điều tra hiện trạng sản xuất rượu truyền thống ở bến lức – long an và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm. - Pdf 70



ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KỸ THUẬT HÓA HỌC
ĐỒ ÁN MÔN HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT RƢỢU
TRUYỀN THỐNG Ở BẾN LỨC – LONG AN VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG SẢN PHẨM
SVTH : TRẦN TRUNG KIÊN
CBHD: PGS. TS NGUYỄN ĐỨC LƢỢNG

TpHCM, tháng 5 năm 2010

ii

LỜI CẢM ƠN

Với tất cả sự thành kính, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến:
 PGS. TS. Nguyễn Đức Lượng – Bộ môn Công Nghệ Sinh Học, Trường Đại
Học Bách Khoa TpHCM – đã gợi ý đề tài, hướng dẫn tận tình, động viên và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đồ án này.
 Các thầy cô trong bộ môn Công Nghệ Sinh Học đã truyền đạt cho tôi những
kiến thức quý báu có liên quan đến đề tài.
 Ông Trương Tấn Mãnh – chủ tịch Hội sản xuất rượu đế Gò Đen và một số hộ
dân sản xuất rượu tại khu vực Gò Đen, huyện Bến Lức, tỉnh Long An – đã tạo
điều kiện tốt cho tôi trong việc cung cấp thông tin có liên quan đến đề tài và
truyền đạt các kinh nghiệm quý báu về việc nấu rượu truyền thống nổi tiếng của
khu vực.
 Các bạn sinh viên lớp HC06BSH – Trường Đại Học Bách Khoa TpHCM – đã
cùng học tập, trao đổi kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm việc.

iii

MỤC LỤC

2.7 Một số quy trình sản xuất rượu truyền thống ở Việt Nam ................................... 30
2.7.1 Rượu làng Vân ............................................................................................... 31
2.7.2 Rượu cần ........................................................................................................ 33
2.7.3 Rượu Bầu Đá ................................................................................................. 35
2.7.4 Rượu Gò Đen ................................................................................................. 37
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ............................................. 39
3.1 Nghiên cứu về vi sinh vật trong bánh men .......................................................... 39
3.2 Nghiên cứu về nấm mốc, nấm men trong quá trình lên men rượu nếp than ........ 39
3.2.1 Giới thiệu ....................................................................................................... 39
3.2.2 Kết quả và thảo luận ...................................................................................... 42
3.3 Nghiên cứu tình hình tiêu thụ rượu ở một số nước trên thế giới và Việt Nam. ... 46
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ BÀN LUẬN ............................................ 51
4.1 Sơ lược về huyện Bến Lức – tỉnh Long An ......................................................... 51
4.2 Điều tra hiện trạng sản xuất rượu truyền thống ở Bến Lức – Long An ............... 52
4.2.1 Chủng loại ..................................................................................................... 52
4.2.2 Số lượng ......................................................................................................... 53
4.2.3 Tình hình sản xuất ......................................................................................... 53
4.2.4 Tình hình tiêu thụ ........................................................................................... 62
4.3 Đề xuất phương pháp nâng cao và ổn định chất lượng sản phẩm ....................... 64
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................. 66
5.1 Kết luận ................................................................................................................ 66
5.2 Kiến nghị .............................................................................................................. 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 67 v DANH MỤC BẢNG


