ảnh hưởng của nồng độ benzyladenine đến sự phát triển và năng suất cây mè vàng ô môn (sesamum indicum l.) - Pdf 30



TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

HUỲNH MỸ TIÊN
ẢNH HƢỞNG CỦA NỒNG ĐỘ BENZYLADENINE
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY MÈ
VÀNG Ô MÔN (Sesamum indicum L.)

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC



TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Cần Thơ, 2014

i
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG Luận văn tốt nghiệp kỹ sƣ ngành Nông Học

ĐỀ TÀI
ẢNH HƢỞNG CỦA NỒNG ĐỘ BENZYLADENINE
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY MÈ
VÀNG Ô MÔN (Sesamum indicum L.)

Sinh viên thực hiện: Huỳnh Mỹ Tiên
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét.



Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2014
Thành viên Hội đồng
Thành viên 1 Thành viên 2 Thành viên 3

DUYỆT KHOA
Trƣởng Khoa Nông Nghiệp & SHƢD iii
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả đƣợc trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chƣa từng đƣợc ai
công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trƣớc đây.

Tác giả luận văn
Huỳnh Mỹ Tiên

Ứng Dụng đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt khóa học.
Xin chân thành cảm ơn
- Các bạn Bùi Nguyễn Minh Hƣơng, Hồ Thị Ngọc Huệ, Lê Văn Tân đã giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Thân gửi về
- Các bạn lớp Nông Học liên thông khóa 38 những lời chúc sức khỏe và thành
đạt trong tƣơng lai Huỳnh Mỹ Tiên
v
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

Huỳnh Mỹ Tiên vi
HUỲNH MỸ TIÊN, 2014. “Ảnh hƣởng của nồng độ benzyladenine đến sự phát
triển và năng suất của cây mè vàng Ô Môn (Sesamum indicum L.)”. Luận văn
tốt nghiệp đại học, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trƣờng Đại học Cần
Thơ. Cán bộ hƣớng dẫn: TS. Lê Vĩnh thúc và Ths. Mai Vũ Duy.
_______________________________________________________________

TÓM LƢỢC
Đề tài “Ảnh hƣởng của nồng độ benzyladenine đến sự phát triển và năng
suất của cây mè vàng Ô Môn (Sesamum indicum L.)” đƣợc thực hiện nhằm mục
tiêu xác định nồng độ BA thích hợp để làm tăng năng suất mè trong sản xuất ở vùng
nghiên cứu. Thí nghiệm đƣợc tiến hành từ tháng 08/2013 đến tháng 11/2013 tại nhà
lƣới Bộ môn Khoa học cây trồng, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng,
Trƣờng Đại học Cần Thơ. Thí nghiệm đƣợc bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu
nhiên bao gồm các nghiệm thức: Phun benzyladenine (BA) ở nồng độ 0 (đối
chứng), 50, 100, 150 và 200 ppm với năm lần lặp lại. Kết quả thí nghiệm cho thấy
việc phun BA có xu hƣớng giảm sự gia tăng chiều cao cây và tăng số nhánh. Phun
BA không ảnh hƣởng đến trọng lƣợng cây, phần trăm nƣớc trong cây và kích thƣớc
trái. BA. Tuy nhiên, số lá, kích thƣớc lá, tổng số bông, trọng lƣợng trái, trọng lƣợng
vỏ, trọng lƣợng hạt và trọng lƣợng 1000 hạt cũng có xu hƣớng giảm khi nồng độ
BA tăng dần. .

1.1.4.4 Hoa 10
1.1.4.5 Trái 11
1.1.4.6 Hạt 11
1.1.5 Sự sinh trƣởng và phát triển của cây mè 12
1.1.6 Giống mè 12
1.1.6.1 Mè đen 12
1.1.6.2 Mè trắng 12
1.1.6.3 Mè vàng 12
1.1.7 Yêu cầu sinh thái của cây mè 12
1.1.7.1 Khí hậu 12
1.1.7.2 Vĩ độ và cao độ 14
1.1.7.3 Đất đai 15
1.1.8 Sử dụng phân bón và cách bón phân cho cây mè 15
1.1.8.1 Phân bón 15
1.1.8.2 Bón phân 16
1.1.8.3 Cách bón phân 16
1.1.9 Sâu bệnh hại thƣờng gặp trên cây mè 17
1.1.9.1 Sâu thường gặp 17
1.1.9.2 Bệnh thường gặp 18

viii
1.2 CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƢỞNG 19
1.2.1 Cytokynin 19
1.2.1.1 Vị trí sinh tổng hợp 19
1.2.1.2 Con đường vận chuyển trong thân 19
1.2.1.3 Vai trò sinh lý 19

