chủ nghĩa Mác - Lênin.
Tuy nhiên, dù các lý luận gia tư sản có bác bỏ thế nào đối với lý luận cách
mạng xã hội thì cũng không thể bác bỏ được tính quy luật vận động, phát triển của các
hình thái kinh tế – xã hội là phải thông qua các cuộc cách mạng xã hội. Hình thái kinh tế-xã
hội tư bản chủ nghĩa không thể là hình thái kinh tế xã hội vĩnh viễn của lịch sử, nó tất yếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status