Hình 2.2 Vỏ trấu hạt thóc ............................................................................................. 17
Hình 2.3 Mặt cắt ngang lớp aleuron của hạt thóc ........................................................ 18
Hình 2.4 Bánh men thuốc bắc ...................................................................................... 24
Hình 2.5 Sơ đồ khối quy trình sản xuất bánh men lá ................................................... 27
Hình 2.6 Sơ đồ khối quy trình sản xuất rượu Làng Vân .............................................. 32
Hình 2.7 Hình ảnh rượu cần của người Tây Nguyên ................................................... 33
Hình 2.8 Uống rượu cần .............................................................................................. 34
Hình 2.9 Sơ đồ khối quy trình sản xuất rượu cần ........................................................ 35
Hình 2.10 Sản phẩm rượu Bầu Đá ............................................................................... 36
Hình 2.11: Sơ đồ khối quy trình sản xuất rượu Bầu Đá .............................................. 37
Hình 2.12 Sản phẩm rượu Gò Đen .............................................................................. 38
Hình 3.1 Đồ thị sự chuyển hóa glucose, ethanol và khí sinh ra bởi S. cerevisiae No 2.1
ở 30
o
C ........................................................................................................................... 43
Hình 3.2 Đồ thị tỉ lệ sinh khí của 5 giống nấm men S.cerevisiae (No 2.1, 15.7, 20.4,
29.2) trong lên men fed-batch ...................................................................................... 44
Hình 3.3 Đồ thị hiệu suất tạo ethanol của 5 giống nấm men S.cerevisiae (No 2.1, 15.7,
20.4, 29.2) trong lên men fed-batch ............................................................................. 45
Hình 3.4 Đồ thị phát triển và suy vong của 5 giống nấm men S.cerevisiae (No 2.1,
15.7, 20.4, 29.2) theo nồng độ rượu khác nhau ............................................................ 45
Hình 4.1 Sơ đồ khối quy trình sản xuất rượu đế Gò Đen tại Bến Lức – Long An ....... 54
Hình 4.2 Cơm gạo nếp sau khi nấu chín ...................................................................... 55
Hình 4.3 Bánh men được trộn với cơm gạo nếp để nguội ........................................... 55 vii

Hình 4.4 Cơm gạo sau khi đã bổ sung thêm nước ....................................................... 56
Hình 4.5 Ảnh chụp hệ thống chưng cất rượu tại Gò Đen ............................................. 57

đầu tư ban đầu ít, khả năng thu hồi vốn nhanh, đem lại lợi nhuận cao, vì vậy nhiều
nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã và đang đầu tư phát triển
ngành sản xuất rượu [2].
Ở nước ta, nghề nấu rượu đã có từ lâu đời trong dân gian. Ở miền núi, đồng bào
dân tộc dùng gạo, ngô, sắn nấu chín rồi cho lên men, men này được lấy từ lá cây hoặc
cho lên men thuần khiết. Ở một số nơi khác, người ta nuôi cấy và phát triển nấm men,
nấm mốc trong thiên nhiên trên môi trường thích hợp (gạo và một số vị thuốc bắc) để
lên men rượu từ nguyên liệu tinh bột đã được nấu chín. Vì vậy nguồn nguyên liệu
trong sản xuất rượu đã góp phần tạo nên nét đặc trưng cho từng vùng, là một trong
những yếu tố tạo nên giá trị truyền thống và đặc sắc cho sản phẩm của vùng đó, chẳng
hạn như rượu Vân Hà – Đại Lâm thường gọi là rượu làng Vân (Hà Bắc), rượu cần Tây
Nguyên, rượu Bầu Đá (Bình Định), rượu nếp than (nếp cẩm), rượu Gò Đen ở Bến Lức
– Long An,... Tất cả đều làm theo kinh nghiệm “cha truyền con nối” [1, 2].
Việc nấu rượu truyền thống nếu thực hiện đúng thì rượu làm ra phải nói là uống
rất ngon, vị đậm và êm dịu, say mà không cảm thấy sốc hoặc đau đầu. Tuy nhiên, rượu
truyền thống chưa được hưởng lợi nhiều từ các nghiên cứu khoa học, thực trạng sản
xuất rượu truyền thống ở một số địa phương của nước ta hiện vẫn đang còn là một
điều bất cập, chất lượng sản phẩm chưa ổn định, chưa đạt tiêu chuẩn để xuất khẩu,
thương hiệu chưa được nhiều người biết đến,... Mặt khác, xu hướng trên thế giới là
tiến hành công nghiệp hóa các sản phẩm truyền thống và quảng cáo hình ảnh thương
Chương 1: Mở đầu
2

hiệu của mình đến khắp nơi, sản phẩm rượu Vodka của người Nga là một ví dụ điển
hình. Để thực hiện được điều này cần làm tốt về nhiều mặt – cả kinh tế lẫn kỹ thuật,
trong đó việc nâng cao và cải thiện chất lượng sản phẩm là điều không thể thiếu xót.
Vì vậy, với sự gợi ý đề tài của PGS. TS Nguyễn Đức Lượng, tôi đã thực hiện đồ án
“Điều tra hiện trạng sản xuất rượu truyền thống ở Bến Lức – Long An và đề xuất giải
pháp nâng cao chất lượng sản phẩm” nhằm góp phần giải quyết một số vướng mắc
nêu trên đối với sản phẩm rượu truyền thống này.

