Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Không khí là một trong những thành phần cơ bản của môi trờng sống, có
vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì sự sống của con ngời. Song môi tr-
ờng không khí đã và đang ngày càng bị ô nhiễm một cách trầm trọng do chính
hành vi của con ngời gây ra. Để tồn tại, phát triển và thoả mãn các nhu cầu ngày
càng cao của mình, con ngời đã, đang và sẽ tiếp tục tác động một cách tiêu cực
đến môi trờng không khí. Khi môi trờng không khí bị ô nhiễm đã gây ra những
tác động ngợc trở lại cho đời sống con ngời và trở thành một trong những vấn
đề có tính toàn cầu thì bảo vệ môi trờng không khí đã thu hút đợc sự quan tâm
không chỉ của riêng Việt Nam mà của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Hoà chung với tiến trình hội nhập toàn cầu và xu thế chung trong bảo vệ
môi trờng mang tính quốc tế, Việt Nam đã sử dụng nhiều công cụ, thực hiện
nhiều biện pháp khác nhau để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trờng không
khí, trong đó pháp luật đợc đánh giá là công cụ có hiệu quả nhất. Thông qua
pháp luật, Nhà nớc đã tác động đến các chủ thể khi họ có hành vi tác động đến
môi trờng không khí, qua đó định hớng cho các chủ thể thực hiện hành vi có lợi
hơn cho môi trờng không khí, góp phần bảo vệ môi trờng không khí.
Nhng pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí ở Việt Nam trong những
năm vừa qua lại là một bộ phận đợc quan tâm muộn và cha thật sự đúng đắn,
chỉ đến gần đây, khi tình trạng ô nhiễm môi trờng không khí ở Việt Nam đã trở
nên trầm trọng thì nó mới thực sự đợc quan tâm một cách đúng mức. Tuy vậy,
cho đến nay ở Việt Nam vẫn cha có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh riêng
về bảo vệ môi trờng không khí sạch, mà ta chỉ có thể tìm thấy một số quy phạm
pháp luật về vấn đề này trong các văn bản có liên quan. Điều đó cho thấy hiện
trạng văn bản pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí ở Việt Nam còn nhiều
hạn chế, tản mạn và chồng chéo, cha đáp ứng đợc yêu cầu bảo vệ môi trờng
không khí hiện nay. Điều này đã khiến cho môi trờng không khí ở Việt Nam
trong thời gian qua và hiện nay đang trở nên khó giải quyết và ngày càng tồi tệ.
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A 1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

1
.
Nếu trong môi trờng không khí có lẫn một số loại khí chất khác có gây
ảnh hởng đến đời sống của con ngời, của động vật và thực vật thì môi trờng
không khí đó bị coi là ô nhiễm. Khi đó ô nhiễm không khí đợc hiểu là sự có mặt
một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm
cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm
nhìn xa (do bụi).
ô nhiễm môi trờng không khí đợc xác định bằng sự biến đổi môi trờng
theo hớng không tiện nghi, bất lợi đối với cuộc sống của con ngời, của động vật
và thực vật, mà sự ô nhiễm đó lại do hoạt động của con ngời gây ra với quy mô,
phơng thức và mật độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp tác dụng, làm thay đổi
mô hình, thành phần hoá học, tính chất vật lý và sinh học của môi trờng không
khí
2
.
Theo phơng diện pháp lý, căn cứ vào khái niệm về ô nhiễm môi trờng đợc
quy định tại Khoản 4 - Điều 2 - Luật bảo vệ môi trờng 1993 thì ô nhiễm môi tr-
ờng không khí đợc hiểu là sự thay đổi tính chất của môi trờng không khí, vi
phạm tiêu chuẩn môi trờng không khí đã đợc quy định.
1
Giáo trình Luật môi trờng - Trờng Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội- 2003, trang 235.
2
GS.TS Phạm Ngọc Đăng, Môi trờng không khí, NXB Khoa học và Kỹ thuật, HN - 1997, trang5.
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A 3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ô nhiễm môi trờng không khí bị gây ra bởi nhiều nguồn gây ô nhiễm khác
nhau, không kể đến các nguồn ô nhiễm môi trờng không khí do tự nhiên (nh sự
phun trào núi lửa, cháy rừng, bão bụi, quá trình phân huỷ, thối rữa xác động vật,
thực vật tự nhiên cũng phát thải những chất khí), có thể liệt kê các nguồn ô

nay đã bị ô nhiễm một cách trầm trọng kéo theo những hậu quả khủng khiếp
của nó đã trở thành vấn đề chung của toàn cầu.
Ô nhiễm không khí không phải là vấn đề mới phát hiện ra, nó đã đợc nói
đến cách đây hàng nhiều thế kỷ. Hơn 300 năm trớc đây nhà khoa học Jonh
Evalyn, chuyên về bút ký và ghi chép khoa học đã minh hoạ với độ chính xác
cao về tác động của ô nhiễm môi trờng không khí do sự đốt cháy của nhiên liệu
gây ra, nh làm đục bầu trời, giảm bớt bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất, làm
con ngời bị đau yếu và tử vong, phiền muộn và lo âu hít phải bụi, khói, khí độc
và nó gây ra han gỉ vật liệu. Tuy nhiên ô nhiễm môi trờng không khí, một mối
quan tâm của công chúng chỉ mới đợc nhận thức trong thời gian gần đây, kể từ
khi có sự bùng nổ phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ; con ngời càng
ngày càng thấy rõ ràng là sự ô nhiễm môi trờng không khí do chất thải công
nghiệp và giao thông vận tải gây ra đã làm thiệt hại rất lớn về vật chất đối với
nền kinh tế quốc dân và làm tăng bệnh tật đối với nhân dân. Điều này đã đợc
khẳng định ở Hội nghị về Con ngời và môi trờng xung quanh của Liên hiệp
quốc tại Stockhom tháng 6/1972.
Ô nhiễm môi trờng không khí thể hiện ở việc chất lợng môi trờng sống của
con ngời bị suy giảm, nồng độ các chất độc hại trong không khí vợt quá chỉ tiêu
cho phép và thể hiện rõ nhất ở các tác hại do ô nhiễm môi trờng không khí gây
ra cho con ngời: không khí bị ô nhiễm có thể gây ra một số bệnh nguy hiểm,
nhất là các bệnh về đờng hô hấp.
Trong lịch sử, ô nhiễm môi trờng không khí đã gây ra rất nhiều thảm hoạ
khủng khiếp đối với con ngời. Có thể kể đến thảm hoạ đầu tiên trong thế kỷ 20
do ô nhiễm môi trờng không khí gây ra là hơi khói công nghiệp phát ra đã bị
hiện tợng khí hậu nghịch đảo nhiệt kìm hãm phát tán, đã gây ra đầu độc ở
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A 5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thành phố thung lũng Manse (Bỉ) vào năm 1930, và tơng tự ở thung lũng dọc
theo sông Monongahela vào năm 1948. Trong các vụ thảm hoạ ô nhiễm môi tr-
ờng này hàng trăm ngời đã chết. Hiện tợng nghịch đảo nhiệt đã làm tăng

3
GS.TS Phạm Ngọc Đăng, Môi trờng không khí, NXB Khoa học và kỹ thuật, HN- 1997, trang 6.
4
Nguồn: , ô nhiễm môi trờng không khí ở Bắc Kinh.
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A 6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiếp đến, phải nói đến tác hại có ảnh hởng lớn của ô nhiễm môi trờng
không khí gây ra đó là sự thay đổi của khí hậu toàn cầu dới tác động của nhiều
yếu tố nh: sự gia tăng dân số với những tác động của nó đến môi trờng, rừng bị
tàn phá nhng quan trọng nhất là sự gia tăng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính.
Từ thời kì tiền công nghiệp, nhất là từ năm 1980 đến nay, cùng với sự phát triển
công nghiệp mạnh mẽ, đã và đang làm tăng dần nồng độ các khí nhà kính trong
khí quyển nh CO
2
lên 31%, CH
4
lên 15% và N
2
O lên 17%, mà hệ quả của nó
làm nhiệt độ Trái Đất tăng nhanh trong những thập kỷ qua, đặc biệt là những
năm cuối của thập kỷ 90. Phần đóng góp của CO
2
, CH
4
và N
2
O vào quá trình
nóng lên toàn cầu đợc ớc tính CO
2
: 70-72%, CH

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và ma axit sẽ tăng lên do các chất tạo thành ma axit tăng lên cùng với sự phát
triển của hoạt động của tia UV- B.
Một trong những hậu quả nữa của sự ô nhiễm không khí là ma axit. Đây có
thể đợc coi là một hậu quả nguy hại nhất. Ma axít chính xác là sự lắng đọng
axít trong sơng mù và tuyết. Khi đọng lại trên đất, axít làm nớc nhiễm độc và
làm h hỏng tầng đất màu nhạy cảm, giết chết cây cối và các loài thủy sinh. Sự
lắng đọng axít còn làm tăng thêm tốc độ ăn mòn vật liệu xây dựng trong các
công trình kiến trúc.
Khói mù quang hoá cũng là một dạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng
khác. Mù quang hoá nh những chất gây ô nhiễm đã phá hoại tàn tệ rừng cây,
mùa màng và cơ quan hô hấp của động vật. Thứ khói mù này lúc đầu không gây
chết ngời nhng nếu tồn tại kéo dài trong một thời gian sẽ tích tụ lại gây nhiều
tai hoạ.
Môi trờng không khí toàn cầu đã và đang bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng,
chất lợng môi trờng sống của con ngời ngày càng bị suy giảm. Môi trờng không
khí bị ô nhiễm là do nhu cầu phát triển của chính con ngời gây ra và khi đã vợt
quá giới hạn chịu đựng của mình, môi trờng không khí đã bị ô nhiễm đó lại có
tác động ngợc trở lại, gây ra cho con ngời những thảm hoạ khủng khiếp, những
tác hại về nhiều mặt. ô nhiễm không khí rất dễ lan truyền, khó kiểm soát và
cũng rất khó khắc phục, chính vì vậy việc bảo vệ môi trờng không khí đã trở
thành vấn đề toàn cầu chứ không chỉ của riêng một quốc gia nào.
1.1.3. Hiện trạng ô nhiễm môi trờng không khí ở Việt Nam.
Giống nh hầu hết các nớc trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trớc
những thách thức hết sức lớn lao về nạn ô nhiễm môi trờng nói chung và ô
nhiễm không khí nói riêng. Ô nhiễm môi trờng không khí đang là một vấn đề
bức xúc đối với môi trờng đô thị, công nghiệp và các làng nghề ở nớc ta hiện
nay. Quá trình công nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn
thải gây ô nhiễm môi trờng không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lợng
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A 8

2
trung bình ở các đô thị và khu công
nghiệp nớc ta còn thấp hơn trị số TCCP. Nồng độ trung bình khí SO
2
, CO và
NO
2
trong không khí ở hầu hết các đô thị Việt Nam đều nhỏ hơn hoặc xấp xỉ trị
số TCCP, tức là cha bị ô nhiễm khí SO
2
, NO
2
và CO. Tuy vậy ở các nút giao
thông chính và ở gần một số khu công nghiệp, một số xí nghiệp nung gạch
ngói, nồng độ các khí này đã xấp xỉ bằng hoặc lớn hơn trị số TCCP, có nơi tới
2-3 lần.
Bảng 2: Diễn biến nồng độ khí SO
2
(mg/m
3
) trung bình năm từ năm 1995
đến năm 2002 trong không khí tại các KCN
- Ô nhiễm chì (Pb) trong không khí đô thị:
Thực hiện chỉ thị 24/2000/CT-TTg của Thủ tớng Chính Phủ, Việt Nam đã
sử dụng xăng pha chì từ ngày 01/07/2001. Số liệu quan trắc môi trờng không
khí cho thấy nồng độ chì trong không khí ở Hà Nội trung bình năm 2002 giảm
đi khoảng 40-50% so với cùng thời kỳ năm trớc, ở TP.Hồ Chí Minh giảm đi
khoảng 50%.
- Ô nhiễm mùi:
ở nớc ta, ô nhiễm mùi thờng xảy ra ở 2 bên bờ kênh rạch thoát nớc trong đô

3
. Nồng độ bụi trên các tuyến giao thông đờng bộ rất lớn, khi đờng đ-
ợc tới nớc cũng gấp hàng chục lần, khi không đợc tới nớc gấp hàng trăm lần trị
số TCCP. Khi nổ mìn, môi trờng không khí vùng mỏ còn bị ô nhiễm khí CO
2
,
NO
2
và CO.
Trên đây là những số liệu nói lên hiện trạng ô nhiễm môi trờng không khí ở
nớc ta hiện nay. Qua đó nhận thấy chất lợng môi trờng không khí ở nớc ta, đặc
biệt là tại các đô thị, khu công nghiệp có sự biến đổi hàng năm, theo chiều hớng
bất lợi vì chất thải ô nhiễm từ sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, hoạt
động xây dựng và sinh hoạt đô thị ngày càng tăng về số lợng, chủng loại và tính
độc hại. Trong những loại ô nhiễm không khí trên tại Việt Nam thì sự ô nhiễm
về bụi và khí độc hại là nguy hiểm nhất: nồng độ khí độc hại ở một số đô thị đã
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A 11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vợt tới mức báo động; đặc biệt trong năm 2004, tại Hà Nội đã xuất hiện những
đám sơng mù độc do khói xăng của các phơng tiên giao thông gây ra.
Môi trờng không khí bị ô nhiễm có tác động xấu đối với sức khoẻ của con
ngời (đặc biệt là gây ra các bệnh về đờng hô hấp), ảnh hởng đến các hệ sinh thái
và biến đổi khí hậu. Những nghiên cứu bớc đầu gần đây cho thấy những bệnh
liên quan đến ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn của Việt Nam đang có xu
hớng tăng nhanh nh hen phế quản, dị ứng... Ví dụ nh: ngời dân ở đô thị và xung
quanh các khu công nghiệp phải hít thở không khí ngày càng bị ô nhiễm hơn,
nhiều nghiên cứu dịch tễ ở Hà Nội và Hải Phòng đã chứng minh tỷ lệ số ngời bị
mắc các bệnh về đờng hô hấp, bệnh tinh thần và bệnh tim mạch ở các khu đô thị
gần khu công nghiệp bị ô nhiễm không khí, lớn hơn gấp 2-5 lần so với khu đô
thị không bị ô nhiễm không khí.

- Trớc hết là do nhu cầu của cộng đồng đợc sống trong môi trờng trong
lành: không khí là nguồn cung cấp oxi cần thiết cho hoạt động bình thờng của
các sinh vật trên trái đất (con ngời), vì vậy việc bảo vệ không khí trong lành là
mối quan tâm của con ngời vì chất lợng cuộc sống.
- Do sự tác động tới môi trờng không khí của các hoạt động phát triển của
con ngời, đặc biệt từ sau bùng nổ của cách mạng công nghệ và khoa học kỹ
thuật; sự phát triển kinh tế đã kéo theo nhiều tác động to lớn đến môi trờng
không khí: khí thải công nghiệp, khí thải giao thông vận tải, khí thải từ rác thải
sinh hoạt.
- Do tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bảo vệ
môi trờng không khí vì hoạt động bảo vệ môi trờng không khí không phải là
trách nhiệm của riêng Nhà nớc mà nó là trách nhiệm của cả cộng đồng nên cần
phải có pháp luật để bảo đảm cho các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động
đó đợc ổn định và phù hợp với yêu cầu của bảo vệ môi trờng không khí.
- Bảo vệ môi trờng nói chung và bảo vệ môi trờng không khí nói riêng đợc
thực hiện bởi sự kết hợp giữa nhiều biện pháp khác nhau nh: biện pháp chính
trị, biện pháp kinh tế, biện pháp khoa học-công nghệ, biện pháp giáo dục và
biện pháp pháp lý. Nhng các biện pháp đó chỉ đợc thực hiện dựa trên quy định
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A 13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của pháp luật; nói cách khác, pháp luật là cơ sở để thực thi các biện pháp đó
một cách có hiệu quả trên thực tế bởi pháp luật đợc sử dụng để tác động trực
tiếp tới hành vi của ngời gây ô nhiễm môi trờng nhằm hạn chế những tác động
xấu mà họ có thể gây ra cho môi trờng cũng nh khuyến khích họ thực hiện các
hành vi có lợi hơn cho môi trờng không khí.
Nh vậy, bảo vệ môi trờng không khí là tất yếu, phù hợp với các yêu cầu
khách quan của đời sống xã hội. Bảo vệ môi trờng không khí có thể đợc thực
hiện dựa trên sự kết hợp của nhiều biện pháp khác nhau, song không thể thiếu
công cụ pháp luật. Đây là công cụ bảo đảm tính thống nhất, là cơ sở, nền tảng
cho mọi hoạt động khác để bảo vệ môi trờng không khí.

ờng không khí.
- Nhóm quan hệ về các biện pháp khắc phục suy thoái, ô nhiễm, phòng
chống sự cố môi trờng không khí.
- Nhóm quan hệ về giải quyết tranh chấp môi trờng không khí, xử lý vi
phạm pháp luật môi trờng không khí.
- Nhóm quan hệ về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trờng
không khí.
Qua cách hiểu chung nhất về khái niệm pháp luật bảo vệ môi trờng không
khí nh trên, sẽ tạo cơ sở cho việc tìm hiểu và trả lời câu hỏi: pháp luật có vai trò
quan trọng nh thế nào trong bảo vệ môi trờng không khí ở Việt Nam trong phần
dới đây.
1.3.2. Vai trò của pháp luật trong bảo vệ môi trờng không khí
Trong bảo vệ môi trờng nói chung và bảo vệ môi trờng không khí nói riêng,
pháp luật có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng; bởi môi trờng bị phá hủy do
chính con ngời gây ra và để bảo vệ môi trờng phải tác động vào chính hành vi
của con ngời. Pháp luật với t cách là một hệ thống quy phạm pháp luật điều
chỉnh hành vi xử sự của con ngời sẽ có vai trò to lớn trong bảo vệ môi trờng.
Vai trò đó đợc thể hiện trong hoạt động bảo vệ môi trờng không khí nh sau:
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A 15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.4.2.1. Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con ngời phải thực
hiện khi tác động vào môi trờng không khí
Tại nguyên tắc 1 - Tuyên bố Stockholm 1972 về môi trờng và con ngời đã
khẳng định: Con ngời có quyền tự do, bình đẳng, quyền có cuộc sống chất l-
ợng và phải có trách nhiệm bảo vệ môi trờng vì thế hệ mai sau . Nh vậy, tuyên
bố đã khẳng định con ngời phải đợc đảm bảo và luôn có quyền đợc sống trong
một môi trờng trong lành, nhng cũng chính con ngời bằng hành vi của mình đã,
đang phá huỷ nó, dần tớc đi quyền đó của chính mình. Để bảo đảm đợc quyền
đó của mình, mỗi cá nhân, tổ chức phải biết bảo vệ môi trờng sống bằng chính
hành động của mình bằng cách phải tuân theo những quy tắc xử sự mà pháp luật

Hoặc theo Khoản 2-Điều 29-Luật bảo vệ môi trờng 1993 có quy định
nghiêm cấm hành vi thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào không
khí; phát bức xạ, phóng xạ quá giới hạn cho phép vào môi trờng xung quanh.
Đây là một trong những hành vi mà pháp luật nghiêm cấm các chủ thể thực hiện
- đó cũng chính là quy tắc xử sự mà pháp luật đã quy định buộc các chủ thể
phải tuân thủ.
Có thể nói, pháp luật với t cách là công cụ điều tiết các hành vi của các
thành viên trong xã hội có tác dụng rất lớn trong việc định hớng quá trình sử
dụng hoặc tác động vào môi trờng không khí. Con ngời buộc phải sử dụng môi
trờng không khí tuân thủ theo đúng những tiêu chuẩn nhất định do pháp luật
quy định thì sẽ hạn chế những tác hại, ngăn chặn đợc suy thoái môi trờng không
khí.
1.4.2.2. Pháp luật quy định các chế tài để buộc con ngời phải thực hiện
đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật khi tác động vào môi trờng không khí
Các chế tài mà pháp luật bảo vệ môi trờng không khí quy định áp dụng cho
các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bảo vệ môi trờng không khí gồm: chế tài
hình sự, kinh tế, hành chính. Các chủ thể sẽ phải gánh chịu những chế tài này
khi họ không tuân theo các quy tắc xử sự mà pháp luật đã quy định, tức là khi
họ đã không làm những gì mà pháp luật buộc phải làm hoặc đã làm những gì
mà pháp luật không cho phép làm.
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A 17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ví dụ: Khi pháp luật bảo vệ môi trờng không khí quy định hệ thống tiêu
chuẩn môi trờng không khí, tức là đã đa ra những thông số tối thiểu hoặc tối đa
họ đợc phép làm nh là: không đợc thải khí quá trị số cho phép, để làm đợc vậy
buộc họ phải đầu t trang thiết bị để xử lý khí thải. Nhng vì lợi ích kinh tế trớc
mắt mà chủ nguồn đã không bỏ một số vốn đầu t lớn cho trang thiết bị công
nghệ để xử lý khí thải và họ đã thải khí quá trị số cho phép. Khi đó chủ nguồn
thải đã vi phạm quy tắc xử sự do pháp luật quy định trớc và họ sẽ buộc phải
chịu chế tài pháp luật quy định cho từng trờng hợp cụ thể.

Bên cạnh việc quy định các quy tắc xử sự, các quyền và nghĩa vụ cho các tổ
chức, cá nhân trong xã hội khi họ tác động vào môi trờng không khí, pháp luật
về bảo vệ môi trờng không khí còn thể hiện vai trò to lớn của mình trong việc
tạo ra cơ chế hoạt động hiệu quả của các tổ chức bảo vệ môi trờng; bởi lẽ, bảo
vệ môi trờng là một công việc rất khó khăn và phức tạp, là hoạt động mang tính
chất toàn dân, của cả cộng đồng chứ không phải của riêng một cá nhân hay tổ
chức nào, nó đòi hỏi phải đợc tiến hành tại nhiều cấp độ với nhiều biện pháp
khác nhau và để đáp ứng đợc yêu cầu đó, đòi hỏi cần phải đợc tổ chức một
cách chặt chẽ và khoa học thông qua một hệ thống cơ quan quản lý nhà nớc về
môi trờng.
Thông qua pháp luật, Nhà nớc đã xây dựng đợc một hệ thống cơ quan quản
lý nhà nớc về bảo vệ môi trờng đợc tổ chức chặt chẽ từ Trung ơng đến địa ph-
ơng, trong đó có cơ quan bảo vệ môi trờng không khí; cùng với nó là việc quy
định một cách đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan, mỗi
cấp; ví dụ nh: xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật vê bảo vệ
môi trờng không khí, tổ chức đánh giá tác động môi trờng các dự án có ảnh h-
ởng đến môi trờng không khí, đánh giá hiện trạng môi trờng không khí, ban
hành tiêu chuẩn môi trờng không khí.
Trong phạm vi từng quốc gia, bảo vệ môi trờng nói chung và bảo vệ môi tr-
ờng không khí nói riêng sẽ nảy sinh nhiều vấn đề cần đợc giải quyết, nếu không
có một tổ chức nh Nhà nớc với các quy định về quyền hạn cụ thể, sẽ không
thểgiải quyết đợc các vần đề đó. Điều đó đợc thể hiện nh sau:
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A 19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Thực tế đã khẳng định vai trò thống nhất quản lý của Nhà nớc trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo vệ môi trờng không khí là vấn đề phức tạp,
yêu cầu phải đợc tiến hành tại nhiều cấp độ và nhiều biện pháp khác nhau, chỉ
có Nhà nớc mới đủ khả năng đứng ra đảm nhiệm vai trò đó. Vì vậy pháp luật
quy định các quyền hạn cụ thể cho các cơ quan quản lý sẽ tạo cơ sở pháp lý để
các cơ quan này có thể tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trờng không khí thống

thực hiện các quan hệ hợp tác quốc tế vè bảo vệ môi trờng không khí
Bảo vệ môi trờng ngày nay không còn là vấn đề của riêng mỗi quốc gia mà
nó đã trở thành vấn đề có tính quốc tế bởi chính tính toàn cầu của ô nhiễm môi
trờng. Ô nhiễm môi trờng xuyên biên giới bao gồm 5 vấn đề:
- Sự vận chuyển tầm xa của các khí bị ô nhiễm;
- Sự vận chuyển xuyên biên giới của các sản phẩm và chất thải nguy
hại;
- Sự suy giảm tầng ôzôn;
- Sự thay đổi khí hậu;
- Sự ô nhiễm đại dơng.
Do tính xuyên biên giới nên sự ô nhiễm môi trờng ở quốc gia này sẽ ảnh h-
ởng trực tiếp đến môi trờng của các quốc gia lân cận, đặc biệt là ô nhiễm môi tr-
ờng không khí. Không khí bị ô nhiễm ở quốc gia này không phải đến biên giới
của quốc gia đó, các chất ô nhiễm sẽ bị giữ lại, ngời ta cũng không thể gom
riêng vùng không khí đã bị ô nhiễm để xử lý mà nó sẽ có ảnh hởng đến các
quốc gia khác bởi sự vận chuyển tầm xa của các khí bị ô nhiễm. Vì thế trong
bảo vệ môi trờng không khí sự hợp tác giữa các quốc gia càng trở nên hết sức
cần thiết. Hợp tác quốc tế ở đây không thể đơn thuần là sự hợp tác giữa các cá
nhân hoặc giữa các tổ chức của các quốc gia khác nhau với nhau mà chính là
quan hệ hợp tác giữa các quốc gia. Thông qua sự hợp tác, các quốc gia sẽ xây
dựng đợc một chơng trình cho việc bảo vệ môi trờng không khí, các quốc gia sẽ
có đợc sự hỗ trợ về mặt tài chính và học hỏi đợc kinh nghiệm trong quản lý môi
trờng, trong kỹ thuật bảo vệ môi trờng không khí. Vì vậy hợp tác quốc tế về bảo
vệ môi trờng không khí là cần thiết và quan trọng, chính pháp luật đã tạo ra cơ
sở pháp lý cho việc hợp tác quốc tế đó.
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A 21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ví dụ: Các hoạt động về khói mù đợc khởi xớng sau thảm hoạ khói mù lớn
nhất trong lịch sử Asean xảy ra vào năm 1997 gây hậu quả nghiêm trọng trong
khu vực, đặc biệt là Inđônesia, Malaysia và Singapore. Các nớc Asean đã hành

quá trình Nhà nớc bằng các cách thức, công cụ và phơng tiện khác nhau tác
động đến các hoạt động của con ngời trong quá trình con ngời khai thác, sử
dụng môi trờng không khí nhằm làm hài hoà mối quan hệ giữa bảo vệ sự trong
sạch của môi trờng không khí với việc thoả mãn các nhu cầu của con ngời, đồng
thời đảm bảo đợc chất lợng của môi trờng nói chung"
6
.
Theo Điều 37- Luật bảo vệ môi trờng 1993, quản lý nhà nớc về bảo vệ môi
trờng không khí bao gồm những nội dung sau:
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi tr-
ờng không khí, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trờng không khí;
- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lợc, chính sách bảo vệ môi trờng
không khí, kế hoạch phòng, chống, khắc phục suy thoái, ô nhiễm, sự
cố môi trờng không khí.
- Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trờng không khí, công
trình có liên quan đến bảo vệ môi trờng không khí.
- Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh gía hiện
trạng môi trờng không khí, diễn biến môi trờng không khí.
- Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trờng không khí của các dự
án và các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
- Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trờng.
- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi
trờng không khí; giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo bảo vệ
môi trờng; xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trờng;
- Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trờng; giáo dục, tuyên
truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí;
- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh
vực bảo vệ môi trờng không khí;
- Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trờng không khí.
6

có thể chấp nhận đợc mà cha gây nguy hại cho sức khoẻ con ngời và các thành
phần môi trờng, hoặc đã giới hạn an toàn để bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và bảo
vệ môi trờng trong hiện tại cũng nh trong tơng lai. Mặt khác, khái niệm TCMT
cũng đã trả lời cho mục đích ban hành TCMT đó là tạo cơ sở quan trọng làm
7
Đỗ Thị Duyên, Một số vấn đề về tiêu chuẩn môi trờng quốc tế ISO 14000 và thực tiễn áp dụng trong các
doanh nghiệp ở Việt Nam, Khoa luận tốt nghiệp, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, trang 23
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A 24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
căn cứ để quản lý môi trờng. Trong bảo vệ môi trờng không khí, vai trò, mục
đích đó cũng không ngoại trừ.
Trên cơ sở các quy định tại Luật bảo vệ môi trờng 1993, Chính phủ ban
hành Nghị định số 175/CP ngày 18/10/1994 về hớng dẫn thi hành Luật bảo vệ
môi trờng; tại Điều 22 của NĐ này, cùng với việc quy định nghĩa vụ cho các tổ
chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến môi trờng là phải tuân theo các
TCMT, NĐ đã đa ra danh mục các loại TCMT Việt Nam bao gồm 21 TCMT
các loại căn cứ vào tính chất cũng nh thành phần môi trờng, trong đó có TCMT
không khí. Theo các Quyết định số 229-QĐ/TĐC ngày 25/03/1995 của Bộ
Khoa học, Công ngệ và Môi trờng và Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCNMT
ngày 25/06/2002 thì hệ thống TCMT không khí bắt buộc áp dụng ở Việt Nam
hiện nay là 12 TCVN; bao gồm: tiêu chuẩn chất lợng môi trờng không khí xung
quanh (tiêu chuẩn chất lợng môi trờng không khí xung quanh nhà máy, xí
nghiệp, giao thông) và tiêu chuẩn chất lợng nguồn thải (khí thải từ ống khói
nhà máy, từ ống xả của xe). Những tiêu chuẩn đó là căn cứ kỹ thuật cho việc
thi hành Luật bảo vệ môi trờng và hoạt động quản lý môi trờng, là căn cứ để
đánh giá chất lợng môi trờng xung quanh và kiểm soát ô nhiễm môi trờng do
các hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt do con ngời gây ra.
2.1.1.1. Tiêu chuẩn chất lợng môi trờng không khí xung quanh
Các chất gây ô nhiễm chủ yếu trong không khí là: cácbon oxit (CO), lu
huỳnh oxit (SO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status