điều tra hiện trạng sản xuất và bước đầu tuyển chọn một số giống ổi phục vụ công tác chọn tạo giống ở miền bắc - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
********* NGUYỄN VIỆT DƯƠNG ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT VÀ BƯỚC ĐẦU
TUYỂN CHỌN MỘT SỐ GIỐNG ỔI PHỤC VỤ CÔNG TÁC
CHỌN TẠO GIỐNG Ở MIỀN BẮC LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ : 60 62 01 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. PHẠM THỊ HƯƠNG
2. TS. BÙI QUANG ĐÃNG

Rau, quả và hoa cây cảnh - Khoa Nông học, Ban quản lý đào tạo
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Những ngời thầy đã hết lòng
hớng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Chuyển giao Trung tâm
Nghiên cứu thực nghiệm Rau quả Gia Lâm Viện Nghiên cứu
Rau quả đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã giúp tôi hoàn thành bản luận văn này!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Nguyễn Việt Dơng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v


1.3.2.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1.

Nguồn gốc, phân bố cây ổi 3

2.2.

Đặc điểm hình thái và phân loại 4

2.2.1.

Đặc điểm hình thái 4

2.2.2.

Phân loại 5

2.3.

Yêu cầu sinh thái của cây ổi 8

2.4.

Đặc điểm một số giống ổi ăn tươi phổ biến trên thế giới và trong nước 10



3.1.

Vật liệu nghiên cứu 32
3.2.

Nội dung nghiên cứu 32

3.3.

Thời gian nghiên cứu 32

3.4.

Địa điểm nghiên cứu 32

3.5.

Phương pháp nghiên cứu: 33

3.5.1.

Phương pháp nghiên cứu 33

3.7.

Phương pháp xử lý số liệu 35

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36



4.3.4. Tình hình sâu bệnh hại ổi tại các vùng điều tra 69

4.3.5. Tình hình áp dụng các biện pháp kỹ thuật thu hoạch và bảo quản sau thu
hoạch của các vùng trồng ổi 73

4.4. Hiệu quả kinh tế của một số giống ổi tại các vùng điểu tra 73

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 76

Kết luận 76

Đề nghị 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Các nước có sản lượng ổi cao nhất thế giới năm 2011 20

Bảng 4.1. Thành phần hóa học của đất tại các điểm điều tra 38

Bảng 4.2. Một số giống ổi thu thập được tại các điểm điều tra 46

Bảng 4.3. Thành phần một số giống chính tại các điểm điều tra 47


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ
Trang
Đồ thị 4.1. Nhiệt độ và lượng mưa trung bình năm 2013 thành phố Hà Nội 40

Đồ thị 4.2. Nhiệt độ và lượng mưa trung bình năm 2013 của tỉnh Hải Dương 41

Đồ thị 4.3. Nhiệt độ và lượng mưa trung bình năm 2013 của tỉnh Bắc Giang 44

Biểu đồ 4. Diện tích trồng ổi tại một số điểm điều tra từ năm 2011-2013 62

Biểu đồ 5. Sản lượng ổi tại một số điểm điều tra từ năm 2011-2013 64Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC ẢNH
Trang
Ảnh 1. Hình thái lá ổi Đông Dư 49

Ảnh 2. Hình thái lá ổi Xù 50

Ảnh 3. Hình thái lá ổi Thái Lan 51

Ảnh 4. Hình thái lá ổi Đài Loan 52

Ảnh 5. Hình thái lá ổi Bo 53

đây, cây ổi có xu hướng phát triển ở nhiều vùng trong cả nước với chủng loại
giống khá đa dạng, nhiều giống được du nhập từ: Trung Quốc, Đài Loan, Thái
Lan. Nhưng các giống này vẫn chưa được nghiên cứu đánh giá đúng mức.
Kỹ thuật thâm canh ổi của người dân trồng ổi còn rất hạn chế cùng với
hiện tượng sản xuất ổi tràn lan, sử dụng giống trồng không rõ nguồn gốc và
không được kiểm soát diễn ra ngày một phổ biến sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến
sản xuất ổi trong tương lai. Hơn nữa, giống ổi ăn tươi đòi hỏi phải tích hợp
được nhiều đặc điểm tốt, đảm bảo đáp ứng được đòi hỏi ngày một khắt khe
của thị trường tiêu thụ.
Để có được các giống ổi có năng suất cao, chất lượng quả tốt, thích hợp
cho ăn tươi, cần có nghiên cứu điều tra đánh giá vật liệu giống hiện có, làm cơ
sở cho nghiên cứu chọn lọc và lai tạo giống phục sản xuất. Đề tài: “Điều tra
hiện trạng sản xuất và bước đầu tuyển chọn một số giống ổi phục vụ công
tác chọn tạo giống ở miền Bắc” nhằm giới thiệu các giống tốt cho sản xuất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

đồng thời cung cấp dữ liệu cơ bản ban đầu về nguồn vật liệu phục vụ công tác
nghiên cứu chọn tạo giống ổi trong tương lai.
1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1. Mục đích
Đánh giá được hiện trạng trồng ổi ở một số tỉnh miền Bắc, mô tả đặc
điểm của các giống hiện trồng, giới thiệu giống triển vọng cho sản xuất, cho
công tác nghiên cứu chọn tạo giống.
1.2.2. Yêu cầu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên vùng trồng ổi tập trung (đất đai, khí hậu)\
- Điều tra thành phần giống, mô tả đặc điểm hình thái
- Điều tra tình hình trồng trọt: chăm sóc, bón phân, cắt tỉa, bảo vệ thực vật
- Điều tra đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất ổi: đánh giá hiệu quả kinh
tế của mô hình trồng giống ổi có năng suất cao nhất tại các vùng điều tra.

Mặc dù hiện nay ổi chưa được coi là cây ăn quả quan trọng về mặt kinh
tế, nhưng là cây ăn quả có tiềm năng thương mại rất lớn, có giá trị dinh dưỡng
cao, giàu vitamin C, thậm chí một vài giống ổi có hàm lượng vitamin C cao
hơn ở cây có múi (Roberto E. Coronel, 1998).
Ở Việt Nam cây ổi được nhập vào trồng từ lúc nào không rõ nhưng
được phát triển trên khắp cả nước, từ đồng bằng ven biển cho đến vùng núi có
độ cao khoảng 1500 m trở xuống. Ở miền Nam, ổi được trồng ở An Giang,
Ninh Thuận, Tiền Giang, Đồng Nai… Qua quá trình trồng trọt và chọn lọc
giống, hiện nay các giống ổi cũng rất phong phú, đa dạng. Ngoài giống ổi
nhập nội, còn có những giống ổi đặc biệt của địa phương như: ổi bo ở Thái
Bình, ổi Đông Dư ở Hà Nội, ổi Đào ở Hải Dương…Trong những năm gần
đây, cây ổi được trồng tập trung ở khắp các tỉnh trên cả nước do hiệu quả kinh
tế của chúng mang lại rất lớn cho người trồng ổi.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

2.2. Đặc điểm hình thái và phân loại
2.2.1. Đặc điểm hình thái
Ổi là cây ăn quả phổ biến, được trồng hầu như khắp các địa phương, cả
vùng đồng bằng lẫn ở miền núi, trừ vùng núi cao trên 1500m. Một số đặc điểm
hình thái của các giống ổi trồng trọt phổ biến được mô tả tóm tắt dưới đây:
+ Thân: thân ổi phân cành nhiều, cao 4-6 m, cao nhất 10 m, đường kính
thân tối đa 30 cm. Những giống mới có tán nhỏ và thấp hơn những giống địa
phương. Thân cây chắc, khỏe, ngắn vì phân cành sớm. Theo Đỗ Huy Bích
(2008) ổi có thân cao khoảng 3 - 4 m, được bao bọc bởi một lớp vỏ mỏng, trơn
nhẵn, khi già bong ra thành từng mảnh. Cành non có tiết diện hình vuông, có
lông mềm, khi già hình trụ, nhẵn.
+ Lá: lá ổi thuộc dạng lá đơn, mọc đối, không có lá kèm. Phiến lá hình
bầu dục, đuôi lá thuôn tròn, đầu có lông gai hoặc lõm, dài khoảng 11-16 cm,
rộng 5-7 m tùy từng giống, mặt trên màu xanh đậm hơn mặt dưới. Bìa phiến

