Tư tưởng hồ chí minh về nguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người ở thành phố cần thơ hiện nay - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÂM THỊ KHO
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở THÀNH PHỐ
CẦN THƠ HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2014


Hà Nội - 2014
1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Lại Quốc Khánh. Thông tin
và số liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác,
các trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc.
Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với công trình nào khác.

Tác giả luận văn Lâm Thị Kho 2

MỤC LỤC

CẦN THƠ HIỆN NAY THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH 50
2.1 . Thực trạng phát huy nguồn lực con ngƣời ở thành phố Cần Thơ
giai đoạn (2005 - 2013) 50
2.1.1. Đặc điểm nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ 50
2.1.2. Những thành tựu và hạn chế trong phát huy nguồn lực con người ở
thành phố Cần Thơ từ năm 2005 đến 2013 54
2.1.2.1. Thành tựu 54
2.1.2.2. Hạn chế 59
2.1.3. Nguyên nhân của hạn chế và bài học kinh nghiệm phát huy nguồn lực
con người ở thành phố Cần Thơ 64
2.1.3.1. Nguyên nhân của hạn chế 64
2.1.3.2. Bài học kinh nghiệm 67
2.1.4. Những vấn đề đặt ra đối việc phát huy nguồn lực con người ở thành phố
Cần Thơ đến năm 2020 68
2.2 . Phƣơng hƣớng và những giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con ngƣời ở
thành phố Cần Thơ đến năm 2020 theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh 72
2.2.1. Phương hướng phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ đến
năm 2020 72
2.2.2. Những giải pháp phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ đến
năm 2020 75
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC

4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc phân theo thành thị và
nông thôn so với dân số 51

là nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển chiếm vị trí đặc
biệt quan trọng. Thực tế cho thấy, sự nghiệp đổi mới nước ta đang đặt ra
những yêu cầu mới cho nguồn lực con người và việc phát huy nguồn lực con
người, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Phát triển, nâng cao chất
lượng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những
2

yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước” [23, tr. 41]; nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực và phát triển nhân tài là nhân tố quyết định thắng
lợi của cách mạng Việt Nam. “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu
tố quyết định đẩy mạnh phát triển ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại
nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng
nhất, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững” [23, tr. 130].
Như vậy, con người thực sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của
mọi tài nguyên, là nguồn lực nội sinh quan trọng quyết định thành công sự
nghiệp cách mạng.
Hòa vào xu thế chung của cả nước, thành phố Cần Thơ đang chuyển
đồi mô hình tăng trưởng theo hướng đào tạo, phát huy nguồn nhân lực chất
lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương và hội nhập kinh quốc
tế. Đại hội Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ XII nêu phương hướng phát
triển thành phố giai đoạn 2010 - 2020: “Thực hiện tốt tiêu chí về con người
Cần Thơ trí tuệ, năng động, nhân ái, hào hiệp, thanh lịch. Đào tạo, thu hút, sử
dụng nguồn nhân lực có chất lượng và hiệu quả, quan tâm đội ngũ cán bộ nữ,
trẻ, người dân tộc” [31].
Đào tạo và phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ trong
những năm qua đã giành được những thắng lợi đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh
những thành tựu đạt được, việc đào tạo, phát huy nguồn lực con người ở Cần
Thơ còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng chung đến sự phát triển của thành phố.
Làm thế nào để phát huy nguồn lực con người, nguồn lực trí tuệ con người ở

công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay.
Lê Thị Ngân (2004), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận
kinh tế tri thức ở Việt Nam, luận án tiến sỹ kinh tế chính trị xã hội chủ nghĩa,
4

Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [73]. Với đề tài này, tác giả Lê Thị
Ngân đã làm rõ khái niệm nguồn lực con người, những yêu cầu đặt ra đối với
việc phát triển nguồn lực con người và giải pháp phát huy nguồn lực con
người trong thời kỳ tiếp cận nền kinh tế tri thức ở nước ta.
2.2 Các sách chuyên khảo
Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp
hoá hiện đại hoá (Nghiên cứu xã hội học), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội [43].
Cuốn sách là sự chuyển tải nội dung của Chương trình khoa học công
nghệ cấp Nhà nước: “Con người Việt Nam - Mục tiêu và động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội”. Đây là một công trình được thực hiện một cách cẩn
trọng, có chất lượng, đem lại những thành tựu to lớn và quan trọng trong lĩnh
vực nghiên cứu về con người và phát huy nguồn lực con người. Trong cuốn
sách này, các tác giả đã phân tích khái quát truyền thống văn hoá dân tộc, đi
sâu làm rõ vấn đề phát huy và sử dụng đúng đắn vai trò động lực của con
người trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đó, các tác giả đặt vấn đề
chuẩn bị con người Việt Nam phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Lưu Ngọc Trịnh (1996), Chiến lược con người trong “Thần kỳ kinh tế
Nhật Bản”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [81].
Trong tác phẩm này, tác giả Lưu Ngọc Trịnh đã phân tích vai trò quyết
định của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và
trong nền kinh tế thị trường nói riêng. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu quá trình
phát huy và sử dụng nguồn lực con người trong công cuộc phát triển kinh tế
Nhật Bản, tổng kết những bài học của họ và đưa ra những gợi ý rất quan trọng

6

- Trí tuệ và nguồn lực trí tuệ; vai trò của nguồn lực trí tuệ và những
điều kiện chủ yếu phát huy nguồn lực trí tuệ trong sự phát triển xã hội nói
chung.
- Đặc điểm, thực trạng phát huy và xu hướng phát triển của nguồn lực
trí tuệ của con người Việt Nam hiện nay.
- Những phương hướng và giải pháp chủ yếu phát huy nguồn lực trí tuệ
Việt Nam trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
2.3 Các bài báo đăng trên các tạp chí
- Phạm Ngọc Anh với nhiều công trình bàn đến vấn đề này như:
“Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, đăng
trên Tạp chí Nghiên cứu lý luận số 2, 1995 [1]; “ Nguồn lực con người từ tư
tưởng Hồ Chí Minh đến quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam” đăng trên
website tutuonghochiminh.vn, bài đăng ngày 18- 10- 2012 [91] và “Quan
niệm Hồ Chí Minh về vai trò động lực của lợi ích”, đăng trên Tạp chí Lịch sử
Đảng, số 4, 1999 [2]. Tác giả Phạm Ngọc Anh đã làm sáng tỏ một số quan
niệm của Hồ Chí Minh về nguồn lực con người, khẳng định vai trò quyết định
của nguồn lực con người; phân tích sâu sắc về lợi ích, nguồn động lực quan
trọng thúc đẩy người lao động phát huy tài năng, trí tuệ của mình, đồng thời
đưa ra các giải pháp, đặc biệt là chăm lo đến lợi ích của người lao động nhằm
phát huy nguồn lực con người trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
Nguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người cũng là những
nội dung quan trọng được đề cập nhiều trong một số bài viết sau đây:
- Nguyễn Trọng Chuẩn, : “Nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội”, Tạp chí Triết học, số 4, 1990 [9].
7


Nhìn tổng quan, đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh về con người, nguồn lực con người ở nhiều góc độ khác nhau.Tuy
nhiên, vẫn còn khá ít những công trình nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng Hồ
Chí Minh về nguồn lực con người cũng như vận dụng tư tưởng đó trong việc
phát huy nguồn lực con người đặc biệt là nghiên cứu, vận dụng trên địa bàn
thành phố Cần Thơ.
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn lực con người là một đề
tài mới chưa có nhiều công trình nghiên cứu, các sách chuyên khảo. Do đó,
việc tiếp tục đi vào nghiên cứu một cách căn bản, có chiều sâu vấn đề này là
hết sức cần thiết nhất là trong giai đoạn hiện nay khi cả nước đang chuyển đổi
mô hình tăng trưởng kinh tế - xã hội.
Dù chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
về nguồn lực con người nhưng những nguồn tài liệu kể trên là hết sức quan
trọng và quý báu để tác giả luận văn có điều kiện kế thừa kết quả nghiên cứu
của những người đi trước để vận dụng vào việc phát huy nguồn lực con người
ở thành phố Cần Thơ hiện nay.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về
nguồn lực con người, luận văn tập trung phân tích thực trạng phát huy nguồn
lực con người ở thành phố Cần Thơ giai đoạn hiện nay, chỉ ra những hạn chế,
tìm nguyên nhân để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát huy có hiệu quả
nguồn lực con người ở Cần Thơ đến năm 2020 theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng hợp, khái quát và phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh về nguồn lực con người.
9

- Phân tích thực trạng, những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của hạn
chế việc phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ hiện nay.

con người ở thành phố Cần Thơ, thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế
đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm phát huy nguồn lực con người
ở thành phố Cần Thơ dến năm 2020 theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Với những kết quả đạt được, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham
khảo trong việc giảng dạy và nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt đối
với các công trình nghiên cứu thực tiễn phát huy nguồn lực con người ở thành
phố Cần Thơ.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ nội dung cơ
bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn lực con người, qua đó vận dụng
vào việc phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ hiện nay
- Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với việc đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực cho thành phố Cần Thơ đến năm 2020 theo tư
tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế tri thức.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục các bảng, danh
mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 4 tiết.
11

Chƣơng 1
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGUỒN LỰC CON NGƢỜI

1.1 Khái niệm con ngƣời, nguồn lực con ngƣời và phát huy nguồn
lực con ngƣời
1.1.1 Khái niệm con người
Suốt tiến trình phát triển lịch sử xã hội, con người không ngừng nhận
thức và cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân. Thông qua quá trình đó, con
người từng bước phát triển nhận thức về sự tồn tại, phát triển của chính mình.
Trong thời kỳ cổ đại, người ta cho rằng con người cũng như các sinh thể vật
chất khác đều do những nguyên tố cụ thể nào đó tạo ra như: nước, lửa, không

mục tiêu giải phóng dân tộc với giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Trong đó, vấn đề con người, chăm lo cho con người, phát huy nguồn lực con
người để hướng đến giải phóng con người một cách triệt để là vấn đề được đặt
lên hàng đầu, là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng, hành
động của Người.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan niệm về con người được xây dựng
trên nền tảng quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử. Bản chất của con
người được Hồ Chí Minh quan niệm là tổng hòa của các quan hệ xã hội từ
hẹp đến rộng. Người từng khẳng định: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình,
anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả
loài người” [60, tr. 644]. Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con người một
cách trừu tượng mà luôn luôn xuất phát từ con người hiện thực, cụ thể trong
các quan hệ xã hội với nhiều bình diện, chiều cạnh khác nhau. Xuất phát từ
những luận điểm đúng đắn đó, trong suốt quá trình lãnh đạo nhân dân cả nước
tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội,
Người luôn tin vào sức mạnh của con người, hết lòng thương yêu con người,
quý trọng con người, quan tâm bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người.
13

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù
bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một
cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ
bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của chế độ phong kiến, đế quốc; là dân
tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là
những “người nô lệ mất nước” và “người cùng khổ”.
Tiếp thu quan điểm của Chủ Nghĩa Mác - Lênin cho rằng con người là
một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội, Hồ Chí Minh
luôn quan niệm con người là một hệ thống cấu trúc bao gồm tổng hoà nhiều
yếu tố hợp thành như: thể xác và tâm hồn, thể lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái
xã hội… “Con người ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu,

chất to lớn, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng tất cả vì
con người.
1.1.2 Khái niệm nguồn lực con người
Trước khi bàn đến khái niệm nguồn lực con người cần tìm hiểu nội
hàm nguồn lực. Trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học không
định nghĩa mục từ “nguồn lực”. Theo Collins English - English Dictionary,
khái niệm “Resource” (tương đương với từ “nguồn lực” trong tiếng Việt)
được xác định bao gồm hai hàm nghĩa. Thứ nhất, nguồn lực được hiểu là các
nguồn lực của một tổ chức hay một người là những nguyên vật liệu, tiền bạc
và những gì mà nó, anh ta có và có thể sử dụng để thực hiện các chức năng
một cách hợp thức. Thứ hai, nguồn lực được hiểu là các nguồn lực của một
quốc gia là những gì mà nó có và có thể sử dụng để gia tăng sự giàu có
của nó.
Như vậy, có thể hiểu nguồn lực là những gì mà một tổ chức hay cá
nhân sở hữu và có thể sử dụng để làm gia tăng giá trị (chẳng hạn như sự giàu
15

