ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÀNH THỊ
NHUNG
rr-1
-*Ầ
.A•
Tên đê tài:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC CẤP GCNQSDĐ TRÊN ĐỊA BÀN
PHƯỜNG CHI LĂNG, TP. LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo Chuyên
: Chính quy : Quản
ngành Khoa Lớp
lý đất đai : Quản lý
Khóa học
tài nguyên : K43 Giảng viên hướng dẫn
QLĐĐ - N01 : 2011
- 2015 : TS. Vũ Thị
Qúy
LÀNH THỊ NHUNG
Bảng 4.1.Tình hình dân số, lao động củaPhường Chi Lăng,
TP.Lạng Sơn,Tỉnh Lạng
GCNQSDĐ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
UBND
Ủy ban nhân dân
TN & MT
Tài nguyên và Môi trường
NĐ - CP
Nghị định Chính Phủ
BTC
Bộ Tài Chính
TTLT
Thông tư liên tịch
CT - TTg
\
1.1.1.
Đánh giá khái quát trình độ hiểu biết của
người dân phường Chi Lăng về việc cấp
5
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng qúy giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư,
xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng. Xã hội ngày càng phát triển thì
đất đai ngày càng có v ị trí quan tr ọng, bất kỳ một ngành s ản xuất nào thì đất đai
luôn là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được. Đối với nước ta, một
nước nông nghi ệp thì vị trí của đất đai lại càng quan trọng và có ý nghĩa hơn.
Ở Việt Nam, Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện quản lý.
Một trong những công cụ quản lý hết sức quan trọng của nhà nước về đất đai là đăng
ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong những năm gần đây, dù đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý
nhà nước về đất đai, nhưng những hành vi vi phạm pháp luật đất đai, những vụ tranh
chấp, khiếu kiện vẫn xảy ra. Đây là vấn đề nhức nhối làm đau đầu nhiều nhà chức
Lăng, TP.Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơn.
-
Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn phường Chi Lăng,
TP.Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơn.
-
Đánh giá được kết quả công tác cấp GCNQSD đất giai đoạn từ năm 2011 đến
năm 2013 của phường Chi Lăng, TP.Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơn.
-
Đánh giá khái quát được về trình độ hiểu biết của người dân trong phường về
công tác cấp GCNQSD đất.
-
Đề xuất được một số giải pháp nhằm khắc phục khó khăn trong công tác cấp
GCNQSD đất tại phường Chi Lăng, TP.Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơn.
1.4.
-
Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa học tập: củng cố kiến thức đã học, tạo cơ hội tiếp cận với công tác
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
luôn các đất đai phục vụ cho lợi ích của riêng mình.
Bất kỳ một quốc gia nào cũng có một quỹ đất nhất định được giới hạn bởi
biên giới quốc gia mà thiên nhiên ban tặng. Nhà nước với tư cách là một tổ chức
chính trị của giai cấp thống trị cũng chiếm giữ một diện tích đất nhất định để phục vụ
lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội của tầng lớp mình.
Đất đai là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, vì vậy nhà nước muốn tồn tại và
phát triển thì phải nắm chắc được tài nguyên đất đai của mình. Mỗi thời kỳ lịch sử
với chế độ chính trị khác nhau đều có chính sách quản lý đất đai đặc trưng cho thời
kỳ lịch sử đó. Vì thế, sự biểu hiện của công tác địa chính trong các thời kỳ lịch sử
khác nhau cũng khác nhau.
♦♦♦ Thời kỳ đầu lập nước:
Khi người Việt Cổ cùng chung sống trong một làng chạ thì đát đai là của
chung và đó chính là khởi thủy của ruộng đất công, mọi người cùng làm cùng hưởng
và cùng bảo vệ đất.
Khi nhà nước Văn Lang ra đời chia ra làm 15 với toàn bộ ruộng đất trong đó
là của chung và cũng là của vua Hùng, những khái niệm sơ khai về sở hữu nhà vua
được hình thành. Các làng chạ canh tác trên ruộng đất phải cống nộp những sản
phẩm cần thiết cho vua qua Bố Chánh ( người đứng đầu các làng chạ) Lạc Hầu , Lạc
Tướng ( người đứng đầu các bộ).