trong khối thịt quả màu trắng, hồng, đỏ vàng. Từ khi thụ phấn đến khi quả
chín khoảng 100 ngày.
Chất lượng ổi được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu sau: Ít hạt, hạt
mềm, nhỏ, ở những giống dại tỷ, lệ hạt bằng 10 - 15% khối lượng quả, còn
ở những giống tốt, được chọn lọc, tỷ lệ này chỉ chiếm 2 - 4% thậm chí có
giống gần như không hạt, cùi dày, quả to, khi chín có mùi thơm hấp dẫn
(Đỗ Huy Bích, 2008).
2.2.2. Phân loại
Cây ổi (Psidium guajava L.) giới (regnum): Plantae; bộ (ordo): Myrtales;
thuộc họ Myrtaceae; chi (genus): Psidium; loài (species): P. guajava
Theo hệ thống APG II (Angiosperm Phylogeny Group II) (2003) bộ
sim hay bộ đào kim nương (Myrtales) chứa 11 họ với 380 chi và trên 11.000 loài.
Hệ thống APG III công bố tháng 10 năm 2009 công nhận bộ này có 11 họ.
Họ Sim (Myrtaceae) có khoảng 3.000 loài, phân bổ trong 130-150 chi.
Chúng phân bổ rộng khắp ở vùng nhiệt đới và ôn đới ấm áp trên thế giới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

Chi ổi (Psidium) có nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ với khoảng 100 loài
cây bụi. Trong đó có nhiều loài cây có quả ăn được và có giá trị kinh tế lớn.
Cây ổi (Psidium guajava) còn gọi là cây ổi thường (Common guava)
hay cây ổi táo (Apple guava) là loài cây có chất lượng quả ngon nhất trong chi
ổi, có nguồn gốc ở Trung Mỹ và vùng phụ cận (Mexico, vùng vịnh Caribbean,
Trung và Nam Mỹ).
Ổi (Psidium guajava) thuộc họ Myrtaceae với 75 chi và 3000 loài, cây
thân gỗ, phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Bắc và Nam bán cầu. Riêng ở
Philippine có tới 10 chi và 120 loài. Chi Psidium Linn gồm khoảng 100 - 150
loài có quê hương ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nước Mỹ. Loài có tên
guajava có nguồn gốc từ từ “guayaba” tiếng Tây Ban Nha được trồng ở vùng
nhiệt đới nước Mỹ. Loài guava là loài quan trọng nhất trong họ Myrtaceae.

Số lượng nhiễm sắc thể của các loài và dòng Psidium
Loài hoặc dòng
Số lượng
NST (2n)
Loài hoặc dòng
Số lượng
NST (2n)

P.guajava 22 P. guineense 44
Beaumont 22 P. Friedrichsthalianum
Indonesian seedless 33 From El Salvador 44
Seedling No. 15 24 From Costa Rica 46
Seedling No. 27 25 P. cattleianum 77
P.polycarpum 22 P. c. F. Lucidum 66
P. cujavillus 44
Nguồn: Trích theo Indian Journal of Horticulture Sehgal O.P., Singh Ranjit
Trong họ phụ này, giống Psidium có khoảng từ 100 - 150 loài, dạng thân
bụi hoặc gỗ nhỏ Giống này có lá mọc đối hoặc gần đối, gân lá hình lông chim.
Hoa mọc đơn lẻ hoặc thành chùm 2 - 3 hoa, đôi khi chùm có tới 7 hoa mọc ra từ
nách lá. Có đặc điểm là cánh hoa, nhị hoa, bầu hoa đều nằm phía trên bầu, tức
là hoa dạng bầu hạ, đài hoa gắn bó với quả lâu nhất. Đài hoa có 4-5 cánh, khi
còn là nụ nó gắn liền với nhau, chỉ đến khi hoa nở thì đài hoa mới tách ra.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

Tràng hoa với 4 hoặc 5 cánh hoa, màu trắng, bầu nhuỵ luôn có 3-4 phòng, đôi
khi có 2 - 7 phòng và có rất nhiều noãn. Quả hình cầu hoặc hình quả lê với rất
nhiều hạt có vỏ cứng. Tác giả Kausel chia giống Psidium ra làm 2 chi, gồm:
- Chi thuộc phân giống Eupsidium ban đầu có đài hoa đóng gồm: P.
cuneatum, P. gujava, P.guineense, và P. kennedyanium.

Ổi thích nghi với khí hậu ẩm, nếu lượng mưa hàng năm 1500 - 4000 mm
phân bố tương đối đều thì không phải tưới. Bộ rễ của ổi thích nghi tốt với sự
thay đổi đột ngột của ẩm độ trong đất. Nếu trời hạn, mực nước ngầm thấp, ổi có
khả năng phát triển nhanh một số rễ thẳng đứng ăn sâu xuống đất tận 3 - 4 m và
có thể hơn. Nếu mưa nhiều, mực nước dâng cao, ổi đâm nhiều rễ ăn trở lại mặt
đất do đó không bị ngạt. Thậm chí ngập hẳn vài ngày ổi cũng không chết. Có
thể lợi dụng đặc điểm này chủ động điều khiển mạch nước ngầm bằng phương
pháp tưới tiêu để cho rễ ăn nông ở lớp đất mặt nhiều màu mỡ.
* Nhiệt độ
Ổi phát triển tốt nhất trong môi trường có nhiệt độ ấm, độ ẩm phong
phú, độ cao khoảng 1500 m so với mực nước biển, và không có sương giá
(Maggs, 1984). Nhiệt độ tối ưu là từ 23
o
C – 28
o
C, với nhiệt độ thấp hơn 23
o
C
và cao hơn 27
o
C trong thời kỳ ra hoa sẽ làm giảm đang kể khả năng đậu qủa.
Nhiệt độ cao thời gian phát triển của ngắn hơn, nhiệt độ thấp thời gian phát
triển của trái dài hơn. Nhiệt độ thấp trong mùa đông và khô hanh sẽ làm cho lá
rụng tự nhiên, và hoa sẽ bắt đầu ra ngay sau khi thời tiết ấm áp cùng với lượng
mưa thích hợp sẽ kích thích quả hình thành và phát triển.
Theo Trần Thế Tục (1999), cây ổi thích hợp ở nhiệt độ bình quân năm 25 -
27
0
C. Cây ổi không chịu được rét, so với cam ổi kém chịu rét hơn, nhưng với
đu đủ, chuối tiêu thì ổi hơn hẳn. Độ nhiệt - 2

cùi thấp nhưng lại thơm và có vị đậm hơn giống Đài Loan và Thái Lan nên
vẫn được thị trường chấp nhận.
2.4.2. Một số giống ổi ăn tươi phổ biến trên thế giới
Ổi là một trong những cây trồng quan trọng ở một số nước nhiệt đới và
cận nhiệt đới trên thế giới. Tùy vào mục đích sử dụng mà các nhà khoa học
trên thế giới đã định hướng nghiên cứu theo những hướng sau: chọn tạo giống
ổi phục vụ ăn tươi, chọn tạo giống ổi cho chế biến và chọn tạo giống ổi phục
vụ ăn tươi và vẫn có thể làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến.
Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, xã hội của từng nước mà đặc điểm của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

giống ổi ăn tươi của các nước này có sự giống và khác nhau về hình dạng và
chất lượng giống ổi ăn tươi.
- Giống ổi Brazil: có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới từ miền bắc Mexico
kéo dài theo dải đất xuống phía Nam Argentina, giống ổi này có tên khoa học
là Psidium guineense, cho quả quanh năm. Quả nhỏ, vỏ màu xanh sáng khi
chín chuyển sang màu vàng. Cùi dày màu vàng, có mùi thơm mạnh đặc trưng
của vùng nhiệt đới. Giống ổi này được trồng nhiều ở Brazil, ngoài ra giống ổi
này còn được trồng ngày càng nhiều ở một số khu vực của một số nước như:
Califonia của Mỹ, Trinidad, Jamaica và Cu Ba
- Ổi Pink Hong kong: Có nguồn gốc từ Hồng Kông, được trồng nhiều ở
đảo Oahu thuộc Hawaii, Quả ổi có kích thước vừa phải, hình tròn có trọng
lượng từ 170-230g. Thịt quả rất dày, có màu đỏ hồng, vị ngọt hơi chua, dịu,
rất ít hạt.
- Ổi Mexican Cream: Nguồn gốc từ Mexico, còn được gọi là ổi nhiệt
đới vàng. Giống ổi này thích hợp với những vùng khí hậu nhiệt đới như
Mexico và các nước Châu Mỹ. Giống có đặc điểm: quả tròn, nhỏ. Vỏ quả có
màu vàng sáng hoặc đỏ ánh hồng. Thịt quả dầy, có màu trắng kem, vị rất ngọt,
thịt quả mịn, chất lượng rất tốt, rất ít hạt và hạt mềm nên rất thích hợp để ăn

Mỹ. Giống này có một số đặc điểm khác với những giống ổi khác: có hoa màu
tím đẹp như hoa Anh Đào, lá và trái đều có mầu hồng tím. Thích hợp trồng lấy
trái và trồng làm cây cảnh, trồng du lịch. Giống ổi này có thể thích hợp với
nhiều loại đất và khí hậu khác nhau. Tuy nhiên, khí hậu nóng và điều kiện đất
ẩm cây sinh trưởng phát triển tốt hơn. Thời gian từ trồng đến thu hoạch của
giống ổi này ngắn hơn so với các giống ổi khác: 8 tháng sau trồng cây có thể
ra hoa, kết trái. Quả có đặc điểm: vỏ quả và ruột quả đều có màu tím hồng,
quả hình thuôn dài, trọng lượng quả từ 200 -350 gr, ít hạt. Hàm lượng Vitamin
A, B, canxi, sắt, polasium, chất kháng khuẩn gấp 1,5 lần so với ổi thường và
gấp 1,25 lần so với ổi xanh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

Ổi tím Malaysia là giống ổi có tính chất làm se, sát trùng. Ổi tím rất
giàu vitamin A,B,C tác động như những chất ô xy hóa nên có thể tránh có thể
chống lại các dấu hiệu lão hóa, chất Tanin được tìm thấy ở lá ổi sử dụng trong
chất làm se da. Các bộ phận của cây ổi như vỏ, rễ, thân, lá non, búp, quả đều
được dùng làm thuốc. Dịch chiết từ các bộ phận của cây ổi có tác dụng kháng
khuẩn. Sản lượng thu hoạch bình quân từ giống ổi này cũng cao hơn so với
sản lượng Ổi Đông Dư - Gia Lâm - Hà Nội.
Hình thức nhân giống chủ yếu bằng phương pháp ghép, chiết cành, ngoài
ra còn có thể được nhân giống bằng hạt.
2.4.3. Một số giống ổi ăn tươi ở Việt Nam
a) Các giống ổi địa phương
Việt Nam là nước có đặc điểm nhiệt đới gió mùa nên rất thuận lợi để
cây ổi sinh trưởng, phát triển. Chính vì vậy, các giống ổi của nước ta khá đa
dạng và phong phú, bao gồm các giống bản địa và các giống được nhập nội.
Một số giống ổi bản địa của nước ta được trồng từ khá lâu, nhưng đến ngày
nay vẫn có giá trị kinh tế cao khi chúng được quan tâm phát triển thành vùng
sản xuất hàng hóa lớn như: ổi Bo Thái Bình, ổi Đông Dư Hà Nội

nghệ Thái Bình phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái
Bình thực hiện đề tài “Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen ổi Bo Thái Bình” để giải
quyết thực trạng trên.
Ổi Đông Dư là một trong những cây ăn quả đặc sản của huyện Gia
Lâm, Hà Nội. Giống có đặc điểm: cây sinh trưởng khỏe, cho trái quanh năm.
Quả nhỏ tròn căng, khắp thân quả nổi lên những đường gân chạy dọc từ cuống
đến rốn quả; khi chín có màu vàng sang phớt xanh, chín ương thịt quả giòn,
khi chính kỹ, thịt quả mềm, có vị ngọt đậm, thơm.
Ổi Đông Dư có thể trồng trên mọi loại đất, đất thích hợp để trồng ổi nói
chung và ổi Đông Dư nói riêng là đất phù sa được bồi đắp hàng năm. Thời vụ
trồng thích hợp nhất là vụ xuân hè, vào tháng 2-3 hàng năm, ổi sinh trưởng,
phát triển nhanh hơn các tháng khác trong năm. Nếu trồng bằng hạt, khoảng 4
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

năm sau ổi cho thu hoạch, trồng cây ghép rút ngắn được 1 năm, trồng cây
chiết chỉ 2 năm sau trồng cây bắt đầu cho thu hoạch.
Đặc điểm hạn chế của ổi Đông Dư khác với các giống ổi mới hiện nay,
thời gian bảo quản sau thu hoạch rất ngắn. Sau thu hoạch một ngày, chất
lượng ổi giảm rõ rệt, rất khó bảo quản để giữ nguyên chất lượng. Do đó, sau
khi thu hoạch cần được tiêu thu ngay hoặc đem chế biến tùy vào mục đích sử
dụng để đảm bảo chất lượng quả.
Khác với ổi Bo Thái Bình, ổi Đông Dư cho thu hoạch quanh năm, tuy
nhiên tháng 8 là vụ thu chính của ổi Đông Dư. Do đặc điểm di truyền của
giống, quả ổi Đông Dư nhỏ, tỷ lệ cùi ít, tuy nhiên và chính vụ quả năng suất cá
thể đạt cao nên không tiêu thụ hết. Những đặc điểm của giống rất phù hợp với
mục đích chế biến nước ổi.
Năm 2013, Viện Nghiên cứu Rau quả đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
sản xuất nước pure ổi từ quả ổi Đông Dư” để giải quyết đầu ra cho cây ổi vào
mùa chín vụ.

khối lượng quả. Hạt tương đối mềm; các chỉ tiêu về chất lượng quả không có
sự khác biệt nhiều so với đối chứng: độ brix đạt 9,85%; hàm lượng vitamin C
đạt 31,55 mg%. Khả năng chống chịu một số sâu, bệnh hại tương đối tốt.
So với các giống địa phương, giống OĐL1có năng suất cao hơn nên
hiện là giống đang được thị trường ưa chuộng. Giống này đã được Bộ Nông
nghiệp và PTNT công nhận là giống cho sản xuất thử vào năm 2012. Hiện
nay, giống được trồng phổ biến ở các tỉnh: Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh,
Bắc Giang, Hòa Bình.
Giống ổi trắng Số1 được Viện Cây lương thực Cây thực phẩm chọn lọc
từ mẫu giống ổi nhập nội từ Malaixia. Bằng phương pháp chọn lọc các thể
qua nhân vô tính. Giống ổi này đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận
là giống tiến bộ kỹ thuật năm 2000.
Giống ổi Trắng số 1 có khả năng sinh trưởng mạnh, khả năng thích ứng
rộng. Giống cho thu quả 2 - 4 vụ/năm, đạt 8 - 10 tấn/ha. Giống cho quả to:
trung bình đạt 317 g/quả, cá biệt có quả đạt 700 - 800g/quả, năng suất quả
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17

năm thứ 4 sau trồng cao hơn hẳn các giống địa phương hiện nay đang trồng
nhiều trong sản xuất. Phẩm chất qủa tốt: hàm lượng đường cao, chất lượng ăn
nếm ngọt, ruột mềm, ít hạt có mùi thơm đặc trưng.
Giống ổi Xá lị có nguồn gốc từ Thái Lan được Công ty trách nhiệm hữu
hạn Trang Nông Island nhập nội, khảo nghiệm và sản xuất giống với quy mô
lớn, giống này được trồng phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, hiện
nay giống đã được đưa ra trồng ở một số tỉnh miền Bắc như: Hải Dương,
Quảng Ninh, Hà Nội.
Giống ổi Xá lị có đặc điểm: cây mọc khoẻ, chiều cao trung bình, lá to,
tán thưa. Quả hình quả lê, kích thước lớn, thịt quả dày, ăn giòn khi chưa chín
hẳn, khi chín kỹ, thịt quả mềm. Ổi Xá lị có khả năng thích ứng với các vùng
sinh thái khác nhau. Khi cây đạt 3 năm tuổi năng suất đạt 60 - 80 tấn/ha. Ưu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status