CHƢƠNG 2: PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 24
2.1 PHƢƠNG TIỆN 24
2.1.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm 24

3.1.2.2 Kích thước trái 33
3.1.2.3 Số trái trên cây 34
3.1.2.4 Trọng lượng trung bình 1 trái trên cây (trung bình 3 trái giữa cây) 35
3.1.2.5 Trọng lượng trái trên cây 35
3.1.2.6 Trọng lượng vỏ khô trên cây 36
3.1.2.7 Trọng lượng hạt trên cây 37
3.1.2.8 Trọng lượng 1000 hạt trên cây 37

ix
CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
4.1 KẾT LUẬN 39
4.2 ĐỀ NGHỊ 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ CHƢƠNG


Chất điều hòa sinh trƣởng, nồng độ và thời điểm xử lý
26
3.1
Kích thƣớc lá cây mè sau 15 ngày xử lý BA
30
3.2
Số lá cây mè sau 15 ngày xử lý BA
30
3.3
Số nhánh cây mè sau khi xử lý BA với các nồng độ khác nhau
tại thời điểm thu hoạch
31
3.4
Trọng lƣợng cây tƣơi sau khi xử lý BA với các nồng độ khác
nhau tại thời điểm thu hoạch
32
3.5
Phần trăm nƣớc mất đi trong cây mè sau khi xử lý BA với các
nồng độ khác nhau tại thời điểm thu hoạch
32
3.6
Kích thƣớc trái mè sau khi xử lý BA với các nồng độ khác
nhau tại thời điểm thu hoạch
34
3.7
Số trái trên cây mè sau khi xử lý BA với các nồng độ khác
nhau tại thời điểm thu hoạch
34
3.8
Trọng lƣợng trung bình 1 trái trên cây của mè sau khi xử lý

Sự gia tăng chiều cao của cây mè sau khi xử lý BA ở thời
điểm thu hoạch
29
3.2
Tổng số bông trên cây của mè 7 ngày sau khi xử lý BA
33
3.3
Trọng lƣợng trái trên cây của mè sau khi xử lý BA tại thời
điểm thu hoạch
36
3.4
Trọng lƣợng hạt trên cây của mè sau khi xử lý BA sau khi
sấy khô
37

1
2
CHƢƠNG I
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÂY MÈ
Mè là một cây trồng lấy hạt có dầu quan trọng của thế giới và dầu của nó chứa
chất chống oxy hóa cao, cholesterol thấp và tỷ lệ chất béo không bão hòa cao
(Ashri, 1993) (Hình 1.1). Tầm quan trọng của hạt mè không chỉ ở hàm lƣợng dầu
mà còn có các thành phần khác nhƣ protein, canxi, sắt và methionine (Gupta et al.,
1998).

Hình 1.1 Cây mè (Sasemum indicum L.)
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố của cây mè
Cây mè (vừng) có tên khoa học là Sesamum indicum L., thuộc bộ Tubiflorae,
họ Pedaliaceae có 16 chi và khoảng 60 loài, trong đó có một vài loài có thể đƣợc lai
với Sasemum indicum và cũng đƣợc gieo trồng để lấy hạt (Tạ Quốc Tuấn và Trần
Văn Lợt, 2006).
Cây mè có nguồn gốc Châu Phi, sau đó nó sớm đƣợc phát triển ở vùng phía
Tây Châu Á, đến Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản và chính những nơi này đã trở
thành nơi phân bố thứ hai của cây mè. Cây mè đƣợc coi là cây trồng lấy dầu cổ xƣa

2.385
0,39
Châu Á
3.375
1.480
0,44
Ấn Độ
1.673
555
0,33
Trung Quốc
676
550
0,81
Myanmar
705
210
0,30
Thổ Nhĩ Kỳ
60
26
0,43
Bangladesh
80
49
0,62
Hàn Quốc
49
24
0,49

50
0,76
Tanzania
106
42
0,40
Ai Cập
27
32
1,18
Châu Mỹ
106
64
0,60
Venezuela
44
28
0,65
Mexico
62
36
0,58
Khu vực khác
593
322
0,54
4

sản xuất mè ở Trung Quốc không những đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu dùng trong
nƣớc mà còn xuất khẩu hơn 100 ngàn tấn mỗi năm và cây mè đã trở thành một
trong những cây trồng có giá trị xuất khẩu ở Trung Quốc.
Thái Lan cũng là một trong những nƣớc sản xuất mè ở khu vực Đông Nam Á.
Diện tích trồng mè ở Thái Lan không nhiều, biến động từ 26-62 ngàn tấn với sản
lƣợng hàng năm 27-32 ngàn tấn, trong đó 45% sản lƣợng đƣợc sử dụng trong nƣớc
và hơn 50% đƣợc xuất khẩu.
5
1.1.2.2 Tình hình sản xuất mè ở Việt Nam
Theo Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt (2006), diện tích trồng mè ở Việt Nam
hàng năm biến động từ 30.000 đến hơn 40.000 ha trong suốt hai thập niên qua, con
số này rất khiêm tốn so với một số cây lấy dầu ngắn ngày khác nhƣ đậu phộng, đậu
nành.
Về diện tích: Năm 2004, cả nƣớc gieo trồng đƣợc 40.800 ha, tăng 4.000 ha so
với năm 2000. Diện tích tăng chủ yếu ở vùng Đồng Bằng sông Cửu Long (5.800 ha)
và Duyên hải Nam Trung Bộ (DHNTB) (1.100 ha), nhƣng diện tích lại giảm mạnh
ở khu vực Tây Nguyên (3.000 ha), các vùng khác sự thay đổi về diện tích không
nhiều (Bảng 1.2).
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lƣợng mè trên các vùng sinh thái nông nghiệp nƣớc ta 5
năm qua (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Vùng sinh thái
Năm 2000
Năm 2004
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lƣợng
(tấn)

700
0,86
600
700
0,29
200
Tây Bắc
400
0,75
300
600
0,17
100
Bắc Trung Bộ
13700
0,47
6500
13500
0,48
6500
Miền Nam
21600
0,42
9000
25600
0,54
13500
DHNTB
7900
0,43

Nam Bộ (7.400) và Đồng bằng sông Cửu Long (6.900 ha) với tổng diện tích là
36.800 ha.
6
Về năng suất: Nhìn chung, năng suất trung bình của cả nƣớc ở mức thấp, đạt
0,51 tấn/ha (2004), tăng không đáng kể so với năm 2000 (0,46 tấn/ha). Những vùng
có năng suất mè cao là Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) 0,75 tấn/ha và Đồng bằng
sông Cửu Long 0,9 tấn/ha, các vùng khác năng suất trung bình chỉ đạt dƣới 0,5
tấn/ha.
Về sản lƣợng: Tổng sản lƣợng mè năm 2004 của cả nƣớc đạt gần 21.000 tấn,
tăng 2.300 tấn so với năm 2000. Trong đó, các tỉnh miền Bắc đạt 7.100 tấn (chiếm
33,97%), các tỉnh miền Nam đạt 13.800 tấn (chiếm 66,03%). Những vùng có sản
lƣợng mè cao vẫn là những vùng có diện tích trồng mè nhiều nhƣ Bắc trung Bộ
(3.600 tấn), Đông Nam Bộ (3.000 tấn) và Đồng bằng sông Cửu Long (6.200 tấn)
với tổng sản lƣợng đạt 19.300 tấn, chiếm, chiếm 92,34% sản lƣợng mè cả nƣớc.
Thực tế sản xuất mè ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thời gian qua cho
thấy là vùng có tốc độ phát triển sản xuất mè nhanh nhất cả nƣớc. Diện tích mè năm
2004 đạt 6.900 ha, tăng 5.800 ha, năng suất trung bình đạt 0,90 tấn/ha, tăng 0,26
tấn/ha và sản lƣợng đạt gần 6.200 tấn, tăng 5.500 tấn so với năm 2000.
Diện tích trồng mè các tỉnh ĐBSCL chỉ chiếm khoảng 16,9% diện tích gieo
trồng cả nƣớc, nhƣng do năng suất trung bình cao, gấp hai lần so với năng suất
trung bình cả nƣớc nên tổng sản lƣợng đạt 6.200 tấn, chiếm gần 30% tổng sản
lƣợng mè cả nƣớc. Các tỉnh trồng nhiều mè ở Đồng bằng sông Cửu Long là Cần
Thơ (4.700 ha), Đồng Tháp (1.200 ha), An Giang (600 ha) và Long An (400 ha),
trong đó An Giang là tỉnh có năng suất trung bình cao nhất, đạt 1,33 tấn/ha và Long
An là tỉnh có năng suất trung bình thấp nhất, đạt 0,25 tấn/ha.
Thực tế cho thấy: sản xuất mè vùng ĐBSCL có nhiều tiềm năng lớn cho việc
nâng cao năng suất và sản lƣợng thông qua việc đầu tƣ nghiên cứu ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật trong sản xuất mè nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, đặc biệt là dầu
thực vật có chất lƣợng cao nhƣ dầu mè.
1.1.3 Giá trị sử dụng và giá trị dinh dƣỡng

peroxyd hóa chất béo, do đó dầu mè đƣợc xem là một trong những chất béo khá lý
tƣởng để làm thực phẩm cho cả ngƣời lớn, trẻ em, cho ngƣời béo phì hay thừa
cholesterol trong máu. Ngoài lipid, trong hạt mè còn chứa 16-20% protein và
protein của mè chứa đủ 8 axit amin không thay thế (Bảng 1.3). Ngoài ra, hạt mè còn
chứa nhiều vitamin A, B
1
, B
2
, PP và một số nguyên tố khoáng nhƣ canxi, phốt pho,
sắt, kẽm, đồng, molipden (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006).
Bảng 1.3 Thành phần các amino acid có trong mè trắng, mè đen, đậu phộng , đậu nành và
trứng gà (mg/g) (Phạm Văn Thiều, 2003)

Acid amin
Mè đen
Mè trắng
Đậu phộng
Đậu nành
Trứng gà
Arginine
12,5
11,8
11,3
7,3
6,8
Histidine
2,1
2,4
2,1
2,9

6,2
Valine
3,5
3,6
4,4
5,3
7,0
Threonine
3,6
3,9
1,6
3,9
4,9

8
1.1.4 Đặc điểm sinh học
Cũng nhƣ nhiều loại cây trồng khác, cây mè cũng đƣợc biết đến từ rất lâu.
Hiện nay có tới hàng trăm dòng và giống mè trồng khác nhau về hình thái, kích
thƣớc, khả năng sinh trƣởng, màu sắc hoa, quả, hạt, kích thƣớc hạt,… Nhƣng nhìn
chung, các giống mè đều có những đặc điểm chung, đó là cây hàng năm có khả
năng phân cành, chiều cao cây biến động 0,5-2,0 m, có hệ thống rễ phát triển, nhiều
hoa, quả nang, chứ nhiều hạt nhỏ có chứa dầu, đôi khi cũng có những loại hình cây
lâu năm nhƣng ít đƣợc trồng phổ biến trong sản xuất.
Do tính đa dạng về loại hình và khả năng thích ứng đối với những điều kiện
môi trƣờng khác nhau nên rất thuận lợi cho việc cải tiến những loại hình đang tồn
tại ngoài sản xuất để tạo ra những giống mới. Tuy nhiên, việc mô tả các loại hình
cũng rất khó khăn nên hầu hết tài liệu chỉ đề cặp đến những giống mè lấy hạt có dầu
(Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006).
1.1.4.1 Rễ
Có hai dạng hình cơ bản đƣợc sử dụng để phân biệt hệ thống rễ, đó là dạng

dẹt, thân hình chữ nhật và thân có độ rộng bất thƣờng . Thân có thể nhẵn, có thể có
ít hoặc rất nhiều lông và đây cũng là những đặc trƣng thƣờng đƣợc sử dụng để phân
biệt các dòng khác nhau của giống. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy có mối tƣơng
quan chặt giữa mức độ bao phủ lông trên thân với khả năng chống chịu hạn của mè.
Kết quả này đã mở ra hƣớng nghiên cứu cho các nhà khoa học để chọn tạo các
giống mè có khả năng chịu hạn tốt hơn (Phạm Văn Thiều, 2003; Tạ Quốc Tuấn và
Trần Văn Lợt, 2006).
Màu sắc thân cũng thay đổi từ xanh nhạt, đến gần tía, nhƣng phổ biến nhất là
thân có màu xanh đậm. Chiều cao thân có thể biến động từ 60-120 cm, nhƣng cũng
có trƣờng hợp cao tới 300 cm, trong điều kiện hạn thì thân có thể thấp hơn. Khả
năng di truyền về chiều cao đã đƣợc nghiên cứu trong mối quan hệ với nhiều đặc
tính khác của cây, nhƣng có rất ít kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa chiều cao
cây với số đốt trên thân chính hoặc chiều dài của lông. Mối liên hệ giữa độ dài lóng
với độ cao đóng trái và vị trí phân cành đầu tiên có thể rất quan trọng, đặc biệt các
dòng và giống mè có độ dài lóng đầu tiên dài có thể có liên quan đến khả năng
chống chịu ngập. Phạm vi phân cành và kiểu phân cành cũng là một đặc tính quan
trọng của giống, nhất là vị trí độ cao mà ở đó cành đầu tiên xuất hiện. Bên cạnh đó,
khả năng phân cành của cây cũng bị ảnh hƣởng trực tiếp bởi điều kiện môi trƣờng
nhƣ lƣợng mƣa, độ dài ngày và những tác động của biện pháp kỹ thuật khác nhƣ
mật độ trồng, lƣợng phân bón, lƣợng nƣớc tƣới… (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt,
2006).
1.1.4.3 Lá
Lá mè thay đổi rất lớn về hình dạng và kích thƣớc ngay trên cùng một cây và
giữa các giống mè khác nhau. Nhìn chung, những lá ở vị trí thấp hơn thƣờng to và
rộng hơn, lá đôi có thùy, mép lá thƣờng có răng cƣa. Các lá ở vị trí giữa thân
thƣờng có hình lƣỡi mác (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006).
Tùy thuộc vào đặc điểm của giống mà các lá có thể mọc xen kẽ, hoặc ở phần
dƣới mọc đối, phần trên mọc xen kẽ. Sự sắp xếp lá trên thân rất quan trọng vì nó
ảnh hƣởng tới số hoa sinh ra ở các nách lá và do đó ảnh hƣởng trực tiếp tới năng
suất hạt trên cây. Các lá sắp xếp đối diện nhau rất thuận lợi cho việc ra nhiều hoa.

Ở điều kiện tự nhiên, hạt phấn hoa có thể tồn tại khoảng 24 giờ. Nhiệt độ thấp ở
thời điểm ra hoa có thể đƣa đến hiện tƣợng hạt phấn bị thoái hóa hoặc chín trƣớc
khi hoa rụng. Ngƣợc lại, vào thời điểm nhiệt độ cao 40
0
C hoặc cao hơn ở thời kỳ ra
hoa thì ảnh hƣởng rất lớn tới khả năng thụ tinh và do đó làm giảm số quả trên cây.
Khi trồng mè trong nhà kính thì nhiệt độ trung bình không đổi 24-27
0
C rất thích
hợp sự phân hóa hoa sớm, nhƣng nếu nhiệt độ ban đêm duy trì ở 33
0
C hoặc 15
0
C thì
sự phân hóa hoa bị chậm lại (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006).

11
1.1.4.5 Trái
Theo Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt (2006), trái mè thuộc dạng quả nang, có
chứa nhiều hạt bên trong, lát cắt có hình chữ nhật có những khía sâu, mỏ trái ngắn ở
phần đỉnh quả. Nhìn chung, mỗi dạng hình trái là một đặc tính của giống và có liên
quan rất chặt chẽ tới những điều kiện môi trƣờng và cũng có thể xuất hiện một vài
dạng hình trái ngay trên cùng một cây. Độ dài của trái có thể thay đổi từ 2,5-8,0 cm
với đƣờng kính trái từ 0,5-2,0 cm, và có vách ngăn trên trái thay đổi từ 4-12. Trên
bề mặt trái thƣờng có lông nhƣng mức độ lông cũng tùy thuộc vào giống. Trái khi
chín sẽ nứt dọc theo các vách ngăn từ đỉnh trái xuống đáy trái hoặc mở 2 lổ trên
phần đỉnh trái. Khả năng tách vỏ trái khi chín rất quan trọng trong việc chọn tạo
giống phù hợp cho việc cơ giới hóa khi thu hoạch. Chiều cao đóng trái đầu tiên
cũng là một đặc tính rất quan trọng của giống, những trái ở vị trí thấp hơn thƣờng
chín trƣớc và những trái gần phần ngọn sẽ chín sau cùng. Nhƣ vậy, khi cây mè bƣớc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status