đánh giá ảnh hưởng của độ mặn đến sự sinh trưởng của 3 giống đậu nành nhật 17a, mtđ 176, mtđ 7604 bằng phương pháp thủy canh - Pdf 30


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

HUỲNH VĂN HẢI

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG
CỦA 3 GIỐNG ĐẬU NÀNH NHẬT 17A, MTĐ 176, MTĐ 760-4
BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỦY CANH Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC
Giáo viên hướng dẫn:
Ths: Lê Hồng Giang
Cần Thơ, 2014
Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Văn Hải
MSSV: C1201037
Lớp: TT1219L1

i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài:
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG
CỦA 3 GIỐNG ĐẬU NÀNH NHẬT 17A, MTĐ 176, MTĐ 760-4 BẰNG
Do sinh viên Huỳnh Văn Hải thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Thành viên Hội đồng
DUYỆT KHOA
Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân và cán bộ hướng
dẫn. Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây. Tác giả luận văn Huỳnh Văn Hải


Trường: Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Cần Thơ
Địa chỉ: An Hòa, Ninh Kiều, Cần Thơ
3. Đại Học
Thời gian: 2012-2014
Trường: Đại học Cần Thơ
Địa chỉ: Xuân Khánh, Ninh Kiều, Cần Thơ
Ngày……. Tháng……. Năm 2014
Huỳnh Văn Hải v
CẢM TẠ

Trong thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại Học Cần Thơ, em đã
được quí thầy cô truyền đạt rất nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu. Đây sẽ là
hành trang vô cùng quan trọng giúp đỡ em trong quá trình làm việc và công tác về
sau.
Kính dâng
 Cha, mẹ đấng sinh thành đã cho con hình hài và hết lòng yêu thương,
dạy dỗ và nuôi nấng con khôn lớn, nên người.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc
 Thầy Nguyễn Phước Đằng, thầy Huỳnh Kỳ cố vấn học tập đã hết lòng
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.
 Ths Lê Hồng Giang người đã tận tình hướng dẫn tôi trong việc nghiên
cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này.
 Các em Nương, Nhi, Kiên, Tiếp, Thảo đã tận tình giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện thí nghiệm và hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn
Thầy PGS. TS Nguyễn Bảo Toàn và quí thầy cô đang công tác tại trại
nghiên cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp, khoa Nông Nghiệp & SHƯD, cùng các

Từ khóa: Glycine max (L.), thủy canh, độ mặn, NaCl.

vii
MỤC LỤC

Trang bìa
Chấp nhận luận án của Hội đồng ii
Lời cam đoan iii
Tiểu sử cá nhân iv
Lời cảm ơn v
Tóm tắt vi
Mục lục vii
Danh sách bảng ix
Danh sách hình xi
Danh mục từ viết tắt xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Nguồn gốc cây đậu nành 2
1.2 Giá trị cây đậu nành 2
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng, dược phẩm 2
1.2.2 Giá trị về mặt nông nghiệp 3
1.2.3 Giá trị về mặt công nghiệp 4
1.3 Tình hình sản xuất cây đậu nành 4
1.3.1 Trên thế giới (Faostat, 2012) 4
1.3.2 Ở Việt Nam 5
1.4 Đặc điểm thực vật cây đậu nành 7
1.4.1 Rễ 7
1.4.2 Thân 9
1.4.3 Lá 11
1.4.4 Hoa 12

3.2.2 Chiều cao cây 29
3.2.3 Số lóng 33
3.2.4 Số chồi bên 36

ix
3.2.5 Chiều dài rễ 39
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
4.1 Kết luận 44
4.2 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

x
DANH SÁCH BẢNG
Tựa Bảng Trang
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu nành của một số nước
trên thế giới (FAO, 2010) 5
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất đậu nành ở Việt Nam từ 2008 – 2014 6
Bảng 1.3 Nhập khẩu đậu nành của Việt Nam 2010 – 2012 7
Bảng 2.1 Thành phần của dung dịch Hoagland
sử dụng để trồng cây (Taiz và Zeige, 2003) 27
Bảng 2.2 Nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa tại Thành Phố Cần Thơ
tháng 9-12 năm 2013 28
Bảng 3.1 Sự thay đổi EC (dS/m) theo thời gian thí nghiệm 29
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của giống và nồng độ muối NaCl
trên chiều cao (cm) của cây đậu nành 7 ngày sau khi trồng 30
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của giống và nồng độ muối NaCl
trên chiều cao (cm) của cây đậu nành 14 ngày sau khi trồng 31
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của giống và nồng độ muối NaCl
trên chiều cao (cm) của cây đậu nành 21 ngày sau khi trồng 31
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của giống và nồng độ muối NaCl

trên chiều dài rễ (cm) của cây đậu nành 21 ngày sau khi trồng 42
Bảng 3.20 Ảnh hưởng của giống và nồng độ muối NaCl
trên chiều dài rễ (cm) của cây đậu nành 28 ngày sau khi trồng 43
Bảng 3.21 Ảnh hưởng của giống và nồng độ muối NaCl
trên chiều dài rễ (cm) của cây đậu nành 35 ngày sau khi trồng 43

xii
DANH SÁCH HÌNH
Tựa Hình Trang
Hình 2.1 Các dụng cụ dùng làm thí nghiệm 25
Hình 2.2 Thí nghiệm được bố trí trong nhà lưới tại Trại nghiên cứu
và thực nghiệm nông nghiệp 27
Hình 3.1 Tỉ lệ sống của cây đậu nành ở 14 ngày sau khi trồng 30
Hình3.2 Sự phát triển rễ ở giống MTĐ 176 ở 14 ngày sau khi trồng 42

xiii

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHCT: Đại học Cần Thơ
FAO: Food and Agricuture Organization
NN & PTNT: Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
NSKT: Ngày sau khi trồng
EC: nồng độ muối khoáng trong dung dịch

1
MỞ ĐẦU
Đậu nành [Glycine max (L.) Merrill] là cây công nghiệp ngắn ngày được trồng phổ
biến ở nhiều quốc gia trên thế giới bởi giá trị kinh tế và hàm lượng dinh dưỡng cao.
Theo Mai Quang Vinh (1996), với biên độ thích ứng nhiệt độ, bức xạ rộng hơn, ít

1.2 GIÁ TRỊ CÂY ĐẬU NÀNH
Cây đậu nành là cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao, sử dụng làm
thức ăn cho con người và gia súc, làm nguyên liệu chính cho các ngành công nghiệp
chế biến, cải tạo đất.
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng, dược phẩm
Hạt đậu nành có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trung bình khoảng
từ 35,5 - 40%. Trong khi đó hàm lượng protein trong gạo chỉ 6,2-12%; ngô: 9,8-
13,2% thịt bò: 21%; thịt gà: 20%; cá: 17-20% và trứng: 13-14,8%, lipid từ 15- 20%,
hydrat carbon từ 15-16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự
sống (Nguyễn Thị Hiền và Vũ Thị Thư, 2004). Hạt đậu nành là loại thực phẩm duy
nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protid và lipid. Protein của đậu
nành có phẩm chất tốt nhất trong số các protein có nguồn gốc thực vật. Hàm lượng
protein trong hạt đậu nành cao hơn cả hàm lượng protein có trong cá, thịt và cao
gấp 2 lần so với các loại đậu đỗ khác.
Hàm lượng acid amin có chứa lưu huỳnh như methionine và cystein của đậu nành
cao gần bằng hàm lượng các chất này có trong trứng gà. Hàm lượng casein, đặc biệt
lysin cao gần gấp rưỡi lần chất này có trong trứng. Vì thế mà khi nói về giá trị của
protein trong hạt đậu nành là nói đến hàm lượng protein cao và sự cân đối của các
loại acid amin cần thiết. Protein của đậu nành dễ tiêu hoá hơn thịt và không có các
thành phần tạo cholesterol. Ngày nay người ta mới biết thêm hạt đậu nành có chứa
lecithin, có tác dụng làm cho cơ thể trẻ lâu, tăng thêm trí nhớ, tái tạo các mô, làm
cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể.

3
Hạt đậu nành có chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nên được
coi là cây cung cấp dầu thực vật quan trọng. Lipid của đậu nành chứa một tỉ lệ cao
các acid béo chưa no (khoảng 60-70%) có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm như axit
linoleic chiếm 52-65%, oleic từ 25-36%, linolenolic khoảng 2-3% (Ngô Thế Dân và
cs, 1999). Dùng dầu đậu nành thay mỡ động vật có thể tránh được xơ mỡ động
mạch.

Cải tạo đất: Đậu nành là cây luân canh cải tạo đất tốt. 1 ha trồng đậu nành nếu sinh
trưởng phát triển tốt để lại trong đất từ 30-60 kg N (Phạm Gia Thiều, 2000). Trong
hệ thống luân canh, nếu bố trí cây đậu nành vào cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ có tác
dụng tốt đối với cây trồng sau, góp phần tăng năng suất cả hệ thống cây trồng mà
giảm chi phí cho việc bón N. Thân lá đậu nành dùng bón ruộng thay phân hữu cơ

4
rất tốt bởi hàm lượng N trong thân chiếm 0,05%, trong lá: 0,19% (Nguyễn Danh
Đông, 1982).
1.2.3 Giá trị về mặt công nghiệp
Đậu nành là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp khác nhau như: chế biến cao
su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, chất đốt lỏng, dầu bôi
trơn trong ngành hàng không, nhưng chủ yếu đậu nành được dùng để ép dầu. Hiện
nay trên thế giới đậu nành là cây đứng đầu về cung cấp nguyên liệu cho ép dầu, dầu
đậu nành chiếm 50% tổng lượng dầu thực vật. Đặc điểm của dầu đậu nành: khô
chậm, chỉ số iốt cao: 120-127 ; ngưng tụ ở nhiệt độ: -15 đến -18
o
C. Từ dầu này
người ta chế ra hàng trăm sản phẩm công nghiệp khác như: làm nến, xà phòng,
nylon
1.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY ĐẬU NÀNH
1.3.1 Trên thế giới
Diện tích sản lượng trồng đậu nành gia tăng nhanh chóng và tương đối ổn định đến
nay. Trong những năm 1938–1940, diện tích đậu nành trên thế giới đạt 12,4 triệu
ha, đến 2012 đạt 102,4 triệu ha tăng 825,81%. Năm 1938 tổng sản lượng đạt 12,3
triệu tấn, đến 2012 đạt 261,5 triệu tấn tăng 2126,02% (FAO, 2012).
Một số quốc gia có diện tích trồng đậu nành đứng đầu trên thế giới là Mỹ, Brazil,
Argentina, Ấn Độ, Trung Quốc… (Bảng1.1)
Ở Mỹ, năm 1909 cơ quan nông nghiệp Mỹ nhập 175 giống, cho đến năm 1925 thì
số giống nhập nội đã tăng lên 1.133 (Nguyễn Văn Bình, 1996). Sau khi được coi là

16.767
9.600
8.800
1.382
2,25
2,96
2,62
1,85
1,06
1,65
2,54
222.269
91.417
56.961
30.993
10.217
14.500
3.503
1.3.2 Ở Việt Nam
* Tình hình sản xuất
Đậu nành được trồng tại 25 trong số 63 tỉnh thành của cả nước, với khoảng 65% tại
các khu vực phía Bắc và 35% tại các khu vực phía Nam. Diện tích gieo trồng năm
cao nhất là 250 nghìn ha (2005) và có xu hướng giảm. Năm 2011 diện tích gieo
trồng là 181,5 nghìn ha, năng suất 15 tạ/ha, sản lượng 266,3 nghìn tấn (Tổng cục
thống kê, 2011). Năm 2012 diện tích trồng đậu nành đạt 122,3 nghìn ha, giảm 59
nghìn ha so với năm 2011, năng suất 15 tạ/ha, sản lượng 183 nghìn tấn, giảm 82
nghìn tấn so với năm 2011. Lượng sản xuất hiện nay chỉ đáp ứng khoảng 8% nhu
cầu.
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất đậu nành ở Việt Nam từ 2008-2014
2008 2009 2010 2011 2012 2013* 2014*

USD)
Lượng
(nghìn
tấn)
Giá trị
(triệu
USD)
Lượng
(nghìn
tấn)
Giá trị
(triệu
USD)
Tổng Cộng 227,6 106.5 1,025 549.9 1,289.9 777.3
Brazil
Hoa Kỳ
Canada
Argentia
Uruguay
Trung Quốc
Các nước khác
-
178,1
17.8
13.3
-
13.7
4.7
-
87.4

5.3
1.2
3.8
(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam (2012).
1.4 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CÂY ĐẬU NÀNH
1.4.1 Rễ
Rễ cây đậu nành khác với rễ cây hoà thảo là có rễ chính và rễ phụ. Rễ chính có thể
ăn sâu 30-50cm và có thể trên 1m. Trên rễ chính mọc ra nhiều rễ phụ, rễ phụ cấp 2,
cấp 3 tập trung nhiều ở tầng đất 7-8 cm rộng 30-40 cm
2
(Nguyễn Danh Đông,
1982). Trên rễ chính và rễ phụ có nhiều nốt sần. Bộ rễ phân bố nông sâu, rộng hẹp,
số lượng nốt sần ít hay nhiều phụ thuộc vào giống, đất đai, khí hậu và kỹ thuật
trồng.

7
Quá trình phát triển của bộ rễ có thể phân ra làm 2 thời kỳ:
Thời kỳ thứ nhất: Phát triển lớp rễ đầu tiên, thời kỳ này rễ cái và rễ phụ đầu tiên
phát triển mạnh kéo dài ra và sinh nhiều rễ con. Thời kỳ này thường kéo dài từ 30-
40 ngày sau mọc.
Thời kỳ thứ hai: Lớp rễ đầu tiên phát triển chậm dần, rễ con không nhú ra nữa thậm
chí có một số rễ con khô đi. Lúc này gốc thân gần cổ rễ các rễ phụ nhỏ kéo dài ra và
phát triển cho tới khi gần thu hoạch. Số lượng có thể 30-40 rễ phụ ăn ở phía gần mặt
đất. Lớp rễ này có nhiệm vụ cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho sự phát triển của
thân, lá và làm quả. Trong kỹ thuật trồng nên chú ý thời kỳ này, cần vun đất sao cho
lớp rễ này phát triển mạnh.
Một đặc điểm hết sức quan trọng cần lưu ý là trên bộ rễ của cây đậu nành có rất
nhiều nốt sần. Đó là các u bướu nhỏ bám vào các rễ. Nốt sần là kết quả cộng sinh
của một số loại vi sinh vật có tên khoa học là Rhizobium japonicum với rễ cây đậu
nành. Trong một nốt sần có khoảng 3-4 tỷ vi sinh vật, mà ta chỉ có thể nhìn thấy

trình hình thành nốt sần kéo dài 16-21 ngày. Trường hợp bình thường nốt sần bắt
đầu xuất hiện sau mọc 14-15 ngày, phát triển nhiều và mạnh nhất vào lúc đậu nành
ra hoa và làm quả tập trung nhiều nhất ở lớp rễ thứ nhất.
Số lượng nốt sần nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện đất trồng, các chất
dinh dưỡng đối với đậu nành. Trồng đậu nành trên đất đã trồng đậu nành, thì nốt sần
hình thành sớm hơn và nhiều hơn. Đất chua quá hoặc kiềm quá nốt sần hình thành
kém. pH thích hợp cho sự hình thành của nốt sần là 6-7, vì vậy việc lựa chọn đất
trồng đậu nành thích hợp rất quan trọng. Điều kiện dinh dưỡng cũng ảnh hưởng rất
lớn đến sự phát triển của nốt sần. Nhìn chung bón đầy đủ NPK thì nốt sần phát triển
mạnh, bón P
2
O
5
có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nốt sần, còn hiệu quả kali
không rõ lắm (Trần Văn Điền, 2001). Bón đạm không thích hợp ức chế sự hình
thành và phát triển của nốt sần.
Quan hệ giữa vi sinh vật nốt sần với cây đậu nành là mối quan hệ cộng sinh: cây
cung cấp chất dinh dưỡng cho vi khuẩn hoạt động, ngược lại vi khuẩn lại tổng hợp
nitơ tự do của không khí chuyển sang dạng đạm hữu cơ cây có thể sử dụng được.
Cây đậu nành cung cấp càng nhiều chất dinh dưỡng cho vi sinh vật hoạt động thì vi
sinh vật càng phát triển và tích lũy đạm được càng nhiều cho cây làm cho cây sinh
trưởng và phát triển tốt.
1.4.2 Thân
• Hình thái và màu sắc của thân
Thân cây đậu nành thuộc thân thảo, có hình tròn, trên thân có nhiều lông nhỏ. Thân
khi còn non có màu xanh hoặc màu tím khi về già chuyển sang màu nâu nhạt, màu
sắc của thân khi còn non có liên quan chặt chẽ với màu sắc của hoa sau này. Nếu
thân lúc còn non màu xanh thì hoa màu trắng và nếu khi còn non thân có màu tím
thì hoa có màu tím đỏ.


cao trên 15cm, nếu thấp quá không có lợi cho việc cơ giới hoá. Giống đậu nành có
góc độ phân cành càng hẹp thì càng tốt cho việc tăng mật độ. Căn cứ vào tập tính
sinh trưởng của thân cành và đặc điểm ra hoa người ta chia các giống đậu nành ra
làm 2 loại:

10
Sinh trưởng hữu hạn: khi ngọn thân hoặc ngọn cành đã ra hoa, thì không tiếp tục
sinh trưởng nữa hay cành không cao lên nữa, loại này thường trồng lấy hạt.
Sinh trưởng vô hạn: khi đậu nành ra hoa kết quả và cả khi sắp chín thân cành vẫn
tiếp tục sinh trưởng, thường là loại mọc bò được trồng làm thức ăn cho gia súc.
Quá trình phát triển của thân:
Từ lúc mọc đến khi cây có 5 lá thật (3 lá kép) khoảng 25-30 ngày sau khi gieo, thân
sinh trưởng với tốc độ bình thường.
Khi cây đã có 6-7 lá thật (4-5 lá kép) thân bắt đầu phát triển mạnh, tốc độ mạnh
nhất vào lúc ra hoa rộ.
Sự khác biệt của cây đậu nành với cây trồng khác là khi cây ra hoa rộ lại là lúc thân
cành phát triển mạnh nhất. Đây là giai đoạn 2 quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và
sinh trưởng sinh thực cạnh tranh nhau dẫn đến khủng hoảng thiếu dinh dưỡng, cho
nên cần phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng trước khi vào thời kỳ này và tạo điều kiện
cho bộ rễ phát triển thuận lợi. Trong kỹ thuật chăm sóc ta phải xới vun kết hợp với
bón thúc phân cho đậu nành vào giai đoạn 3-5 lá kép, lúc cây có đầy đủ hoa thì sinh
trưởng chậm dần rồi dừng hẳn (Trần Văn Điền, 2007).
1.4.3 Lá
Cây đậu nành có 3 loại lá:
Lá mầm (lá tử diệp): Lá mầm mới mọc có màu vàng hay xanh lục, khi tiếp xúc với
ánh sáng thì chuyển sang màu xanh. Hạt giống to thì lá mầm chứa nhiều dinh dưỡng
nuôi cây mầm, khi hết chất dinh dưỡng lá mầm khô héo đi, cho nên trong kỹ thuật
trồng đậu nành nên làm đất tơi nhỏ và chọn hạt to cây sẽ mọc khoẻ, sinh trưởng tốt.
Lá nguyên (lá đơn): Lá nguyên xuất hiện sau khi cây mọc từ 2-3 ngày và mọc phía
trên lá mầm. Lá đơn mọc đối xứng nhau. Lá đơn to màu xanh bóng là biểu hiện cây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status