Sản xuất rượu bằng phương pháp lên men được áp dụng từ thời cổ xưa. Theo
phương pháp này, rượu được lên men từ các dịch đường nhờ các loài nấm men trong
điều kiện kỵ khí. Nguyên liệu dùng trong sản xuất rượu là các loại ngũ cốc, sắn, khoai
tây, rỉ đường, các loại nước quả và gỗ. Ngoài sản phẩm chính là cồn ethylic trong quá
trình lên men còn tạo thành khí CO
2
, glyxerin, một vài loại rượu bậc cao, aldehyte, các
acid hữu cơ và sinh khối nấm men tích tụ đồng thời với sự hình thành các sản phẩm.
Sản xuất rượu bằng phương pháp lên men bao gồm ba giai đoạn:
- Chế biến các nguyên liệu thành dịch đường có thể len men được bằng nấm men.
- Lên men đường thành rượu.
- Chưng cất và tinh chế cồn.
Các nguyên liệu lên men trừ các hợp chất đường, các nguyên liệu khác (các loại
chứa tinh bột và cellulose) cần phải qua quá trình đường hóa. Những chất chứa
cellulose như gỗ, mùn cưa, rơm rạ,... thường dùng acid chlohydric hoặc sunfuric để
đường hóa. Các chất có tinh bột thường đường hóa bằng hệ enzyme amylase của thóc
mầm hoặc của nấm mốc. Đường hóa các chất bột cũng có thể dùng acid, nhưng cần
phải có thiết bị chịu acid và tốn kém về kinh tế. Nấm mốc được dùng để đường hóa
thường dùng các giống Aspergillus hoặc gần đây có chiều hướng dùng các giống giả
nấm men Endomycopsis. Các giống này có khả năng sinh ra nhiều enzyme
glucoamylase – có tác dụng chuyển tinh bột thành glucose. Trong quá trình lên men
thường dùng các nấm men Saccharomyces cerevisiae.
Hiện nay sản xuất rượu chủ yếu dùng hai nguồn nguyên liệu là nguồn tinh bột gạo,
ngô, khoai, sắn và rỉ đường.
Lên men rượu từ các loại nguyên liệu chứa tinh bột về nguyên lý không khác với
nguồn nguyên liệu khác, còn về chế biến nguyên liệu cần phải qua đường hóa để biến
tinh bột thành đường. Các loài nấm men rượu không có enzyme đường hóa được tinh
bột, vì vậy nhất thiết phải qua khâu đường hóa. Hiện nay trên thế giới dùng nhiều
phương pháp đường hóa khác nhau và do đó sản xuất rượu từ các nguồn nguyên liệu
tinh bột được mang tên các phương pháp đường hóa [1, 2].

Amylomyces rouxii có khả năng đường hóa tinh bột và phương pháp này được
mang tên là Amylose. Phương pháp này dễ cơ khí hóa toàn bộ dây chuyền sản
xuất, kỹ thuật nuôi cấy mốc và lên men tương đối gọn, nhưng đồng thời cũng có
nhược điểm là yêu cầu vô trùng tuyệt đối, thời gian lên men dài khoảng 6 – 8
ngày, có khi tới 9 – 10 ngày [1].
2.1.5 Phương pháp myco – malt
Nấm mốc được nuôi cấy theo phương pháp bề mặt hoặc phương pháp chìm sinh
ra nhiều enzyme amylase dùng để đường hóa tinh bột. Amylase của nấm mốc là α
– amylase, glucoamylase và dextrinase. Sản phẩm đường hóa là hỗn hợp các
dextrin cuối, maltose, và glucose (trong dịch đường chủ yếu là glucose).
Dùng phương pháp này cho phép rút ngắn được chu trình sản xuất (chỉ bằng 1/3
– 1/2 thời gian của phương pháp amylose), thời gian đường hóa từ 1 – 3 giờ. Nhờ
Chương 2: Tổng quan tài liệu
5