❖ Thời kỳ phong kiến
Trong hơn 100 năm bắc thuộc, hình thức sở hữu tối cao phong kiến về ruộng
đất chi phối xã hội Việt Năm thời bấy giờ.
Từ năm 1805-1863: Nhà Nguyễn đã hoàn tất bộ địa bạ của 18 nghìn xã từ
8
Mục nam quan đến mũi Cà Mau bao gồm 1044 tập địa bạ. Trong địa bạ còn ghi rõ
thửa đất của ai, sử dụng làm gì, kích thước bao nhiêu trên cơ sở điều tra ngoài thực
địa, đo đạc cụ thể có sự nhất trí của chủ sở hữu và quan lạc điền. Tuy nhiên đơn vị
ngày 14/2/1953 tại kỳ họp lần II Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban
hành Luật cải cách ruộng đất, mục tiêu là chia cấp ruộng đất một cách công bằng cho
nông dân, Chính phủ cũng quy định nhiều chính sách sử dụng đất hoang, đất vắng
chủ.
❖ Thời kỳ 1954-1975
-
Tại miền Bắc Việt Nam:
Ngày 03/7/1958 Chính phủ ban hành chỉ thị 354/CT cho tái hợp hệ thống Địa
chính trong Bộ Tài chính được gọi là Sở Địa chính nhằm mục đích quản lý ruộng đất
để thu thuế nông nghiệp. Năm 1960 hợp tác hóa nông nghiệp ở các tỉnh phía Bắc đã
hoàn thành 90% diện tích đất canh tác đã được tập thể hóa. Sở hữu tập thể đối với
ruộng đất được ra đời và phát triển nhanh chóng. Vấn đề nổi lên lúc này là phải củng
cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa (trong đó chủ yếu là quạn hệ ruộng đất) và giúp
đỡ sản xuất nông nghiệp tập thể phát triển. Một trong những giải pháp quan trọng
trong thời kỳ này là cần thiết phải gắn liền quản lý ruộng ỗất với quản lý sản xuất
nông nghiệp, giúp cho các hợp tác xã, các nông trường nắm chắc được ruộng đất để
tổ chức sử dụng ruộng đất hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao. Để phù hợp với tình hình
và yêu cầu mới, ngày 9/12/1960 Hội đồng Chính phủ đã quyết định: chuyển ngành
Địa chính từ Bộ Tài chính sang Bộ Nông nghiệp phụ trách và đổi tên thành ngành
quản lý ruộng đất. Theo 2 Nghị định số 70/CP và 71/CP ngày 9/12/1960, Ngành
quản lý ruộng đất có nhiệm vụ giúp Bộ Nông nghiệp quản lý việc mở mang, sử dụng
và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp với những nội dung cụ thể:
-
Lập bản đồ địa bạ về ruộng đất, thường xuyên chỉnh lý bản đồ và địa bạ cho
phù hợp với sự thay đổi về hình thể ruộng đất về quyền sở hữu, sử dụng ruộng
đất, về tình hình canh tác và tình hình cải tạo chất đất.
*Giai đoạn 1960-1975:Chúng thành lập Tổng nha Điền địa với 11 nhiệm vụ, trong
đó có 3 nhiệm vụ chính sau:
-Xây dựng các tài liệu được nghiên cứu, tổ chức điều hành tất cả các việc của công
tác địa chính;
-Quản thủ tài liệu: bảo lưu, hiện cải, sang bản, in bản đồ, lập trích lục bản đồ và sổ
địa bạ;
-Khai thác tài liệu để tiến hành cải cách điền địa.
Năm 1955-1956, Ngô Đình Diệm đưa ra "Quốc sách cải cách điền địa"; năm 1970,
Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố "Luật Người cày có ruộng". Chúng đã thực hiện 5 hình
thức sau:
Lập khế ước tá điền (còn gọi là cấp bằng chứng khoán ruộng đất cho nông
dân): căn cứ vào địa bạ hoặc theo lời khai của địa chủ để lập các hợp đồng.
-Truất hữu địa chủ: Theo Đạo dụ số 57 (thực hiện cải cách điền địa) mỗi địa
chủ chỉ được giữ lại 100 ha ruộng đất và 15 ha đất hương hoả (trừ những diện tích
trồng cây lâu năm); đến khi thực hiện Luật Người cày có ruộng hạn mức này giảm
1
1
xuống còn 15 ha với Nam bộ và 5 ha với Trung bộ.