có) cho quốc gia, tổ chức hay cá nhân ấy. Với cách hiểu nguồn lực là nguồn
mang đến sức mạnh, sự giàu có, thịnh vượng cho một tổ chức, các nhân hay
một quốc gia, khái niệm nguồn lực có lúc được dùng thay thế nhau với khái
niệm vốn: “nguồn lực con người” - “vốn con người”, “nguồn lực trí tuệ” -
“vốn trí tuệ”,… Theo cách hiểu trên thì nguồn lực con người là khái niệm
dùng để chỉ con người với tư cách là cội nguồn đem đến sức mạnh, sự giàu
có, thịnh vượng cho một quốc gia. Như vậy nghiên cứu nguồn lực con người
là nghiên cứu con người trên phương diện là một nguồn lực của quốc gia.
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn lực con người hay nguồn
nhân lực.
Theo tác giả Nguyễn Văn Phúc trong công trình “Khai thác và phát
triển tài nguyên nhân lực Việt Nam” [74], nguồn lực con người được hiểu là
tài nguyên con người hay vốn con người, tức xem xét nguồn lực con người

lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra
mọi giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn lực con người
dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo
không ngừng nâng cao năng lực xã hội của con người thông qua giáo dục, đào
tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại xem xét nguồn lực con
người dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó, phải
chuyển nguồn lực sang trạng thái động, thành vốn con người, tức là nâng cao
tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải
pháp giải phóng triệt để tiềm năng con người. Con người với tiềm năng vô
tận, nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá
trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác, phát huy trở thành nguồn
vốn vô cùng to lớn. Vì vậy, nguồn lực con người được hiểu là “tổng hoà
trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội của con người(thể lực, trí lực,
17

nhân cách) và tính năng động xã hội của con người. Tính thống nhất đó được
thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người”[3, tr. 11].
Từ những quan niệm khác nhau của các tác giả, có thể hiểu nguồn lực
con người là tổng hợp những con người cụ thể có khả năng tham gia vào quá
trình lao động với các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực; tiềm năng lao động
của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ
năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách)và tính năng động xã hội của con
người, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng, quốc gia. Tính thống nhất đó
được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người đáp
ứng yêu cầu phát triển.
Như vậy, khi nói đến “nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực”, có
thể khẳng định đó là tổng hoà các tiềm năng của con người, tổ chức xã hội có
thể khai thác và thu hút vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Khái niệm
này bao gồm một số tiêu chí sau:
- Là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần,

Thứ hai, phát huy nguồn lực con người được hiểu là quá trình nâng cao
năng lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân
bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ
thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội.
Phát huy nguồn lực con người của một quốc gia: chính là sự biến đổi về
số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng,
kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ
cấu nguồn nhân lực . Nói một cách khái quát, phát huy nguồn lực con người
chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến
bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người.
19

Như vậy, phát huy nguồn lực con người với nội hàm trên đây thực chất
là đề cập đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của
nguồn nhân lực của một quốc gia. Bước vào thời kỳ phát triển kinh tế tri thức
và hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia đều quan tâm đến xây dựng, phát
huy nguồn lực con người nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một
người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng
với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn,
kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành
nghề). Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng.
Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là muốn nói đến tổng thể nguồn nhân lực
của một quốc gia, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu
thành đặc biệt quan trọng, có chất lượng nhất. Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân
lực chất lượng cao không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng
nguồn nhân lực nói chung của một quốc gia.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được
yêu cầu của thị trường đó là: có kiến thức: chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status