1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN TẤN TÀI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA XẠ KHUẨN
VÀ THUỐC BENOMYL TRONG PHÕNG TRỊ BỆNH
HÉO RŨ (Fusarium oxysporum)TRÊN MÈ
Ở ĐIỀU KIỆN NGOÀI ĐỒNG
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ, 2014
3
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
o0o
Luận văn tốt nghiệp
Chuyên ngành BẢO VỆ THƢC VẬT
Tên đề tài
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA XẠ KHUẨN
VÀ THUỐC BENOMYL TRONG PHÕNG TRỊ BỆNH
HÉO RŨ (Fusarium oxysporum)TRÊN MÈ
TRONG ĐIỀU KIỆN NGOÀI ĐỒNG
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thục hiện
Ts. Nguyễn Thị Thu Nga Nguyễn Tấn Tài
MSSV: 3103671
TS. Nguyễn Thị Thu Nga 5
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sƣ chuyên
ngành Bảo Vệ Thực Vật với đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA XẠ KHUẨN
VÀ THUỐC BENOMYL TRONG PHÕNG TRỊ BỆNH
HÉO RŨ (Fusarium oxysporum)TRÊN MÈ
TRONG ĐIỀU KIỆN NGOÀI ĐỒNG Do sinh viên Nguyễn Tấn Tài thực hiện và bảo vệ trƣớc Hội đồng.
Ngày sinh: 22/02/1992
Nơi sinh: Hồng Ngự - Đồng Tháp
Họ và tên Cha: Nguyễn Văn Cỡ
Họ và tên Mẹ: Nguyễn Thị Quới
Địa chỉ: Ấp 2, xã Thƣờng Phƣớc 1, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Tóm tắt quá trình học tập của bản thân:
1998 - 2003: là học sinh Trƣờng Tiểu Học Thƣờng Phƣớc 1.
2003 - 2007: là học sinh Trƣờng Trung Học Cơ Sở Thƣờng Phƣớc 1.
2007 - 2010: là học sinh Trƣờng Trung Học Phổ Thông Hồng Ngự 3.
2010 - 2014: là sinh viên ngành Bảo Vệ Thực Vật khóa 36, khoa Nông
Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trƣờng Đại Học Cần Thơ.
7
8
LỜI CẢM TẠ
Thành kính biết ơn!
Cha, Mẹ suốt đời tận tụy vì tƣơng lai và sự nghiệp của con. Cha, Mẹ đã cho
con hơn tất cả những gì Cha, Mẹ có. Những tình cảm cao quý và thiên liêng đó, con
xin đƣợc ghi sâu trong tim đến trọn đời.
Xin chân thành gửi đến Cô Nguyễn Thị Thu Nga giảng viên hƣớng dẫn đề tài
luận văn tốt nghiệp đã tận tình hƣớng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, giúp đỡ động
viên và cho em những lời khuyên chân thành trong suốt quá trình thực hiện luận văn
tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng
dụng, Trƣờng Đại học Cần Thơ đã tận tình truyền đạt kiến thức cho em trong suốt
thời gian học tập tại trƣờng. Xin đƣợc mãi mãi nhớ ơn các Thầy, Cô !
Chân thành biết ơn !
Chị Đoàn Thị Kiều Tiên, chị đã rất nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên
em cũng nhƣ cho em rất nhiều lời khuyên bổ ích trong suốt quá trình thực hiện đề
tài.
Anh Nguyễn Phƣớc Hậu sinh viên cao học đã giúp đỡ và động viên em trong
quá trình thực hiện đề tài.
Thành thật biết ơn !
Các anh (chị) trong Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã tạo điều kiện cho em hoàn
thành tốt các thí nghiệm.
Các bạn sinh viên lớp Bảo Vệ Thực Vật K36, anh chị cao học K18 đã giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
DANH SÁCH BẢNG
x
DANH SÁCH HÌNH
xi
TÓM LƢỢC
xii
ĐẶT VẤN ĐỀ
xiii
CHƢƠNG 1: LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
2
1.1
CÂY MÈ
2
1.1.1
Nguồn gốc và sơ lƣợc về đặc điểm sinh học
2
1.1.2
Tình hình sản xuất
2
1.1.3
Đặc điểm hình thái cây mè
2
1.1.4
Yêu cầu về sinh lý, sinh thái cây mè
4
1.1.5
11
1.3
XẠ KHUẨN
12
1.3.1
Khái niệm
12
1.3.2
Vai trò của xạ khuẩn trong phòng trừ sinh học
12
1.3.3
Cơ chế
13
1.4
THUỐC BENOMYL
14
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP
15
2.1
PHƢƠNG TIỆN
15
2 1.1
Thời gian và địa điểm
15
2.1.2
Trang thiết bị và vật liệu trong thí nghiệm
15
2.2
PHƢƠNG PHÁP
3.1.2
Hiệu quả giảm tỷ lệ bệnh
24
3.1.3
Năng suất
25
3.2
KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ PHÕNG TRỊ BỆNH HÉO RŨ TRÊN MÈ
DO NẤM Fusarium oxysporum CỦA CÁC CHỦNG XẠ KHUẨN
VÀ THUỐC BENOMYL Ở ĐIỀU KIỆN NGOÀI ĐỒNG TẠI
RUỘNG 1
27
3.2.1
Tỷ lệ bệnh
27
3.2.2
Hiệu quả giảm tỷ lệ bệnh
30
3.2.3
Năng suất
31
CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ
34
4.1
KẾT LUẬN
34
4.2
ĐỀ NGHỊ
34
13
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Công thức môi trƣờng MS (Mannitol - soya flour) (Hobbs ctv.,
1989)
15
2.2
Nguồn xạ khuẩn dùng trong thí nghiệm
16
2.3
Tổng lƣợng phân bón và thời điểm bón phân trên diện tích thí
nghiệm ở ruộng 1
18
2.4
Tổng lƣợng phân bón và thời điểm bón phân trên diện tích thí
nghiệm ở ruộng 2
19
3.1
Tỷ lệ bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum gây trên mè ở điều
kiện ngoài đồng ở ruộng 1
21
3.2
Hiệu quả giảm tỷ lệ bệnh của các nghiệm thức đối với bệnh héo rũ
do nấm Fusarium oxysporum trên mè ở điều kiện ngoài đồng
ruộng 1
Hình
Tên hình
Trang
1.1
Bệnh héo rũ trên mè do Fusarium oxysporum f.sp. sesami
8
2.1
Sơ đồ bố trí thí nghiệm ở ruộng 1
17
2.2
Sơ đồ bố trí thí nghiệm ở ruộng 2
18
3.1
Các nghiệm thức xử lý xạ khuẩn và thuốc Benomyl đối với bệnh
héo rũ do nấm Fusarium oxysporum trên mè ở ruộng 1
24
3.2
Các nghiệm thức xử lý xạ khuẩn và thuốc Benomyl đối với bệnh
héo rũ do nấm Fusarium oxysporum trên mè ở ruộng 2
29
có khả năng hạn chế bệnh, nhƣng chỉ có chủng xạ khuẩn 3, chủng xạ khuẩn 25,
chủng xạ khuẩn 79 và thuốc Benomyl hạn chế bệnh tốt có tỷ lệ bệnh lần lƣợt
28,62%; 31,11%; 27,49%; 26,39% khác biệt ý nghĩa so với đối chứng với tỷ lệ bệnh
53,00% ở thời điểm 65 NSKG. Về hiệu quả giảm bệnh có 4 nghiệm thức chủng xạ
khuẩn 3, chủng xạ khuẩn 25, chủng xạ khuẩn 79 và thuốc Benomyl có hiệu quả cao
hơn và khác biệt ý nghĩa so với đối chứng, nghiệm thức có hiệu quả cao nhất là xử
lý thuốc Benomyl với hiệu quả giảm bệnh 58,47% (65 NSKG). Về năng suất,
nghiệm thức xử lý chủng xạ khuẩn 79 và Benomyl có năng suất cao hơn và khác
biệt có ý nghĩa so với đối chứng.
Ở ruộng 2: Ba nghiệm thức xử lý với chủng xạ khuẩn 6, 25, 79 và nghiệm
thức thuốc Benomyl biểu hiện đƣợc khả năng ức chế mầm bệnh thông qua tỉ lệ bệnh
thấp hơn so với đối chứng. Về hiệu quả giảm bệnh, nghiệm thức xử lý thuốc
Benomyl cho hiệu quả giảm bệnh cao và khác biệt với đối chứng (45 NSKG). Về
năng suất nghiệm thức xử lý xạ khuẩn 79 cho trọng lƣợng 1000 hạt cao hơn khác
biệt ý nghĩa so với đối chứng, tuy nhiên giữa các nghiệm thức xử lý và đối chứng
không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về năng suất.
16
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây mè (vừng) có tên khoa học là Sesamum indicum L. là một loại cây ra
hoa thuộc chi Vừng (Sesamum), họ Vừng (Pedaliaceae) (Tạ Quốc Tuấn và Trần
Văn Lợt, 2006) là một loại cây lấy hạt. Cây mè có giá trị dinh dƣỡng cao đạt hiệu
quả kinh tế nên đƣợc trồng với diện tích lớn ở nƣớc ta.
Tuy nhiên, mè là loại cây mẫn cảm với nhiều sâu bệnh hại. Theo ghi nhận
Ahuja - Bkhetia (1995), bất cứ nơi nào mè đƣợc trồng phải chịu ít nhất 8 loại bệnh
tấn công và 65 loại côn trùng ở các giai đoạn khác nhau của sự tăng trƣởng, gây
quả này chỉ mới thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lƣới.
Trên cơ sở đó đề tài “Đánh giá hiệu quả của xạ khuẩn và thuốc Benomyl
trong phòng trị bệnh héo rũ (Fusarium oxysporum) trên mè ở điều kiện ngoài
đồng” đƣợc thƣc hiện. Nhằm mục đích tìm ra chủng xạ khuẩn có hiệu quả phòng trị
cao nhất đối với bệnh héo rũ trên mè do nấm Fusarium oxysporum. Từ đó tìm ra
đƣợc biện pháp quản lý nấm Fusarium oxysporum hiệu quả nhất ở điều kiện ngoài
đồng.
17
CHƢƠNG 1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1. CÂY MÈ (VỪNG)
1.1.1. Nguồn gốc và sơ lƣợc về đặc điểm sinh học
Cây mè (vừng) có tên khoa học là Sesamum indicum L. là một loại cây ra
hoa thuộc chi Vừng (Sesamum), họ Vừng (Pedaliaceae). Nguồn gốc tự nhiên của
cây mè vẫn chƣa đƣợc xác định nhƣng có thể tin chắc đây là một cây đƣợc thuần
hóa ở các vùng nhiệt đới khắp thế giới và đƣợc trồng để lấy hạt (Tạ Quốc Tuấn và
Trần Văn Lợt, 2006)
Vì cây mè có nguồn gốc nhiệt đới nên nhiệt độ trung bình thích hợp cho cây
phát triển vào khoảng 25 - 30
o
C. Nhiệt độ dƣới 18
o
C sẽ gây khó khăn cho sự phát
triển và nếu nhiệt độ dƣới 10
o
C cây ngừng phát triển và chết. Nhiệt độ cao trên
40
o
C vào thời gian ra hoa sẽ cản trở sự thụ phấn, thụ tinh, tăng tỷ lệ hoa rụng và do
Thân có thể tròn, trên thân có nhiều lóng hoặc ít lóng. Đặc tính này cũng để phân
biệt giống. Màu sắc của thân thay đổi từ màu xanh nhạt đến màu tím, phổ biến nhất
là màu xanh đậm. Thân cao từ 60 - 120 cm. Trong điều kiện hạn, thân có thể thấp
hơn, nhƣng cũng có giống đạt đến 3 m.
Số lƣợng cành trên cây phụ thuộc chủ yếu vào giống, thƣờng có khoảng 2 - 6
cành. Cành mọc từ các nách lá gần gốc.
Mức độ phân cành thực sự là tốc độ sinh trƣởng chung của cây, trực tiếp bị
ảnh hƣởng của môi trƣờng mật độ, lƣợng mƣa, độ dài ngày.
Các dạng thân ngắn đâm cành ít thƣờng chín sớm, cây cao thƣờng chín trễ và
có khuynh hƣớng chịu hạn khá hơn. Các giống dài ngày thƣờng phát triển chậm ở
giai đoạn cây con, nhƣng tăng trƣởng nhanh ở giai đoạn sau
(http://rttc.hcmuaf.edu.vn).
1.1.3.3. Lá
Lá mè rất biến đổi về dạng và kích thƣớc trên cùng một cây và giữa các
giống. Lá dƣới thƣờng rộng đôi khi có thùy, mép (rìa) hình răng cƣa hƣớng ra ngoài
lá giữa thƣờng nguyên hình móc, đôi khi răng cƣa lá trên hẹp hơn (Weiss, 2000). Lá
mọc đối hay luân phiên tùy giống, cách sắp xếp lá ảnh hƣởng đến số hoa mang trên
nách lá và năng suất hạt trên cây. Lá mọc đối tạo điều kiện có nhiều hoa. Kích
thƣớc của lá thay đổi từ 3 - 17,5 cm chiều dài và 1 - 1,5 cm chiều rộng. Lá có màu
xanh đậm, xanh nhạt tùy thuộc vào giống. Mặt trên của lá có lông tơ bao phủ. Theo
nhiều thí nghiệm cho thấy tốc độ dẫn nƣớc của lá mè không mở quả nhanh hơn lá
mè mở quả. Do đó, những vùng thiếu nƣớc thì không thích hợp cho giống mè mở
quả (http://rttc.hcmuaf.edu.vn).
1.1.3.4. Hoa
Hoa mè thuộc hình chuông. Cuống hoa ngắn, tràng hoa gồm 5 cánh hợp
thành hình chuông. Có 2 loại hoa: hoa đơn và hoa chùm. Trên nách của mỗi lá có
thể ra từ 6 – 8 hoa. Tràng hoa thƣờng có màu trắng đến hồng nhạt, nhƣng cũng có
thể có màu tối đến màu tía và bề mặt bên trong có thể có màu đỏ hoặc các điểm
màu đen, đôi khi có màu tía hoặc đốm vàng (Weiss, 2000).
Hoa mè có 5 nhị đực dài từ 0,5 – 0,6 cm, trong đó có 4 cái hoạt động (2 cái
vĩ Nam, có thể gieo trồng đƣợc ở các vùng nhiệt đới trong điều kiện
khô hạn và các vùng cận nhiệt đới, ôn đới trong mùa hè. Thích hợp với độ cao 500 -
1250 m so với mặt nƣớc biển nhƣng không chịu đƣợc sƣơng gió và gió mạnh (Phạm
Văn Thiều, 2003).
1.1.4.2. Nhiệt độ
Vì cây có nguồn gốc nhiệt đới nên tổng tích ôn của mè khoảng 2700
0
C cho
thời gian sinh trƣởng 3 - 4 tháng nhiệt đô trung bình thích hợp khoảng 25 - 30
0
C.
Nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm, sinh trƣởng, các bộ phận dinh dƣỡng và sự
hình thành hoa khoảng 25 - 27
0
C. Nhiệt độ thích hợp cho sự nở hoa và sự phát triển
quả vào khoảng 28 - 32
0
C. Nếu nhiệt độ dƣới 20
0
C kéo dài thời gian nảy mầm.
Nhiệt độ dƣới 18
0
C sẽ gây khó khăn cho sự phát triển và nếu nhiệt độ dƣới 10
0
C
cây ngừng phát triển và chết (trang web Trƣờng Đại học Nông Lâm).
Nhiệt độ cao trên 40
0
C vào thời gian ra hoa sẽ cản trở sự thụ phấn, thụ tinh,
tăng tỷ lệ hoa rụng và do đó làm giảm số hoa (Phạm Văn Thiều, 2003).
Vụ hè thu
Thƣờng đƣợc trồng trên đất rẫy để tránh bị úng khi mƣa nhiều, bắt đầu gieo
vào tháng 4 - 5 dl, thu hoạch vào tháng 6 - 7 dl. Vụ này năng suất thấp nên chỉ trồng
trên đất rẫy lấy giống cho vụ sau (http://rttc.hcmuaf.edu.vn).
1.1.5.2. Chọn đất và làm đất
Mè là cây dễ tính, thích hợp với nhiều loại đất khác nhau. Nhƣng phát triển
tốt nhất là trên loại đất phì nhiêu, thoát thủy tốt. pH thích hợp là từ 5,5 - 8,0, tốt nhất
là bằng 6,0, độ ẩm 70% (Trần Văn Giàu, 2012).
Trồng mè có 2 cách chuẩn bị đất: không làm đất và làm đất.
Không làm đất
Luân canh với lúa nổi không cần sửa soạn đất. Trƣớc hoặc sau khi thu hoạch
lúa nổi, gieo mè trên đất còn ẩm độ nhờ rạ lúa nổi che phủ, hạt nảy mầm phát triển,
trồng theo phƣơng thức này khó chăm sóc, không tƣới nƣớc và bón phân nên năng
suất không cao (http://rttc.hcmuaf.edu.vn).
Hiện nay một số vùng canh tác mè trên nền đất lúa cao sản không cần sửa
soạn đất. Sau khi thu hoạch lúa xong cho nƣớc vào ruộng từ 1 đến 2 ngày đến khi
độ ẩm của đất đạt từ 70 - 80%, tháo nƣớc ra và tiến hành gieo mè phƣơng pháp này
cũng không cần làm đất (http://rttc.hcmuaf.edu.vn).
Làm đất
Hạt mè rất nhỏ do đó cần làm đất kỹ vì nếu không làm đất kỹ, gieo không
đều, hạt sẽ bị vùi lấp. Cần cày sâu 25 cm, bừa lại nhiều lần cho đất nhuyễn trƣớc khi
gieo để hạt mè dễ tiếp xúc với đất, cây mọc tốt. Ở các chân ruộng thấp, nên lên líp
cao 30 cm rộng 1 m, rãnh rộng 40 cm để thoát nƣớc (nhất là trồng vào mùa mƣa)
(http://rttc.hcmuaf.edu.vn).
1.1.5.3. Bón phân
21
Để đạt năng suất mè cao phải bón phân. Lƣợng phân bón mè lấy đi từ đất
khá lớn. Theo kết quả nghiên cứu (ở Venezuela), để đạt năng suất mè 500 kg/ha, mè
lấy đi từ đất 25 kg N; 3 kg P và 25 kg K (http://rttc.hcmuaf.edu.vn).
Mè là cây công nghiệp ngắn ngày, thuộc dạng cây thân thảo, tuy là cây dể
trồng, năng suất cao và đạt hiệu quả kinh tế nhƣng mè cũng bị nhiều loại sâu bệnh
hại.
1.1.6.1. Một số sâu hại thường gặp trên mè
Sâu sừng (Acherontia lachesis), sâu khoang (Spodoptera lutira), rệp xanh
(Mysuz persicae), rệp bông (Aphis gossypii)… Ngoài ra trên mè còn có nhiều loại
22
sâu hại khác nhƣ các loại châu chấu (Hypomeces squamosus, Xanthochelus sp.), các
loại bọ xít (Nezara viridula), tuy mức độ gây hại không đáng kể (Tạ Quốc Tuấn và
Trần Văn Lợt, 2006).
1.1.6.2. Một số bệnh hại thường gặp trên mè
Theo ghi nhận Ahuja - Bkhetia (1995), bất cứ nơi nào mè đƣợc trồng phải
chịu ít nhất 8 loại bệnh tấn công và 65 loại côn trùng ở các giai đoạn khác nhau của
sự tăng trƣởng, gây thiệt hại năng suất đáng kể.
Hầu hết các loại bệnh đều gây hại trên lá và thân. Những bệnh gây hại chính
trên mè thƣờng là: bệnh chết cây con do Rhizoctonia solani, bệnh héo vàng do
Fusarium oxysporum có thể gây hại với những giống mẫn cảm, nhƣng một số giống
địa phƣơng có thể kháng đối với bệnh này, bệnh đốm lá do vi khuẩn (Pseudomonas
sesami Malk), bệnh đốm lá do Alternaria sesami Kw và Cercospora, bệnh lỡ cổ rễ
hay thối gốc do Phytophthora nicotiana var. sesami và đốm lá Helminthosporium
sesami bệnh thƣờng gây hại với những giống địa phƣơng. Ở nƣớc ta có ba loại bệnh
quan trọng có thể gây hại và ảnh hƣởng đến năng suất đó là bệnh lỡ cổ rễ, bệnh
phấn trắng và bệnh héo vàng (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006).
1.1.7. Thu hoạch và bảo quản
1.1.7.1. Thu hoạch
Mè ra hoa kết trái suốt thời gian sinh trƣởng, do đó xác định thời gian thu
hoạch đúng lúc sẽ làm hạn chế mất hạt do nứt trái, hạt rơi xuống đất. Thu hoạch khi
thấy lá bên dƣới vàng và trái có những đốm đen nhiều.
Khi thu hoạch có thể dùng dao, lƣỡi hái cắt sát gốc, cũng có nơi ngƣời ta nhổ
nhất giai đoạn cây mè mang hoa. Đó chính là lý do gây thiệt hại năng suất mè đáng
kể. Hình 1.1 Bệnh héo rũ trên mè do Fusarium oxysporum f.sp. sesame (nguồn: Đoàn Thị
Kiều Tiên (2012);: (a) Ruộng mè bị nhiễm bệnh (b) Mạch nhựa trên thân hóa nâu 1.2.2. Tác nhân
Bệnh héo rũ trên mè do nấm Fusarium oxysporum f.sp. sesami (Schelt) Jacz
(Armstrong và Armstrong, 1950; El-Bramawy, 2003; Li và ctv., 2012).
1.2.2.1 . Phân loại
Nấm Fusarium oxysporum thuộc lớp nấm bất toàn (Deuteromycetes), họ
Tubercularia, bộ nấm bông (Hyphomycetables). Giai đoạn sinh sản hữu tính chƣa
xác định rõ ràng đối với nấm này. Tuy nhiên một số nghiên cứu về đặc điểm duy
truyền cho thấy loại nấm này gần với nhóm Liseola, có giai đoạn hữu tính
Gibberella thuộc lớp nấm nang. Hệ sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn, sợi nấm
thƣờng không màu, chuyển sang màu nâu khi già (CABI, 2003).
Loài Fusarium oxysporum là tác nhân chính tấn công gây héo mạch nhựa
(vascular wilt) trong khi đó F. solani chỉ gây thối rễ hoặc cổ rễ là chính (Burgess và
ctv., 2008). Cũng theo Werer (1973), Phạm Hoàng Anh (2001), Trần Văn Hai
(2005b), nấm này có tên là Fusarium oxysporum.
A
B
24
1.2.2.2 . Đặc điểm hình thái nấm
Theo Burgess và ctv. (2008), nhiều loài Fusarium đã đƣợc mô tả và nghiên
cứu về khả năng sinh bào tử trên các vật liệu thực vật. Việc phân loại giám định các
loài nấm Fusarium spp. đƣợc phân lập có thể dựa vào các chỉ tiêu cơ bản nhƣ: màu
bệnh héo rũ trên nhiều loại cây trồng nhƣ: họ Đậu, họ Cà, họ Dƣa bầu bí… Ở Việt
Nam, nấm Fusarium oxysporum gây thiệt hại lớn trên chuối, khoai tây, cà chua,
hành ta và một số cây trồng khác (Đoàn Thị Kim Thanh và ctv., 2006).
1.2.3. Sự xâm nhiễm
Quá trình xâm nhiễm: quá trình này chịu tác động của nhiều yếu tố bao gồm
các hợp chất do nấm tiết ra, cấu trúc bề mặt cây kí chủ, các chất hoạt hóa hoặc bào
tử nấm nảy mầm và dạng ống mầm (Mengden và ctv., 1996). Nghĩa là nấm xâm
25
nhập bằng nhiều cách khác nhau rất đa dạng tùy loài nhƣng chủ yếu bằng hai con
đƣờng sau: xâm nhiễm qua vết thƣơng (Lucas, 1998) và xâm nhiễm vào cửa khẩu tự
nhiên nhƣ đỉnh của rễ cái và các rễ bên (Lucas, 1998). Nấm xâm nhập vào những
vùng thích hợp cho chúng phát triển nhƣ Fusarium oxysporum tìm thấy ở đầu rễ cây
chuối (Brandes, 1919), cây cúc tây (Ullstrup, 1937), cải củ và cải bắp (Smith và
Walker, 1930), trong khi đó loài Fusarium oxysporum f.sp. dianthi xâm nhiễm vào
phần rễ của cây cẩm chƣớng (Pennypacker và Nelson, 1972). Bệnh héo rũ trên dƣa,
nấm xâm nhiễm vào giữa hai tế bào (Reid, 1958).
1.2.4. Lƣu tồn và lan truyền
Theo CABI (2001), mầm bệnh có thể lƣu tồn qua hạt, đất hay xác bã thực
vật.
Nấm Fusarium oxysporum lƣu tồn rất rộng trong đất ở các vùng sinh thái.
Nấm Fusarium oxysporum f.sp. sesami lƣu tồn trong đất dƣới dạng bào tử áo (Maiti
và ctv., 1988). Bào tử áo của nấm Fusarium oxysporum f.sp. batatas tồn tại ít nhất 7
năm trong nƣớc ở điều kiện phòng thí nghiệm (French và Nielsen, 1966; French,
1972).
Theo Egel và Martyn (2007), thì tác nhân gây bệnh héo nấm Fusarium
oxysporum tồn tại trong đất dƣới dạng bào tử áo trong thời gian dài có thể từ 15 đến
20 năm. Bào tử áo có hình tròn, là các bào tử một tế bào với vách tế bào dày và có
sức chống chịu cao đƣợc hình thành trong mô bệnh.
Nấm Fusarium oxysporum có thể có mặt ở vỏ rễ một số cây trồng không