-Tiểu điền chủ hoá tá điền (còn gọi là hữu sản nông dân): chúng biến một số
tá điền trở thành tiểu điền chủ bằng cách bán lại cho mỗi tá điền 3 ha ruộng đất (với
vùng Nam bộ) hoặc 1 ha (với vùng Trung bộ), số đất này lấy từ ruộng đất thu hồi của
các đại địa chủ như trên đã nêu.
-Hướng dẫn địa chủ qua hoạt động kỹ nghệ: Những đại địa chủ khi bị truất
hữu (trưng mua) bớt ruộng đất thì phần ruộng đất đó được trả bằng cổ phiếu để góp
vào các công ty, xí nghiệp khi cổ phần hoá.
-Thu hồi về tay quốc gia những ruộng đất bị thực dân chiếm đoạt: Chính
quyền Diệm dùng tiền Pháp để trả cho các đại địa chủ Pháp khi Diệm thu về tay
cở sở Tổng Cục Quản Lý ruộng đất và vụ đo đạc với nhiệm vụ quản lý toàn bộ đất
đai trong cả nước, toàn bộ nguồn thu chuyển dần từ đất nông nghiệp sang đất phi
nông nghiệp. Năm 2002 Bộ Tài Nguyên và Môi Trường được thành lập, quản lý đất
đai lúc này chỉ còn một phần chức năng của bộ. Tuy luật đất đai đã nhiều lần được
thay đổi, sửa đổi nhưng vẫn không thể đáp ứng được cho công tác quản lý và sử
dụng đất, các văn bản dưới luật thiếu logic, nhiều khi chồng chéo nhau, gây khó
khăn cho người làm công tác quản lý đối với đất đai. Để khắc phục tình trạng trên
ngày 23/11/2003 Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật đất đai và có
hiệu lực áp dụng vào ngày 01/7/2004. Sauk hi luật đất đai ra đời hàng loạt các văn
bản dưới luật được ban hành để cụ thể hóa luật đất đai, ngày 29/10/2004 Chính Phủ
ban hành Nghị định 181/2004/NĐ-CP về thi hành luật đất đai 2003.
2.2.
Cở sở khoa học và tính pháp lý của công tác cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất
2.1.1.
Sự cần thiết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa nhà
nước với người sử dụng đất. Đây là yếu tố góp phần quan trọng vào việc nắm chắc
quỹ đất của địa phương, giúp cho việc quy hoạch sử dụng hợp lý từng loại đất, tạo
điều kiện cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất. Việc đăng ký đất đai, GCNQSDĐ
góp phần hoàn thiện hồ sơ địa chính, giúp cho việc nắm chắc quỹ đất cả về số lượng
và chất lượng. Vì vậy việc cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất cho người dân là hết sức cần thiết bởi nó đảm bảo quyền lợi hợp pháp
của người dân và giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai được hiệu quả hơn.
2.1.2.
1. Bản đồ địa chính có tọa độ, ngoài ra tùy từng điều kiện của từng địa phương
có các loại bản đồ sau:
+ Bản đồ giải thửa toàn xã đo vẽ bằng nhiều phương pháp khác nhau.
+ Hồ sơ kỹ thuật thửa đất (đối với đất đô thị) hoặc hồ sơ trích lục thửa đất
(đối với các thửa đất nông nghiệp, lâm nghiệp có nhiều chủ sử dụng nhưng ranh giới
giữa các thửa đất thể hiện bằng bờ cố định).
+ Bản đồ trích đo khu vực từng thửa đất ( trong trường hợp chưa có bản đồ
địa chính mà có nhu cầu đăng ký lập hồ sơ, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất đến từng nhóm hộ gia đình, cá nhân, tổ chức trên từng
thửa đất.
2. Sổ địa chính
3. Sổ mục kê
4. Sổ theo dõi biến động đất đai
5. Sổ cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
6. GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
7. Bảng kê diện tích đất đai.
2.1.4.
Quy trình cấp GCNQSD đất
+) Hộ gia đình, cá nhân chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo quy định của pháp luật +)
Hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một
cửa thuộc UBND cấp xã.
