xác định tỷ lệ bệnh và hiệu quả của thuốc glucobay trong điều trị tiểu đường ở chó tại một số bệnh xá thú y thuộc thành phố cao lãnh, tỉnh đồng tháp - Pdf 30



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
….…. LÊ THỊ BẢO TRÂM Tên đề tài:
XÁC ĐỊNH TỶ LỆ BỆNH VÀ HIỆU QUẢ CỦA THUỐC
GLUCOBAY TRONG ĐIỀU TRỊ TIỂU ĐƯỜNG Ở CHÓ
TẠI MỘT SỐ BỆNH XÁ THÚ Y THUỘC THÀNH PHỐ
CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP Luận văn tốt nghiệp
Ngành DƯỢC THÚ Y
Cần Thơ, 2014

i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
….….

Đề tài: “Xác định tỷ lệ bệnh và hiệu quả của thuốc Glucobay trong điều
trị tiểu đường ở chó tại một số bệnh xá thú y thuộc Thành Phố Cao Lãnh,
Tỉnh Đồng Tháp” do sinh viên Lê Thị Bảo Trâm thực hiên tại phòng mạch
thú y Nam Thuỷ và chi cục thú y thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp từ
tháng 08/2014 đến tháng 11/2014.
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2014 Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2014
Duyệt bộ môn Duyệt giáo viên hướng dẫn
NGUYỄN DƯƠNG BẢO Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2014
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

iii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quãng đường học tập và rèn luyện kiến thức, tôi luôn được cha mẹ,
anh chị em trong gia đình ủng hô, động viên, cùng với sự dìu dắt tận tình của thầy
cô, tôi đã hoàn thành cơ bản chuyên ngành Dược Thú y và kết thúc khoá học bằng

Danh mục từ viết tắt vii
Danh sách bảng viii
Danh sách hình ix
Tóm lược x
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 Cấu tạo và chức năng tuyến tuỵ của chó 2
2.1.1 Cấu tạo 2
2.1.2 Chức năng 2
2.2 Cấu trúc và vai trò của insulin 3
2.2.1 Cấu trúc của insulin 3
2.2.2 Vai trò của insulin 4
2.3 Bệnh tiểu đường 5
2.3.1 Khái niệm 5
2.3.2 Phân loại bệnh tiểu đường 5
2.3.3 Cách sinh bệnh 6
2.4 Các triệu chứng lâm sàng 7
2.5 Chẩn đoán cận lâm sàng 9
2.6 Chẩn đoán phân biệt 9

v

2.7 Biến chứng của bệnh tiểu đường 9
2.7.1 Đục thuỷ tinh thể 10
2.7.2 Bệnh lý võng mạc do tiểu đường 10
2.7.3 Bệnh lý thận tiểu đường 10
2.7.4 Bệnh lý thần kinh do tiểu đường 10
2.7.5 Biến chứng mạch máu lớn 11

5.1 Kết luận 25
5.2 Đề nghị 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Tài liệu nước ngoài: 26
Tài liệu tiếng việt: 26
Tài liệu Internet: 27
PHỤ CHƯƠNG 1: KẾT QUẢ THỐNG KÊ 28
PHỤ CHƯƠNG 2: BỆNH ÁN THEO DÕI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG TRÊN
CHÓ 29
PHỤ CHƯƠNG 3: THUỐC ĐIỀU TRỊ 31
PHỤ CHƯƠNG 4: BẢNG SỐ LIỆU THÔ 33 vii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

AAHA: American Animal Hospital Association
Cl: Clo
dl: Decilit
GH: Growth hormone
IDDM: Insulin-Dependent Diabetes Mellitus
l: Lít
mg: Miligram
mmol: Milimol
Na: Natri
NIDDM: Noninsulin-Dependent Diabetes Mellitus
STT: Số thứ tự
WSAVA: World Small Animal Verterinary Association


4.5
Tần suất xuất hiện các triệu chứng lâm sàng trên chó mắc bệnh
tiểu đường
22
4.6
Tỷ lệ bệnh tiểu đường tiền lâm sàng và lâm sàng trên chó tại 2
phòng mạch thú y
23
4.7
Hiệu quả điều trị của thuốc Glucobay 50mg trong bệnh tiểu
đường của chó
24

ix

DANH SÁCH HÌNH

Hình
Tên hình
Trang
2.1
Tuyến tuỵ của chó
2
2.2
Túi tuyến tuỵ
2
2.3
Đảo tuỵ và các nang tuyến xung quanh
3
2.4

tiểu đường ở chó tại một số bệnh xá thú y thuộc Thành phố Cao Lãnh, Tỉnh
Đồng Tháp” được thực hiện từ tháng 08 đến tháng 11 năm 2014 tại phòng mạch
thú y Nam Thuỷ và chi cục thú y Tỉnh Đồng Tháp với mục tiêu là xác định tỷ lệ bệnh
tiểu đường trên chó và thử hiệu quả điều trị của thuốc Glucobay 50mg.
Trong tổng số 632 con chó đến khám và điều trị tại 2 phòng mạch, chúng tôi
đã tiến hành hỏi bệnh, khám lâm sàng và đã xác định có 189 ca nghi ngờ bị bệnh
tiểu đường. Kết quả định lượng đường huyết bằng máy EasyGluco đã xác định có
38 ca chó mắc bệnh tiểu đường, chiếm tỷ lệ 6,01%. Trong đó có 36 ca là tiểu đường
tiền lâm sàng, chiếm tỷ lệ 94,74% và 2 ca tiểu đường lâm sàng, chiếm tỷ lệ 5,26%.
Tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường ở chó cái (9,09%), chó đực (3,28%). Chó từ 1 đến 5 năm
mắc bệnh tiểu đường với tỷ lệ 2,36%, từ 5 đến 9 năm bị bệnh với tỷ lệ 9,39% và chó
trên 9 năm tuổi có tỷ lệ bệnh là 27,27%. Các giống chó Fox, Chi Huahua bị bệnh
tiểu đường với tỷ lệ 12,19%, các giống chó Nhật, Bắc Kinh bị bệnh với tỷ lệ
10,66%, 3,01% và 3,45% là tỷ lệ bệnh của các giống chó ta và chó Bergie. Thuốc
Glucobay 50mg có hiệu quả điều trị tốt đối với những ca chó bị bệnh tiểu đường
tiền lâm sàng: có đến 89,18% số ca tiền tiểu đường ở mức kiểm soát tốt, 5,41% ca
tiền tiểu đường kiểm soát ở mức thuyên giảm, và 5,41% ca tiểu đường lâm sàng
kiểm soát đường huyết kém.

1

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trong các loài vật nuôi thì chó là loài động vật thông minh, nhanh nhẹn, trung
thành và rất dễ gần gũi với con người. Vì thế mà ngày nay nhu cầu của con người
về việc nuôi chó ngày càng gia tăng. Bên cạnh việc gia tăng số lượng thì tình hình
bệnh xảy ra trên chó cũng ngày càng nhiều và phức tạp hơn, trong đó có bệnh tiểu
đường.
Bệnh tiểu đường hay còn gọi là bệnh đái tháo đường, là một bệnh rối loạn
chuyển hóa diễn ra thầm lặng trong cơ thể con vật, một khi các biến chứng do bệnh

nhỏ đổ vào tá tràng chung với ống chính dẫn mật hay gần ống chính dẫn mật, ống
lớn đổ vào tá tráng cách xa về phía sau hạ vị 3 - 5cm (Lăng Ngọc Quỳnh, 2007).

Hình 2.1: Tuyến tuỵ của chó
Nguồn:
2.1.2 Chức năng
Tuyến tuỵ có 2 chức năng vừa nội tiết vừa ngoại tiết:
Tuyến tuỵ ngoại tiết là phần quan trọng của cơ quan tiêu hoá bao gồm các túi
tuyến tuỵ (Acini) tiết dịch tuỵ (lipaza, amilaza, trypsin…) và đổ vào tá tràng bằng
một hoặc một số ống dẫn để tiêu hoá các chất như: đạm, chất béo, carbohydrat
(Miller et al., 1964). Hình 2.2: Túi tuyến tuỵ
Nguồn:

3


acid amin hoặc acid béo thành glucose, vì vậy nó chống lại bất cứ hoạt động chuyển
hoá nào làm gia tăng lượng đường trong máu (Nguyễn Đình Giậu, Nguyễn Chi Mai
và Trần Thị Việt Hồng, 2000)
Ở gan, Insulin thúc đẩy glucose được hấp thu từ ruột vào máu sau bữa ăn
thành dạng glycogen dự trữ. Nhưng phần lớn glucose được chuyển thành lipid (acid
béo tự do, acid béo chưa este hoá, triglyceride). Lipid sẽ được giải phóng vào máu
dưới dạng lipoprotein có tỷ trọng thấp, sau đó được đưa đến dự trữ trong các mô
mỡ. Ngược lại, sự giải phóng glucose vào máu bị ức chế.
Ở mô mỡ, sự phân giải chất béo bị ức chế và sự thu nạp glucose được thúc
đẩy. Glucose cung cấp glycerol cho sự este hoá acid béo để tạo thành triglyceride là
dạng dự trữ lipid ở mô mỡ.
Ở cơ, quá trình chuyển hoá chất béo bị ức chế và quá trình tổng hợp glycogen
được thúc đẩy. Khi cơ hoạt động, glycogen sẽ nhanh chóng phân giải thành glucose
để tạo năng lượng cho cơ thể (Lê Thị Luyến, 2010)
Sự thiếu Insulin làm cho hàm lượng glucose trong máu tăng lên và gây ra bệnh
tiểu đường đồng thời làm xáo trộn sự biến dưỡng các dưỡng chất như: lipid, protid,
carbohydrat.
Khi cơ thể có quá nhiều Insulin thì làm cho hàm lượng glucose trong máu
giảm đi do con vật bị khối u tuyến tuỵ hay do tiêm Insulin quá liều trong quá trình
đều trị (Nguyễn Thị Kim Đông và Nguyễn Văn Thu, 2009).
Hình 2.5: Insulin điều hòa glucose trong máu

đường type 1 ở chó (Rand, Fleeman et al., 2004).
Bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin (Noninsulin dependent diabetes
mellitus – NIDDM – type 2)
Tiểu đường type 2 thường gặp ở chó già, béo phì, ít vận động…Trong đó béo
phì được coi là nhân tố có khả năng cao gây ra bệnh tiểu đường ở chó (Richard W.
Nelson, 2005).
Nguyên nhân của bệnh tiểu đường type 2 thường là do các yếu tố di truyền,
môi trường hay hiện tượng kháng Insulin, nguy cơ bệnh gia tăng theo quá trình lão
hoá (Rand, Fleeman et al., 2004).

6

Bệnh ít có triệu chứng rõ ràng và diễn biến chậm. Tỷ lệ đái tháo đường type 2
tăng dần theo tuổi, các yếu tố như nhiễm trùng hoặc bệnh lý khác thường là nguyên
nhân khởi phát của bệnh. Khi tế bào  không còn khả năng bài tiết đủ Insulin để bù
vào số lượng Insulin bị kháng thì đường huyết lúc đói sẽ tăng và xuất hiện tiểu
đường (Đỗ Trung Quân, 2001).
Tiểu đường tạm thời
Bệnh tiểu đường ở dạng này không phổ biến ở chó và chỉ xảy ra đối với chó
mắc bệnh tiểu đường cận lâm sàng khi được điều trị bằng thuốc đối kháng Insulin
(ví dụ: glucocorticoid) hoặc đang trong giai đoạn đầu của rối loạn kháng Insulin.
Những con chó này bệnh có thuyên giảm và các tế bào  vẫn đầy đủ khối lượng để
duy trì khả năng dung nạp carbohydrat khi không có kháng Insulin nhưng không thể
tiết đủ lượng Insulin làm cho đường huyết ổn định khi có kháng Insulin (Richard W.
Nelson, 2005).
Tiểu đường tiền lâm sàng và tiểu đường lâm sàng
Tiểu đường tiền lâm sàng (tiền tiểu đường): khi hàm lượng glucose huyết đo
được từ 109 đến 179 mg/dl (6,1– 9,9 mmol/l)
Tiểu đường lâm sàng (tiểu đường): khi hàm lượng glucose huyết đo được lớn
hơn hoặc bằng 180 mg/dl (>= 10 mmol/l)

không có tác động của môi trường. Nhưng nhìn chung quá trình sinh bệnh tiểu
đường type 1 là theo một quá trình: tính mẫn cảm di truyền  tác động của môi
trường sống  viêm đảo tuỵ  chuyển hoá tế bào bêta của mình thành không phải
của mình  hoạt hoá hệ thống miễn dịch – phá hoại tế bào bêta  tiểu đường (Thái
Hồng Quang, 2012).
Cơ chế sinh bệnh tiểu đường type 2
Biểu hiện kháng Insulin hay rối loạn tiết Insulin là một trong những dấu hiệu
sớm của tiểu đường type 2. Sự thay đổi cấu trúc, chức năng của các thụ thể Insulin
và hậu thụ thể của tế bào dẫn đến kháng Insulin.
Béo phì được coi là yếu tố có nguy cơ cao đối với tiểu đường type 2, gây nên
tình trạng mất nhạy cảm đối với Insulin nội sinh và làm giảm đáp ứng của tổ chức
đích với Insulin. Tình trạng béo phì làm cho Insulin kém khả năng phân giải acid
béo ở tổ chức mỡ dẫn đến tăng nồng độ acid béo không este hoá trong tuần hoàn.
Từ đó làm trầm trọng thêm tình trạng kháng Insulin cũng như sự tổn thương các tế
bào  trong tiểu đường type 2 (Hoàng Thị Bích Ngọc, 2001).
2.4 Các triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng rất đa dạng. Ở tiểu đường type 1, bệnh thường xảy ra
đột ngột sau nhiễm khuẩn hoặc siêu vi khuẩn. Triệu chứng chủ yếu và cũng là triệu
chứng quan trọng để chẩn đoán tiểu đường type 1 là tăng glucose huyết, có glucose
trong nước tiểu. Các triệu chứng rõ ràng như: ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, mờ
mắt, sụt cân nhanh, vết thương lâu lành. Ngược lại, tiểu đường type 2 thì bệnh diễn
biến từ từ, được phát hiện một cách ngẫu nhiên khi đi khám định kỳ hay đã có biến
chứng (Thái Hồng Quang, 2012).
Các triệu chứng lâm sàng thường gặp ở chó mắc bệnh tiểu đường gồm:
Tiểu nhiều, khát và uống nhiều nước: khi nồng độ glucose máu cao hơn
ngưỡng đường của thận (180mg/dl hay 9,98mmol/L) thì glucose sẽ bài tiết ra ngoài
theo nước tiểu (glucose niệu), glucose niệu càng cao chứng tỏ nồng độ glucose máu

8


Có kháng thể kháng tế bào tiểu
đảo
Tăng ceton máu: hay gặp
Béo
Nồng độ Insulin huyết bình thường
hoặc tăng
Không có kháng thể kháng tế bào
tiểu đảo
Ít gặp ceton máu
Cơ chế sinh
bệnh
Tự miễn. Cơ chế tự miễn dịch
bệnh lý
Thiếu Insulin nặng
Kháng Insulin
Thiếu Insulin tương đối
Các tế bào
tiểu đảo
Teo và xơ hoá
Suy kiệt tế bào  nặng
Không có Insulintis
Teo từng vùng và lắng đọng amyloid
Suy kiệt tế bào  vừa phải
(Thái Hồng Quang, 2012)

9

2.5 Chẩn đoán cận lâm sàng
Đo đường huyết (tai, chân, môi)
Tiêu chuẩn chẩn đoán: Bệnh tiểu đường trên chó được dựa theo tiêu chuẩn

nhiều cần phân biệt với:
Tiểu nhạt: đường huyết bình thường, đường niệu âm tính, tỷ trọng nước tiểu
thấp.
Tiểu đường do thận: ngưỡng thận thấp làm cho đường thoát ra nước tiểu, vì
vậy đường huyết không bao giờ tăng cao.
2.7 Biến chứng của bệnh tiểu đường
Biến chứng phổ biến ở chó mắc bệnh tiểu đường là đục thuỷ tinh thể, viêm tuỵ
mãn tính, hệ thống hô hấp và da (Richard W. Nelson, 2005).

10

2.7.1 Đục thuỷ tinh thể
Là tình trạng kém độ trong suốt của thuỷ tinh thể do sự mất tính thẩm thấu và
sự thay đổi tính hoà tan của một số protein trong thuỷ tinh thể.
Đục thuỷ tinh thể ở bệnh tiểu đường là kết quả của sự hư hỏng tính thẩm thấu
của thuỷ tinh thể vì hoạt động của con đường chuyển hoá polyol. Thuỷ tinh thể chứa
hai enzyme aldolase reductase và polyol dehydrogenase. Khi nồng độ glucose trong
thuỷ tinh thể tăng cao aldolase reductase khử glucose thành sorbitol. Sorbitol có thể
chuyển thành fructose nhờ enzyme polyol dehydrogenase. Đặc biệt là sorbitol
không chuyển hoá tiếp tục trong thuỷ tinh thể và nó khuếch tán ra ngoài thuỷ tinh
thể rất chậm. Chính sự tích luỹ của sorbitol trong thuỷ tinh thể dẫn đến sự tăng thẩm
thấu của thuỷ tinh thể. Sự thay đổi này ảnh hưởng cấu trúc hữu cơ của những
protein có tính trong suốt ở những tế bào thuỷ tinh thể, làm tăng tỷ lệ tập trung và
biến tính các protein này. Hậu quả là tại đó xảy ra sự tăng đặc tính phân tán ánh
sáng. Đó là hiện tượng đục thuỷ tinh thể ở bệnh tiểu đường (Hoàng Thị Bích Ngọc,
2001).
2.7.2 Bệnh lý võng mạc do tiểu đường
Bệnh lý võng mạc không tăng sinh: phình vi mạch, xuất tiết, phù gai. Đây là
dạng bệnh lý nhẹ của tiểu đường, ít ảnh hưởng tới thị lực. Nguyên nhân là do thành
mạch bị mất tổ chức đệm có tác dụng nâng đỡ thành mạch, thành mạch yếu và giãn

mao mạch và các tiểu động mạch tiền mao mạch, biểu hiện bằng dày màng đáy,
tăng tính thấm mao mạch và mao mạch dễ vỡ. Hậu quả lâm sàng bao gồm: bệnh lý
võng mạc, bệnh lý thận và các bệnh lý thần kinh (Lê Thị Luyến, 2010).
2.8 Điều trị bệnh tiểu đường
Mục tiêu chính của điều trị bệnh tiểu đường là duy trì mức đường huyết bình
thường và qua đó kiểm soát các dấu hiệu làm tăng đường huyết và đường niệu dẫn
đến sự phát triển các biến chứng của bệnh. Các yếu tố cần thiết để giúp ổn định tốt
bệnh tiểu đường là sự hiểu biết của người chủ nuôi, và tuân thủ theo một thói quen
hằng ngày là chế độ ăn uống vừa phải, thường xuyên kiểm soát tập thể dục cho vật
nuôi (M.E Herrtage, 2009).
2.8.1 Liệu pháp khẩu phần
Một liệu pháp khẩu phần được áp dụng ngay từ đầu, không phân biệt tiểu
đường loại nào và theo hướng dẫn tổng quát sau:
Cấu trúc khẩu phần
Tăng lượng chất xơ (>= 8% vật chất khô)
Tăng thành phần carbohydrat dễ tiêu (> 50%, chỉ áp dụng với chó)
Giảm thành phần dầu, mỡ (< 17%)
Đầy đủ thành phần protein (15 – 20%)
Cho con vật ăn với thời gian phù hợp với hoạt động của Insulin: cho ăn cùng
lúc chích Insulin, nếu dùng liệu pháp Insulin 2 lần/ ngày; đối với liệu pháp insulin 1
lần/ ngày thì cho ăn sau 6 – 8 giờ chích Insulin. Không cho con vật ăn vặt thêm bất
kể là ngày hay đêm.
Điều chỉnh chế độ ăn uống và luyện tập cho ăn nên hướng vào việc điều chỉnh
hoặc ngăn ngừa béo phì, duy trì một hàm lượng calo nhất định trong mỗi bữa ăn

12

giúp giảm thiểu sự gia tăng nồng độ glucose trong máu sau khi ăn. Việc điều chỉnh
tình trạng béo phì và tăng hàm lượng chất xơ trong chế độ ăn có thể coi là hai bước
có lợi nhất để kiểm soát đường huyết.

®
], Insulin aspart
[Novolog
®
], và Insulin glulisine [Apidra
®
]
2. Insulin tác dụng ngắn: Insulin regular (Actrapid, Humulin,…)

13

3. Insulin tác dụng trung bình: Insulin NPH (Humlin N)
4. Insulin tác dụng kéo dài: Insulin glargine [Lantus
®
], Insulin detemir
[Levemir
®
], Insulin lent (Insulatard).
Có những dạng insulin được trộn 2 loại insulin lại với nhau: insulin tác dụng
nhanh và trung bình như NovoMix, Mixtard,… (Ruby Tran và Nguyễn Huy Cuờng,
2008).
Đơn vị đo của insulin
Đơn vị quốc tế IU = 0,040882 mg; 1mg Insulin = 24 IU. Nếu kí hiệu U40 = 40
IU/ ml; U80 = 80 IU/ml; U100 = 100 IU/ml (Tạ Văn Bình, 2007)
2.8.3 Thuốc uống
Thuốc kích thích tiết insulin: Sulfonylureas
Các loại sulfonylureas trên thị trường:
Thế hệ 1: những thuốc thuộc nhóm này gồm Tolbutamide, Chlopropamide,
Diabetol,….thường đóng viên 500mg. Các thuốc thuộc nhóm này hiện nay ít được
sử dụng do độc tính cao đối với thận (vì thuốc có trọng lượng phân tử lớn).

bắt đầu bằng liều thấp. Chống chỉ định của Metformin là suy tim nặng, bệnh gan, có
tiền sử nhiễm toan lactic, do làm tăng nguy cơ nhiễm acid lactic.
Nhóm thiazolidinedione (hay glitazone): thuốc làm tăng độ nhạy của cơ và tổ
chức mỡ với insulin vì vậy làm tăng thu nạp glucose từ máu. Thuốc còn làm tăng độ
nhạy của insulin ở cơ vân, đồng thời ngăn cản quá trình bài tiết glucose từ gan.
Hai loại thuốc chính của nhóm này là Pioglithazole và Rosiglithazole. Gần đây
Rosiglithazole đã phải ngưng sử dụng vì được chứng minh gây tăng tỷ lệ tử vong
trên người bệnh có nguy cơ tim mạch (Tạ Văn Bình, 2007).
Thuốc ức chế alpha – glucosidase
Thuốc có tác dụng ức chế enzyme alpha – Glucosidase, enzyme có tác dụng
phá vỡ carbohydrat thành đường đơn (monosaccharide). Tác dụng này làm chậm
hấp thu monosaccharide, do vậy làm hạ thấp glucose máu sau khi ăn. Thuốc được
dùng kết hợp với chế độ ăn kiêng trên bệnh nhân tiểu đường type 1 và type 2.
Chế phẩm của thuốc ức chế alpha – glucosidase là Acarbose (Glucobay):
Glucobay 50mg và Glucobay 100mg. Thuốc được uống vào lúc trước bữa ăn sáng.
Khác với Sulfonylureas và Insulin, Acarbose không gây hạ đường huyết nhưng có
tác động chống lại cao đường huyết sau khi ăn. Acarbose có một số ưu điểm khi sử
dụng:
 Điều hoà mức đường huyết sau khi ăn
 Giảm sự gia tăng đường huyết
 Không có nguy cơ hạ đường huyết khi dùng đơn trị liệu
 Giảm lượng insulin phải dùng hằng ngày
 Cải thiện việc sử dụng insulin
 Cải thiện tình trạng chuyển hoá về lâu dài
Tác dụng phụ thường gặp khi dùng thuốc là đầy hơi ở bụng, sôi bụng, thỉnh
thoảng gặp tiêu chảy, đau bụng. Các tác dụng nặng hơn nếu không thực hiện chế độ
ăn kiêng đã được chỉ định (Đỗ Trung Quân, 2001).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status