khả năng đường hóa của nấm mốc cao nên có thể dùng nhiều nguồn nguyên liệu
tinh bột khác nhau để sản xuất rượu. Trong khi lên men rượu không đòi hỏi vô
trùng tuyệt đối mà vẫn có thể đạt được hiệu suất lên men cao. Trong giai đoạn sản
xuất nấm mốc đường hóa dùng phương pháp bề mặt nên khó cơ khí hóa, cần diện
tích mặt bằng rộng và đòi hỏi nhiều nhân công.
Phương pháp myco – malt tương đối thích hợp với nhiều quy mô sản xuất rượu
từ trung ương đến địa phương. Nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước tiên
tiến hiện nay áp dụng phổ biến phương pháp này. Ở nước ta áp dụng nấm mốc
trong sản xuất rượu từ năm 1959 tại nhà máy rượu Hà Nội.
Sản xuất rượu từ rỉ đường không cần phải qua khâu đường hóa, nhưng cần xử
lý để loại bỏ tạp chất và những vi sinh vật có sẵn trong rỉ đường. Để tăng cường
dinh dưỡng cho nấm men cần phải bổ sung vào môi trường rỉ đường các muối
phosphate và muối amoni sulphat hoặc dịch nấm men tự phân. Trong lên men
người ta thường bổ sung dịch chiết từ superphosphate hoặc acid phosphoric làm
nguồn phospho [1].

2C
6
H
12
O
6
 CH
3
CHOH-COOH + HOOC-CH
2
-CH
2
-COOH + CH
3
-COOH +
CH
3
-CH
2
-OH + CO
2

Quá trình tạo axit lactic mạnh hơn quá trình tạo axit axetic. Cả hai quá trình này
xảy ra với cường độ không mạnh vì giai đoạn đầu lượng đường chưa cao.
- Quá trình lên men acetone – butanol
Chương 2: Tổng quan tài liệu
6

12C
6

2
+ H
2
O
- Chuyển hóa tinh bột thành đường không xảy ra cơ chế kìm hãm ngược bởi glucose.
Do sự phát triển của nấm mốc và sự phát triển của nấm men Endomycopsis, tinh bột
chuyển thành đường. Các loài nấm mốc, nấm men này tạo ra rất nhiều amylase,
glucoamylase là các enzyme cảm ứng, chịu sự điều khiển cuối cùng là của glucose.
Tuy nhiên, glucose vừa được sinh ra sẽ được các loài nấm men như Endomycopsis,
Saccharomyces tích cực chuyển hóa đường thành cồn nên đường sinh ra bao nhiêu
chuyển hết thành cồn và phục vụ cho sinh sản, phát triển của chính vi sinh vật đó. Do
đó, khối lên men thường không xảy ra cơ chế kìm hãm ngược bởi glucose.
- Chuyển hóa đường thành cồn được thực hiện bởi: Saccharomyces sp, Mucor và
Rhizopus sp, Endomycopsis sp. Từ đường, acid hữu cơ cho ra sản phẩm phụ khác.
Saccharomyces sp đóng vai trò cơ bản.
Quá trình lên men rượu xảy ra theo phản ứng tổng quát sau:
C
6
H
12
O
6
 2C
2
H
5
OH + 2CO
2
+ 2ATP
Đầu tiên đường thẩm thấu vào trong tế bào nấm men, ở đó đường chuyển hóa qua

Phosphoglyceratkinaza
Acid – 3 – phosphoglyceric
Phosphoglycerat-mutaza
Acid – 2 – phosphoglyceric
Enoiaza
Acid phosphoenolpyruvic
Pyruvat kinaza
Acid – enol – pyruvic

Acid pyruvic
Pyruvate – decarboxylaza
Acetaldehyde
Alcohol dehydrogenase
Ethanol

Chương 2: Tổng quan tài liệu
8
CH
3
COCOOH CH
3
CHO + CO
2

CH
3
CH=O + NAD-H
pyruvat decarboxylase

(Acid pyruvic) (Acetaldehyde)
(Acetaldehyde) (Ethanol)
pyruvat decarboxylase

dehydrogenase

Chương 2: Tổng quan tài liệu
9

 Thời kỳ tĩnh
Khi acetaldehyde đã đạt được một lượng nào đó, chất tiếp nhận hydro lúc này là
acetaldehyde và acetaldehyde bị khử thành rượu etylic. Vậy trong sự lên men rượu
bình thường, glycerin chỉ là sản phẩm phụ mà thôi. Phương trình phản ứng tổng quát
của sự lên men rượu bình thường như sau:
C
6
H
12
O
6
+ 2H
3
PO
4
+ 2ADP 2CH
3

với glycerin là thành phần chính. Phản ứng tổng cộng của sự lên men rượu trong môi
trường kiềm như sau:
2C
6
H
12
O
6
+ H
2
O 2CO
2
+ CH
3
COOH + C
2
H
5
OH + C
3
H
8
O
3

 Sự lên men trong môi trƣờng có Bisulfit
Khi đưa bisulfate natri (hoặc hydrazine thế) sẽ kết hợp với acetaldehyde tạo thành
hợp chất khó tan. Nói cách khác khi đó enzyme alcoldehydrogenase thiếu mất chất tiếp
nhận hydro bình thường là acetaldehyde và chất tiếp nhận hydro bây giờ là
dihydroxyaceton phosphate.

nhưng sự phát triển của tế bào nấm men bị kìm hãm vì khi đó, nấm men có thể thu
năng lượng cần thiết để duy trì các hoạt động sống của mình chỉ bằng cách len men
đường glucose. Khi có không khí thì sự lên men yếu đi vì nấm men có thể thu năng
lượng cần thiết cho sự phát triển của chúng bằng con đường hô hấp hiếu khí nghĩa là
bằng cách oxy hóa sinh học glucose tạo thành CO
2
và H
2
O. Hiện tượng kìm hãm sự
lên men rượu dưới ảnh hưởng của oxy gọi là hiệu ứng Pasteur [3].
2.3 Một số yếu tố ảnh hƣởng đến sự lên men rƣợu
2.3.1 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng
Nấm men sinh trưởng và phát triển tốt thì môi trường dinh dưỡng phải đầy đủ
nguồn cacbon, nitơ và các chất khoáng khác.
 Nguồn cacbon
Nguồn dinh dưỡng cung cấp cho nấm men thường là các loại đường như mono,
di hoặc trisaccharide. Các loại đường đơn phân tử như glucose, fructose,… được
lên men trực tiếp, các loại đường disaccharide và trisaccharide chỉ được lên men
khi đã bị thủy phân bởi enzyme của nấm men, trong đó saccharose dễ bị thủy phân
nhất [4].
Chương 2: Tổng quan tài liệu
11

Môi trường thuận lợi cho lên men chứa khoảng 10 – 18% đường. Tuy nhiên,
một số loài nấm men có khả năng lên men rượu trong môi trường chứa từ 25 –
30% đường [5].
 Nguồn nitơ
Nấm men có thể sử dụng nitơ vô cơ dưới dạng muối amone như NH
4
Cl,

C. Tuy nhiên, nếu
bắt đầu lên men ở nhiệt độ thấp thì khả năng lên men sẽ cao và kéo dài hơn. Mặt
khác, nếu có điều kiện làm lạnh dịch đường tới 20 – 22
o
C sẽ hạn chế được phát
triển của tạp khuẩn. Sau 8 – 10 giờ nhiệt độ len men sẽ tăng đến 28 – 30
o
C, tiếp đó
cần làm lạnh để ổn định nhiệt độ trong giới hạn tối ưu. Ở nhiệt độ cao, hoạt tính
của nấm men sẽ giảm nhanh nhưng chủ yếu bị nhiễm vi khuẩn lactic và nấm men
hoang dại. Ở nhiệt độ 30
o
C, nấm men hoang dại phát triển nhanh hơn
Saccharomyces từ 2 đến 3 lần, còn ở nhiệt độ 35 – 38
o
C chúng phát triển nhanh
gấp 6 đến 8 lần. Mặt khác, khi lên men ở nhiệt độ cao sẽ tạo nhiều ester, aldehyde
và tổn thất rượu theo CO
2
sẽ tăng [13].
 Ảnh hưởng của pH
Chương 2: Tổng quan tài liệu
12

Nồng độ ion H
+
trong môi trường có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nấm
men. Chúng có thể thay đổi điện tích các chất của vỏ tế bào, làm tăng hoặc giảm
mức độ thẩm thấu các chất dinh dưỡng cũng như chiều hướng của quá trình lên
men. Mỗi vi sinh vật chỉ có thể hoạt động tốt trong trạng pH nhất định.

sẽ giảm đi đáng kể. Nếu nồng độ quá cao sẽ tạo áp suất thẩm thấu lớn gây phá hủy
trạng thái sinh lý bình thường của nấm men. Khi đó thời gian lên men sẽ kéo dài,
nấm men không sử dụng hết đường và lượng rượu tạo ra nhiều cũng gây ức chế
quá trình lên men. Ngược lại, môi trường có nồng độ quá thấp sẽ không thuận lợi
về mặt kinh tế (tốn chi phí hơn, dung tích thiết bị lớn hơn,… ). Tùy thuộc vào
chủng nấm men sử dụng và các chỉ tiêu hóa lý của sản phẩm lên men mà ta chọn
nồng độ chất hòa tan ban đầu cho phù hợp [13].
 Ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan
Chương 2: Tổng quan tài liệu
13

Lên men rượu là quá trình yếm khí, nhưng nấm men vẫn cần một lượng oxy
vừa đủ để tăng sinh khối. Do đó, oxy chỉ cần ở giai đoạn đầu của quá trình lên
men.
Nếu lượng oxy quá ít thì quá trình lên men bị hạn chế, tốc độ lên men bị chậm
lại, hương vị của sản phẩm không đạt. Ngược lại, hàm lượng oxy quá nhiều thì tế
bào sẽ tăng sinh và nảy chồi nhiều hơn, hàm lượng các sản phẩm phụ cũng gia
tăng nhiều hơn [13].
2.4 Các sản phẩm phụ của quá trình lên men
Ngoài hai sản phẩm chính là ethanol và CO
2
thì quá trình lên men còn sinh ra
nhiều sản phẩm khác. Có thể chia thành 4 nhóm chính như sau: acid, ester, aldehyde
và rượu [6].
2.4.1 Sự tạo thành acid
Trong quá trình lên men rượu luôn có sự tạo ra các acid hữu cơ bao gồm các
acid như lactic, acetic, citric, pyruvic và succinic, nhưng nhiều hơn cả là acid
acetic và acid lactic.
Acid acetic được tạo thành từ giữa hai phân tử acetaldehyde, phương trình phản
ứng như sau: 2CH

2.4.2 Sự tạo thành rượu cao phân tử
Trong quá trình lên men rượu thì ngoài rượu ethylic còn có các rượu có số
Cacbon lớn hơn 2 (gọi là rượu cao phân tử). Các rượu này tuy ít nhưng nếu lẫn vào
các sản phẩm sẽ gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng sản phẩm. Đó là các rượu
propylic, isobutylic, isoamylic, amylic,… Hàm lượng của chúng chỉ khoảng 0,4 –
0,5% so với rượu ethylic nhưng gây cho sản phẩm có mùi hôi khó chịu. Các rượu
này có tên chung là dầu fusel và vì có mùi hôi khó chịu nên còn gọi là dầu khét.
Nguyên nhân tạo dầu fusel do nấm men sử dụng nitơ của các acid amine.
Dầu fusel là hỗn hợp của nhiều rượu khác nhau nhưng chủ yếu là isoamylic và
isobutylic. Nếu tăng hay giảm nhiệt độ lên men so với bình thường thì hàm lượng
dầu fusel sẽ giảm đi. Trong giới hạn pH 3 – 5 lượng rượu cao phân tử được tạo ra
nhiều, nhưng nếu tiếp tục tăng pH thì hàm lượng này sẽ giảm. Sục khí vào môi
trường cũng như bổ sung acid amine vào môi trường chứa saccharose cũng làm
tăng lượng rượu cao phân tử. Khảo sát cho thấy hàm lượng cao phân tử tăng cùng
Chương 2: Tổng quan tài liệu
14

với sự tăng sinh khối của nấm men. Vì vậy, bằng cách hạn chế sinh trưởng của
nấm men chúng ta có thể hạn chế sự tăng hàm lượng dầu fusel.
2.4.3 Sự tạo thành ester
Song song với sự tạo thành acid và rượu, dưới tác dụng của enzyme esterase
của nấm men, các acid và rượu tác dụng với nhau để tạo thành ester tương ứng.
Phương trình viết dưới dạng tổng quát như sau:
R
1
CH
2
OH + R
2
COOH  R

và H
2
O
giảm hiệu suất quá trình lên men. Propionibacterium, phát triển ở pH = 4,5-5, kỵ khí
tùy tiện, nhiệt độ 30-35
o
C,nhiễm vào sẽ phân hủy đường, axit lactic, muối lactat tới
axit propionic, CO
2
và H
2
O.
Các vi khuẩn có lợi ở giai đoạn đầu nhưng sự phát triển dư thừa gây hỏng sản
phẩm lên men: vi khuẩn lactic và vi khuẩn acetic. Vi khuẩn lactic: Lactobacillus
plantarum, Lactobacillus brevis, Pediococcus pentosaceus, Weissella confusa, hoạt
động lên men lactic. Vi khuẩn acetic: Acetobacter orientalis, Acetobacter
Chương 2: Tổng quan tài liệu
15

pasteurianus, Acetobacter orleanens lên men acetic, có khả năng chuyển rượu thành
acid acetic khi có mặt O
2
[16].
2.6 Nguyên liệu trong sản xuất rƣợu truyền thống
Đối với sản xuất rượu thì thành phần quan trọng nhất là glucid lên men được, gồm
tinh bột và một số đường. Glucid trong tự nhiên được chia làm ba nhóm chính là
monosaccharide, oligosaccharide và polysaccharide. Monosaccharide là những glucid
đơn giản không thể thủy phân được, trong đó lại chia ra: monosaccharide trioza,
tetroza, pentoza, hexoza và heptoza. Người ta còn căn cứ vào glucid chứa nhóm –CHO
gọi là aldoza hay nhóm -CO- gọi là xetoza.

melibioza xem như tổn thất. Vì trong hệ zymaza của đa số nấm men không chứa
enzyme melibiose, còn gọi là enzyme α-galactosidase. Trên cơ sở đó, người ta nói
đường rafibonoza chỉ len men được một phần ba, đường này có chứa trong mật rỉ.
Polysaccharide là những glucid chứa từ mười gốc mono trở lên và được gọi là
glucid có phân tử lớn. Polysaccharide lại được phân chia thành hai loại gồm:
gomopolysaccharide cấu tạo từ nhiều gốc của một loại mono. Ví dụ tinh bột, glucogen
hay cellulose chỉ cấu tạo từ nhiều gốc glucose – còn gọi là hexozan. Polysaccharide
chỉ cấu tạo từ các gốc đường 5C cùng loại cũng thuộc gomopolysaccharide còn gọi là
pentozan. Ghete polysaccharide được cấu tạo từ hai hoặc nhiều loại mono khác nhau.
Ví dụ hemicellulose – trong thành phần của glucid này có đường 6C lẫn đường 5C.
Nguyên liệu trong sản xuất rượu truyền thống theo phương pháp thủ công ở nước ta
chủ yếu là gạo tẻ, gạo nếp, gạo nếp than, ngô, sắn, ít khi dùng khoai tây, khoai lang
vào sản xuất rượu. Trong các nguyên liệu kể trên, gạo nếp (nếp cái hoa vàng, nàng
hương, nếp than) là loại nguyên liệu cho sản phẩm rượu ngon nhất [1, 2].

Chương 2: Tổng quan tài liệu
16

2.6.1 Gạo, gạo nếp
2.6.1.1 Cấu tạo hạt thóc [7, 8]
Thóc thuộc loại hạt ngũ cốc. Cấu tạo gồm vỏ, aleuron, nội nhũ và phôi.
Bảng 2.1 Tỷ lệ thành phần cấu tạo của lúa nếp, ngô và lúa mì [7]
Loại hạt Vỏ và aleurone (%) Phôi (%) Nội nhũ (%)
Lúa nếp 16,0 – 27,0 2,0 – 2,5 72
Ngô 5,0 – 8,5 10,0 – 15,0 79 – 83
Lúa mì 15,0 – 19,0 2,2 – 3,2 77 – 82 Hình 2.1 Hình cắt dọc một hạt thóc [7]
Lớp vỏ là bộ phận bảo vệ cho phôi và nội nhũ khỏi bị tác động cơ học từ bên

còn sót lại nhiều trong gạo, trong quá trình bảo quản dễ bị oxy hóa làm cho gạo
bị chua (độ acid cao) và ôi khét (do lipid bị oxy hóa).

Trích đoạn Bánh men thuốc bắc Rượu làng Vân Rượu Bầu Đá Rượu Gò Đen Nghiên cứu về vi sinh vật trong bánh men
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status