1
4
+) Cán bộ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa cấp xã tiếp
nhân và kiếm tra tính pháp lý, nội dung hồ sơ:
•
Luật đất đai 1993
•
Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993 của Chính Phủ quy định về giao đất nông
nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất lâu dài
•
Nghị định 60/CP ngày 5/7/1994 của Chính Phủ về quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất đô thị
•
Nghị định 176/1999/NĐ-CP ngày 21/12/1999 của Chính Phủ về lệ phí trước
•
bạ
Nghị định 38/NĐ-CP ngày 23/8 2000 của Chính Phủ về thu tiền sử dụng đất
•
Chỉ thị 18/1999/CT-TTg ngày 1/7/1999 của Chính Phủ về một số biện pháp
đẩy mạnh việc hoàn thiện công tác CGCNQSD đất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp , đất ở nông thôn vào năm 2000
- Sau khi có Luật Đất đai năm 2003
•
Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính Phủ quy định bổ sung về việc cấp
GCNQSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi
thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi và giải quyết khiếu nại về đất
đai
•
Nghị định 44/2008/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định
198/2004/NĐ-CP của Chính Phủ về thu tiền sử dụng đất
2.2.2.
Căn cứ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất 2.2.2.I. Những quy định về giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
1. GCNQSDĐ được cấp cho người sử dụng đất theo mẫu thống nhất trong cả
nước đối với mọi loại đất.
Trường hợp có tài sản gắn liền với đất thì tài sản đó được ghi nhận trên
GCNQSD, chủ sở hữu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định của
pháp luật về đăng ký bất động sản.
2. GCNQSD đất do bộ Tài Nguyên và Môi trường phát hành
3. GCNQSD đất được cấp theo từng thửa đất
Trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và
chồng thì GCNQSD đất phải ghi cả họ tên vợ và chồng.
Trường hợp thửa đất có nhi ều cá nhân, h ộ gia đình, tổ chức cùng sử dụng thì
GCNQSD đất được cấp cho từng cá nhân, hộ gia đình, từng tổ chức đồng quyền sử
dụng.
dụng. Quá trình tổ chức việc cấp GCN là quá trình xác lập căn cứ pháp lý đầy đủ để
giải quyết mọi quan hệ về đất đai theo đúng pháp luật. Vì vậy người được cấp GCN
phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của pháp luật.
* Yêu cầu của ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất:
Việc cấp GCNQSDĐ là công việc hết sức quan trọng, nó phải được tiến hành lần
1
7
lượt từng bước vững chắc không nóng vội ồ ạt theo phong trào, đủ điều kiện đến đâu
cấp GCN đến đó. Chưa đủ điều kiện thì để lại đưa vào trường hợp xét cấp và có kế
hoạch xử lý những trường hợp đó bằng tài chính để cấp GCN cho họ, chứ không thể
bỏ lại được, làm như vậy sẽ không bao giờ cấp được. Phải chủ động tạo điều kiện để
mọi người sử dụng đất thuộc mọi đại phương đều lần lượt được cấp GCNQSDĐ.
Đồng thời phải được sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của cấp Uỷ Đảng và chính quyền
các cấp.
* Đối tượng của ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất:
Nhà nước cấp GCNQSDĐ cho những trường hợp sau:
1. Người được nhà nước giao đất, cho thuê đất trừ trường hợp thuê đất nông
nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.
2. Người được nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993
đến trước ngày luật đất đai này có hiệu luwcjthi hành mà chưa được cấp
GCNQSDĐ.
3. Người đang sử dụng đất được quy định tại điều 50 và điều 51 của luật đất đai
năm 2003 mà chưa được cấp GCNQSDĐ.
4. Người được chuyển đổi chuyển nhượng, thừa kế, nhận tặng cho quyền sử
dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất để thu
trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác
nhận là đã sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993.
e) Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp
luật.
f) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế đọ cũ cấp cho người sử dụng
đất.
2. Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định
tại khoản 1 trên đây mà trên đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về
chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan, nhưng đến trước
ngày luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được UBND xã, phương, thị trấn
xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp GCNQSDĐ và không phải
nộp tiền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương
1
9
và trược tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối
tại vùng có điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội khó ở miền núi hay hải đảo
được UBND xã nơi có đất xác nhận là người đang sử dụng đất ổn định, không
có tranh chấp thì được cấp GCNQSDĐ và không phải nộp tiền sư dụng đất.
4. Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại
khoản 1 trên đây nhưng đất đã sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm
1993, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh
chấp, phù hợp với QHSDĐ thì được cấp GCNQSDĐ và không phải nộp tiền
sử dụng đất.
5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của tòa án
nhân dân, quyết định giải quyết tranh chấp của cơ quan nhà nước có thẩm
b) Tổ chức phải bàn giao phần diện tích đã sử dụng làm đất cho UBND huyện ,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để quản lý, trường hợp doanh nghiệp nhà
nước sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối đã
được nhà nước giao đất mà doanh nghiệp đó cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
một phần quỹ đất làm đất ở thì phải bố trí lại diện tích đất ở thành khu dân cư
trình UBND tỉnh thành phố trực thuộc trung ương nơi có đất xét duyệt trước
khi bàn giao cho địa phương quản lý.
3. Đối với tổ chức kinh tế lựa chọn hình thức thuê đất thì cơ quan quản lý đất đai
của tỉnh thành phố trực thuộc trung ương làm thủ tục ký hợp đồng thuê đất
trước khi cấp GCNQSDĐ.
4. Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ khi có các điều kiện
sau đây:
a) Cơ sở tôn giáo được nhà nước cho phép hoạt động.
b) Có đề nghị bằng văn bản của tổ chức tôn giáo có cơ sở tôn giáo đó.
c) Có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất về nhu cầu sử dụng
đất của cơ sở tôn giáo đó.
2.2.3. Nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của
chủ sử dụng đất để họ yên tâm đầu tư, cải tạo nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thực
hiện các quyền và nghĩa vụ sử dụng đất theo pháp luật.
Nguyên tắc cấp GCNQSDĐ được quy định rõ tại điều 48 luật đất đai 2003 như sau:
1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho người sử dụng đất theo một
2
1
mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất.
Trường hợp có tài sản gắn liền với đất thì tài sản đó được ghi nhận trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất; chủ sở hữu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo
2
2
lý nhà nước về đất đai cũng được triển khai đồng bộ, từng bước đưa công tác quản lý
đất đai đi vào nề nếp, nhằm khai thác sử dụng đất có hiệu quả và bền vững. trong
những năm qua công tác quản lý nhà nước về đất đai trên toàn quốc đã đạt được
những kết quả sau:
-
Công tác ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và
tổ chức thực hiện các văn bản đó: trong những năm qua các văn bản pháp
luật của nhà nước có liên quan đến đất đai đã được ban hành và ngày càng
hoàn thiên cho phù hợp với tình hình mới để công tác quản lý và sử dụng đất
đạt hiệu quả. Từ luật đất đai 1993 , luật đất đai sửa đổi 1998, 2001 và luật đất
đai 2003, cùng với đó là các văn bản, nghị định, thông tư đã tạo ra một hành
lang pháp lý cho công tác quản lý và sử dụng đất đai. Tuy nhiên các văn bản
pháp luật về đất đai vẫn còn nhiều điều khoản chồng chéo gây càn trở việc
giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai. Vì vậy để phù hợp với tình hình
thưc tế có nhiều biến động do nền kinh tế đang trên đà phát triển cần phải có
một hành lang pháp lý vững chắc cho công tác quản lý đất đai được đòng bộ
và thống nhất.
-
Về công tác đo đạc bản đồ: Công tác quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ
đã có những chuyển biến tích cực từng bước đi vào nề nếp. Toàn bộ hệ thống
trắc địa quốc gia đã được đo đạc hoàn chỉnh, được xử lý toán học, đã và đang
được sử dụng.
Riêng công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào
sử dụng đất trong điều kiện hồ sơ đăng ký đất đai chưa được hoàn chỉnh là
một trong những khó khăn lớn của ngành địa chính. Việc dựng kế hoạch sử
dụng đất hàng năm của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã đi vào nề
nếp.
