TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
TIỄU LUẬN
Đề tài:
Đánh giá hiệu quả của chương trình phân loại rác tại nguồn trên
địa bàn phường Quyết Thắng Thành Phố Biên Hòa Tỉnh Đồng Nai
Mục Lục
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
2.1 Địa bàn khảo sát: 6
2.1.1 Thành phố Biên Hoà: 6
2.1.2 Phường Quyết Thắng 8
2.2 Chương trình phân loại rác tại nguồn: 10
2.2.1 Một số khái niệm: 10
2.2.2 Chương trình PLRTN trên địa bàn phường Quyết Thắng: 12
III. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 17
3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: 17
3.2 Điều tra xã hội học: 17
3.3 Tổng hợp và xử lý số liệu: 18
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 18
V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 21
5.1 Kết luận: 21
5.2 Khuyến nghị: 26
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành được bản đồ án này Nhóm 1 đã nhận được rất nhiều sự đóng
góp hỗ trợ từ các cá nhân và tổ chức liên quan.
Lời đầu tiên Nhóm xin được chân thành cảm ơn thầy Lê Tấn Thanh Lâm,
thầy Nguyễn Huy Vũ đã hướng dẫn và hỗ trợ nhóm trong suốt quá trình làm đề tài.
Xin cảm ơn công ty Môi Trường Và Dịch Vụ Tp Biên Hòa, đồng cảm ơn
quyết vấn đề một cách triệt để. Nhưng kèm theo đó, để triển khai thực hiện chương trình
này thì cũng cần phải đáp ứng được rất nhiều yếu tố:
Chi phí đầu tư lớn cho công nghệ và việc thay đổi bổ sung trang thiết bị, dụng cụ
thu gom rác, đào tạo nhân lực có kiến thức về phân loại rác.
Cần thời gian lâu dài để có thể thay đổi thói quen của người dân.
Cần những chương trình tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng hiệu quả.
Cần những chính sách, luật lệ để triển khai quản lý giám sát hoạt động….
Điều này cũng có nghĩa là sự thành công hay thất bại của chương trình bị phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố. Với thực tế là những kết quả đạt được không mấy thành công
của các địa điểm khác (TP Hà Nội, TP HCM…) thì liệu rằng thí điểm lần này tại bốn
phường sẽ có kết quả ra sao, thành công hay thất bại và nguyên nhân tại sao lại dẫn đến
những thành công hay thất bại đó? Một khi tìm ra được câu trả lời cho những câu hỏi trên
thì đồng nghĩa với việc chúng ta đã tìm ra được phần nào hướng giải quyết cho vấn nạn
rác thải ở nước ta. Muốn biết được điều đó thì chúng ta phải giám sát và đánh giá thường
xuyên quá trình thí điểm tại từng phường một trong suốt quá trình thực hiện. Với cùng
một tham vọng giải đáp phần nào những khúc mắc đặt ra trên, nhưng vì thời gian thực
hiện có giới hạn nên nhóm chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả của
chương trình phân loại rác tại nguồn trên địa bàn phường Quyết Thắng Thành Phố
Biên Hòa Tỉnh Đồng Nai”.
Như đã đề cập ở trên, vì lý do hạn hẹp của thời gian, địa bàn nghiên cứu cùng với
kinh nghiệm và kiến thức còn giới hạn nên kết quả thu được của đề tài chỉ mang tính chất
tham khảo. Nhóm rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của thầy và các bạn.
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Địa bàn khảo sát:
2.1.1 Thành phố Biên Hoà:
a. Vị trí địa lý:
Thành phố Biên Hòa nằm ở phía tây tỉnh Đồng Nai, Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu,
Nam giáp huyện Long Thành, Đông giáp huyện Trảng Bom, Tây giáp huyện Dĩ An, Tân
Uyên tỉnh Bình Dương và Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh. Biên Hòa ở hai phía của
sông Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30km (theo Xa lộ Hà Nội và
Thành phố Biên Hòa là thành phố có mật độ dân cư cao thứ ba ở Việt Nam sau
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 3932 người/km². Cùng với Bình Dương và
Tp.HCM, Biên Hòa và các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Trảng Bom, Vĩnh Cửu tạo
thành một tam giác công nghiệp phát triển nhất cả nước. Với những định hướng, tiềm
năng và sự phát triển về kinh tế, Đồng Nai đang định hướng để nâng cấp thành phố này
và các huyện lân cận như Trảng Bom và Long Thành trở thành thành phố trực thuộc
Trung ương vào trước năm 2015. Hiện nay, thành phố này là một trong những thành phố
đông dân, hiện đại và phát triển nhất cả nước.
Về cơ cấu kinh tế, năm 2008, công nghiệp - xây dựng chiếm 70,13%; nông lâm
nghiệp chiếm 0,43% và dịch vụ chiếm 29,45%.
e. Lượng rác thải:
Thành phố Biên hòa hiện có khoảng 85% lượng rác thải sinh hoạt được đưa vào
xử lý và có thể khẳng định việc xử lý, tái chế rác sinh hoạt là việc làm hết sức cần thiết để
giải quyết lượng rác thải sinh hoạt một cách có ích. Trong số rác đưa vào xử lý được
phân loại để đưa sang bãi chôn lấp khoảng từ 15 đến 20%, số còn lại được Nhà máy xử lý
rác chế biến theo các công đoạn. Tuy nhiên, thực trạng xử lý rác thải ở thành phố Biên
Hòa hiện nay vẫn đặt ra những vấn đề tương đối nghiêm trọng về vệ sinh môi trường
chung quanh khu vực xử lý mà những người dân lân cận là những người hứng chịu hậu
quả đầu tiên. Hiện tại, mỗi ngày có khoảng 350 tấn rác thải sinh hoạt được đưa tới nhà
máy xử lý rác thải của Công ty cổ phần Vũ Nhựt Hồng ở phường Trảng Dài để xử lý. Rác
thải qua dây chuyền xử lý sẽ thành nguyên liệu dùng để sản xuất phân vi sinh, đối với
Nhà máy xử lý rác của Công ty Vũ Nhựt Hồng mới chỉ sản xuất ra thành phẩm là
compost, chưa sản xuất ra được phân vi sinh.
Tuy nhiên, quá trình hoạt động của nhà máy này đã phát sinh ô nhiễm cho môi
trường dân cư sinh sống gần đó, trong đó nặng nhất là mùi hôi (từ nguồn rác tươi khi tập
kết, từ dây chuyền chế biến hở, từ ủ phân thô, rác để ngoài trời ) và nước thải (nước rỉ
rác, nước mưa tràn vào ). Do công ty chưa tách riêng và đấu nối được hệ thống thoát
nước mưa ra ngoài nên nước mưa vẫn hòa chung với nước thải có thể gây ô nhiễm nguồn
nước ngầm Công ty Vũ Nhựt Hồng cho biết, phải chờ đến khi giai đoạn 2 của nhà máy
(đang xin thêm 5 hécta) được phê duyệt và xây dựng xong thì những quy định về môi
25,4
0
C – 29
0
C. Nhiệt độ thấp tuyệt đối 20 - 50
0
C.
Độ ẩm trung bình hàng năm 83,5% mùa mưa, độ ẩm thấp nhất mùa khô có khi
dưới 70%. Lượng mưa trung bình 1800 mm/năm, phân phối không đều, trong 6 tháng
mùa mưa lượng mưa chiếm 90% lượng mưa cả năm.
Hướng gió chủ yếu là Tây – Tây Nam và Đông – Đông Bắc. Gió Tây Nam thổi
trong mùa mưa với vận tốc trung bình 3,5 m/s. Gió Bắc – Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến
tháng 3, là khu vực ít có bão.
2.2 Chương trình phân loại rác tại nguồn:
2.2.1 Một số khái niệm:
a. Chất thải rắn:
Theo quan niệm chung: CTR là toàn bộ các vật chất được con người loại bỏ
trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt
động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng…) trong đó quan trọng nhất là các loại chất
thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống .
Theo quan niệm mới: CTR đô thị là vật chất mà ban đầu mà con người tạo ra
rồi vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt đi đó.
Thêm vào đó, chất thải được gọi là CTR đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như một
thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy (Trần Hiếu Nhuệ, 2001)
b. Phân loại chất thải rắn:
Có nhiều cách phân loại CTR như phân loại theo bản chất, ví dụ: tro than, xác
xúc vật chết, rác quét đường. Tuy vậy, cách phân loại tốt nhất là phân loại theo nguồn
phát thải.
Nguồn phát thải Loại chất thải
Hộ gia đình
cỏ); Các thành phần đã qua chế biến không sử dụng được.
ii. Chất thải rắn còn lại : bao gồm các loại các loại chất thải rắn sinh hoạt
không thuộc nhóm chất thải rắn hữu cơ dễ phân hủy, ví dụ như: xương động vật lớn, các
loại rác thải vô cơ như chai lọ, nilon, túi xốp, sành sứ, các loại nhựa, quần áo, bàn ghế cũ.
2.2.2 Chương trình PLRTN trên địa bàn phường Quyết Thắng:
a. Hệ thống quản lý, thu gom trước khi thực hiện chương trình:
+ Thu gom:
• Tại nơi công cộng: Quét dọn và thu gom rác đường phố tại các khu vực
công cộng bao gồm các tuyến đường, vỉa hè, tiểu đảo và các thùng rác công cộng
trên các tuyến đường do lực lượng công nhân của Cty Dịch vụ Môi trường Đô thị
Biên Hòa thực hiện.
• Tại hộ gia đình: Thu gom CTR tại các hộ gia đình chủ yếu do công ty Dịch
vụ Môi trường Đô thị Biên Hòa thực hiện. Chất thải rắn sinh hoạt từ nguồn thải ra
được công nhân Công ty thu gom đưa đến các điểm hẹn gần nhất, sau đó chuyển
qua xe thu gom rác chuyên dùng và chở thẳng về Bãi chôn lấp Trảng Dài.
• Tại các đơn vị có khối lượng phát thải lớn: đơn vị có nhu cầu đổt bỏ chất
thải sinh hoạt có khối lượng lớn phải ký hợp đồng với công ty để tiến hành thu gom.
Chất thải rắn tại các nguồn này thường được thu gom bằng xe tải chuyên dùng và
đưa thẳng về bãi chôn lấp.
• Toàn bộ chất thải rắn đều do Cty Môi trường đô thị Biên Hòa thu gom tại
các điểm hẹn để vận chuyển đến khu vực xử lý là BCL Trảng Dài.
+ Xử lý:
Toàn bộ rác đều được chôn lấp tại BCL Trảng Dài. BCL Trảng Dài có tất cả 9 ô
chôn lấp CTR sinh hoạt và 5 ô chôn lấp chất thải công nghiệp không nguy hại. Hiện
nay, 3 ô CTR sinh hoạt và 3 ô chất thải công nghiệp không nguy hại đã được đưa vào
vận hành chôn lấp. Với tốc độ phát sinh chất thải rắn như hiện nay, dự kiến BCL
Trảng Dài vận hành đến năm 2010 thì phải đóng cửa.
b. Nội dung triển khai:
+ Địa bàn triển khai:
Công ty dịch vụ Môi Trường đô thị Biên Hòa tổ chức triển khai thí điểm nhiệm
Công tác tuyên truyền: UBND TP Biên Hòa hỗ trợ cho tuyên truyền cho
các đối tượng tại các phường tiến hành thí điểm bằng nhiều hình thức: trên sóng
phát thanh, truyền hình và tập huấn trực tiếp.
+ Phương pháp PLCTR tại nguồn:
Các loại CTRSH được chia thành 2 nhóm và được chứa vào trong 2 túi nylon và 2 thùng
chứa quy định như sau:
- Thùng và túi nylon màu xanh lá cây: chứa CTR thực phẩm.
- Thùng và túi nylon màu xám: chứa các loại CTR còn lại.
*Một số tình huống xử lý PLRTN:
- Thùng chứa rác thực phẩm gồm: Mang, vảy cá , lông gà, lông vịt, xương, rau
thừa, lá cây, cành cây, thức ăn thừa…
- Thùng chứa rác còn lại: Túi nylon, lon, hộp, chai….
**Trách nhiệm của các chủ nguồn thải:
- PLCTR theo đúng yêu cầu.
- Bỏ rác vào đúng loại túi và đúng thùng.
- Không bỏ rác ra lòng, lề đường, hè phố, trước mặt nhà…khi chưa đến giờ thu
gom rác hoặc chưa có tín hiệu của người thu gom.
- Chỉ giao “rác còn lại” cho người thu gom “rác còn lại” theo đúng lịch thu gom.
- Có thể bán phế liệu, những gì không bán được thì bỏ vào thùng rác đúng quy
định.
- Không nên sử dụng thùng và túi nylon do Nhà nước cung cấp cho mục đích
khác.
***Trách nhiệm của đơn vị chủ quản:
- Cấp phát thùng túi đến từng hộ dân.
- Thùng, túi được Chi cục Bảo vệ Môi trường đầu tư trang bị và bàn giao cho Cty
Môi trường đô thị Biên Hòa.
III. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Được sử dụng để thu thập thông tin trong các tài liệu có sẵn để hoàn thiện phần tổng quan
và cơ sở lý luận cho đề tài. Thu thập các dữ liệu, hình ảnh, sơ đồ… từ sách báo, internet,
thành công của chương trình.
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
*Từ kết quả của câu 4 trên bảng số liệu trên ta thấy người dân thực hiện việc
phân loại rác khá thường xuyên (59,34%). Tuy nhiên việc phân loại này có thể do hai
nguyên nhân sau:
• Người dân hiểu được lợi ích của việc PLRTN nên thực hiện thường xuyên.
Như vậy chương trình sẽ đạt hiệu quả cao.
• Người dân chỉ làm theo quyết định từ phía chính quyền. Lúc đầu, chương
trình cũng sẽ đạt hiệu quả cao, nhưng về lâu dài thì hiệu quả có thể bị giảm xuống
nếu không có sự giám sát chặt chẽ.
**Để tìm hiểu xem người dân tự nguyện phân loại rác hay bị bắt buộc ta dựa vào
hai biểu đồ: biểu đồ thể hiện sự hài lòng của người dân đối với chương trình và biều đồ
thể hiện kiến thức của người dân về việc PLRTN. Từ đó rút ra nhận xét và đánh giá hiệu
quả chương trình.
***Nhận xét:
• Qua biểu đồ, ta thấy người dân rất hài lòng với hệ thống thu gom rác. Khi
có sự hài lòng sẽ tạo tâm lý thoải mái trong việc phân loại. Điều này đóng góp cho
sự thành công của chương trình. Tuy nhiên việc phân loại rác đúng hay sai phụ
thuộc vào kiến thức của người dân.
• Vậy ta cần tìm hiểu xem người dân có kiến thức như thế nào đối với việc
PLRTN trên địa bàn phường Quyết Thắng (căn cứ vào biểu đồ 2).
****Nhận xét:
• Ở câu số 11, chỉ có 26% người dân chọn 3 Đáp án, như vậy gần ¾ số người
dân không biết được mục đích của việc PLR là vì lợi ích của mình. Cho nên đến câu
12 chỉ có 32,25% người dân cho rằng đối tượng nhận được lợi ích từ chương trình
PLRTN là của chính người dân.
• Ở câu số 13, 94,3% người dân hiểu được chia rác thành 2 loại là hợp lý, tuy
nhiên đến câu 15 thì có đến 46,65% người dân trả lời việc PLRTN không có thay
đổi gì sau khi thực hiện. Điều đó có nghĩa rằng người dân đã không nắm vững kiến
thức về việc PLRTN.
việc phân loại rác rất mất công. Với những đối tượng này thì việc tuyên truyền phân
loại rác cũng gặp khó khăn vì người lớn tuổi thường khá bảo thủ vì thế khó được sự
đồng thuận và hợp tác của họ.
Ý thức người dân:
o Người dân có thể hoàn toàn sử dụng những dụng cụ sẵn có để
tiếp tục phân loại như thùng bỏ hoặc bịch nylon không sử dụng nữa nhưng họ lại
khá phụ thuộc vào những dụng cụ được phát, nếu đầy thùng hoặc hết bịch nilon thì
ngừng phân loại.
o Một số người dân quan niệm “người ta sao mình vậy” thấy
người dân xung quanh làm thì mình cũng làm, người ta không làm nữa thì mình
cũng không làm nữa. Họ còn quan niệm “việc thực hiện PLRTN vì Nhà Nước yêu
cầu, vì thấy mọi người đều làm nên làm theo, không tự nguyện làm vì lợi ích gia
đình hay vì họ thấy được những tác động tích cực của hoạt động PLRTN mà chỉ là
do chính quyền yêu cầu hoặc vì ai cũng làm nên họ làm theo, những lý do này có
thể dẫn đến tình trạng người dân thực hiện cho có, không tích cực và thực hiện
không đúng cách.
Những người thu nhặt bọc nilon làm xáo trộn rác đã phân loại.
Phân loại rác còn nhiều sai sót, không đáp ứng yêu cầu cho mục đích
xử lý sau phân loại.
Thực hiện lấy lệ, chưa tự giác, chỉ làm khi được nhắc nhở….nên
chưa điều chỉnh được hành vi không thực hiện PLRTN của người dân.
Hệ thống quản lý kém:
o Lực lượng thu gom rác chưa sử dụng xe 2 ngăn chứa rác đã
phân loại (không tự giác ngăn xe) phân loại rác lấy lệ, đùn đẩy trách nhiệm.
o Trước đây lượng rác hữu cơ (rác thực phẩm) được đưa về nhà
máy xử lý rác – Công ty Cổ phần Môi trường Đồng Xanh để xử lý làm phân
Ảnh chụp ngày thứ 2, 26/10/2009