-
Công tác thống kê, kiểm kê đất đai:Việc thống kê, kiểm kê đất đai được
tiến hành đều đặn vào ngày 01/01 hàng năm, việc kiểm kê đất đai được tiến
hành năm năm một lần. trong năm 2010, thực hiệnchỉ thị 618/CT-TTg v/v
kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của Thủ
Tướng chính phủ, Bộ TN&MT đã chỉ đạo thực hiện công tác kiểm kê đất đai
1/1/2010 và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn cả nước với
63 đơn vị hành chính cấp tỉnh, 693 đơn vị hành chính cấp huyện và 11.076
đơn vị hành chính cấp xã.Qua kiểm kê cho thấy cả nước có tổng diện tích tự
nhiên 33.093.857 ha bao gồm đất nông nghiệp 26.100.106 ha chiếm 79%, đất
phi nông nghiệp 3.670.186 ha chiếm 11% và đất chưa sử dụng 3.323.512 ha
chiếm 10% diện tích tự nhiên, trong đó có 24.989.102 ha chiếm 75,51% là đã
2
4
có chủ sử dụng. So với năm 2005, diện tích đất sản xuất nông nghiệp tăng
1.277.600 ha, trong đó đất trồng lúa có 4.127.721 ha, vượt so với quy hoạch
10,33% nhưng giảm 37.546 ha, bình quân hàng năm giảm 7.000 ha; Đất lâm
nghiệp tăng 571.616 ha, riêng Quảng Nam tăng 135.000 ha do giao đất trồng
rừng, bổ sung đất rừng tự nhiên đặc dụng, khu bảo tồn đặc dụng; Cơ cấu 3
loại rừng của cả nước có sự thay đổi lớn là đất rừng sản xuất tăng 1.954.606
ha, rừng phòng hộ giảm 1.484.350 ha, rừng đặc dụng tăng 71.361 ha; Đất
-
Về công tác CGCNQSDĐ:
Theo thông báo 204/NĐ-VPCP [12] kết quả tổng hợp từ các địa phương, đến
nay cả nước đã cấp 41,6 triệu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất (GCN) với tổng diện tích 22,9 triệu ha, đạt 94,8%
diện tích các loại đất đang sử dụng phải cấp GCN, trong đó 5 loại đất chính cả nước
đã cấp được 40,7 triệu GCN với tổng diện tích 22,3 triệu ha, đạt 94,6% diện tích sử
dụng cần cấp và đạt 94,6% số các trường hợp sử dụng đất đủ điều kiện cấp GCN.
Một số địa phương đã hoàn thành cơ bản việc cấp GCN lần đầu nhưng xét riêng từng
loại đất vẫn còn một số loại đạt thấp dưới 85% như: Đất chuyên dùng còn 29 địa
phương; đất ở đô thị còn 15 địa phương; đất sản xuất nông nghiệp còn 11 địa
phương; các loại đất ở nông thôn và đất lâm nghiệp còn 12 địa phương; một số địa
phương có loại đất chính đạt kết quả cấp Giấy chứng nhận lần đầu thấp dưới 70%
gồm: Lạng Sơn, Hà Nội, Bình Định, Kon Tum, TP. Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Ninh
Thuận và Hải Dương.
- Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp
đất đai: giữa các địa phương trên cả nước đã có sự phối hợp chặt chẽ để xử lý đơn
thư, tranh chấp xảy ra. Việc thanh tra trách nhiệm của các cấp lãnh đạo ở địa phương
đã mở ra hướng mới để đẩy mạnh công tác hòa giải và xử lý tranh chấp, khiếu nại
ngay tại cơ sở. Cùng với sự phát triển chung của toàn ngành, các cơ quan thanh tra
ngày càng được củng cố hoàn thiện về lực lượng và nâng cao năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ.Năm 2013, toàn ngành thanh tra trong cả nước đã triển khai 4.724 cuộc
thanh tra hành chính và 89.281 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành tại 283.183 tổ
chức, cá nhân. Qua thanh tra phát hiện vi phạm 12.225 tỷ đồng và 452 ha đất, kiến
nghị thu hồi 4.934 tỷ đồng và 401 ha đất, ban hành 127.815 quyết định xử phạt vi
phạm hành chính với 252 tỷ đồng, xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán và đề nghị
cấp có thẩm quyền xem xét xử lý 6.109 tỷ đồng, 44,5 ha đất, đã kiến nghị xử lý kỷ
luật hành chính đối với 431 tập thể, 819 cá nhân, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình