Thực trạng tổ chức bộ máy Kiểm toán nhà nước Việt Nam - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC BỘ
MÁY KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC........................................................3
1.1. Những vấn đề chung về KTNN.........................................................3
1.1.1. Một số khái niệm...........................................................................3
1.1.2. Mục tiêu thành lập, vai trò và chức năng của cơ quan KTNN......4
1.2. Các mô hình cơ bản của tổ chức bộ máy KTNN.............................5
1.2.1. Trong mối quan hệ với bộ máy Nhà nước....................................5
1.2.1.1. Mô hình tổ chức độc lập giữa cơ quan KTNN với cơ quan
lập pháp và cơ quan hành pháp.........................................................5
1.2.1.2. Mô hình tổ chức cơ quan KTNN trực thuộc cơ quan hành
pháp...................................................................................................8
1.3.1.3. Mô hình tổ chức cơ quan KTNN trực thuộc cơ quan Lập
pháp.................................................................................................10
1.3.1.4. Một số loại tổ chức bộ máy kiểm toán Nhà nước khác........11
1.2.2. Xét trong mối liên hệ nội bộ .......................................................12
1.2.2.1. Cơ quan KTNN liên hệ theo chiều ngang (liên hệ ngang)...12
1.2.2.2. Cơ quan kiểm toán Nhà nước liên hệ theo chiều dọc (liên hệ
dọc)..................................................................................................12
1.3. Kinh nghiệm tổ chức bộ máy KTNN của một số nước trên thế
giới............................................................................................................13
1.3.1. KTNN Cộng hòa Liên bang Đức................................................13
1.3.2. Cơ quan KTNNLB Nga..............................................................14
1.3.3. Cơ quan KTNN Nhật bản............................................................15
Trần Thanh Hảo Kiểm toán 49A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM TOÁN
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM...................................................................17
2.1. Quá trình hình thành và phát triển của KTNN Việt Nam...........17

KTNNLB
CQKT
:
:
Kiểm toán Nhà nước Liên bang
Cơ quan kiểm toán
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.01: Mô tả vị trí của KTNN độc lập với cơ quan hành pháp
và lập pháp............................................................................................6
Sơ đồ 1.02: Mô tả vị trí của KTNN trực thuộc cơ quan Hành pháp..8
Sơ đồ 1.03: Mô tả vị trí của KTNN trực thuộc cơ quan Lập pháp. .10
Sơ đồ 2.01: Vị trí pháp lý của KTNN theo nghị định 93/2003/NĐ-CP
............................................................................................................. 18
Sơ đồ 2.02: Tổ chức bộ máy KTNN sau khi có Luật KTNN............21
Trần Thanh Hảo Kiểm toán 49A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Kiểm toán Nhà nước Việt Nam được thành lập theo nghị định 70/CP
ngày 11/07/1994. Sự ra đời của KTNN đánh dấu một bước ngoặt lịch sử
trong việc phát triển, khai thác và sử dụng các công cụ quản lý kinh tế ngày
một tối ưu và hiệu quả của nhà nước. Trong những năm qua với sự nỗ lực
không ngừng trong việc hoàn thiện bộ máy tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt
động, KTNN đã góp phần to lớn phục vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà
nước; thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện
và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng
ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được trong tổ chức và hoạt
động của KTNN vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập như sự chồng
chéo về chức năng nhiệm vụ giữa các bộ phận, bất hợp lý trong quản lý và tổ
chức…điều này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả và hiệu lực hoạt

BỘ MÁY KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
1.1. Những vấn đề chung về KTNN
1.1.1. Một số khái niệm
Tổ chức nói chung là mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống.
Mức độ liên hệ này được xác định qua biên độ giao động từ 0 đến 1. Ở mức
độ 0, các yếu tố trong hệ thống không tồn tại bất kì mối liên hệ nào. Khi đó
hệ thống rơi vào tình trạng tan rã hay vô tổ chức. Ở mức độ 1, ngược lại, các
yếu tố quan hệ chặt chẽ, khoa học và hệ thống hoạt động ở mức độ tối ưu.
Kiểm toán là một hệ thống có chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về
thực trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ
thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán
viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý
có hiệu lực. Để thực hiện kiểm toán có hiệu quả thì cần thiết phải xây dựng
mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán khoa học, nghệ thuật với cơ chế hoạt
động linh hoạt nhằm thích ứng với đặc điểm của đối tượng và khách thể
kiểm toản trong các cuộc kiểm toán cụ thể.
Bộ máy kiểm toán gồm cả con người và phương tiện chứa đựng các
yếu tố của kiểm toán để thực hiện chức năng kiểm toán. Ngoài những
nguyên lý chung của tổ chức các bộ máy khác nhau, bộ máy kiểm toán còn
được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
• Phải xây dựng đội ngũ KTV đủ về số lượng và bảo đảm yêu
cầu chất lượng phù hợp với từng bộ máy kiểm toán.
• Hệ thống bộ máy kiểm toán phải bao gồm các phân hệ chứa
đựng các mối liên hệ trong - ngoài khác nhau phù hợp với quy luật của phép
biện chứng về liên hệ.
Trần Thanh Hảo Kiểm toán 49A
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Tổ chức bộ máy kiểm toán phải quán triệt nguyên tắc chung của
mọi hệ thống tổ chức bộ máy: tập trung, dân chủ thích ứng với từng bộ

đưa ra các kết luận và đánh giá về hoạt động của đối tượng kiểm toán.
• Chức năng tư vấn: thông qua các quá trình kiểm toán, KTNN thực
hiện tư vấn cho đối tượng kiểm toán về những thiếu sót cần khắc phục, dự
đoán tương lai để phòng tránh. Đồng thời, KTNN cũng thực hiện tư vấn cho
Quốc hội, các cơ quan Chính phụ ban hành hoặc sửa đổi các Luật, quy định
phù hợp thực tiến.
• Chức năng công khai số liệu và tình hình quản lý, sử dụng NSNN và
các nguồn lực khác do Nhà nước nắm giữ.
1.2. Các mô hình cơ bản của tổ chức bộ máy KTNN
Trong số 189 thành viên chính thức của Tổ chức Quốc tế các Cơ quan
Kiểm toán tối cao (INTOSAI), Cơ quan KTNN ở mỗi quốc gia không chỉ có
những tên gọi khác nhau như: Toà Thẩm kế Cộng hoà Pháp, Cơ quan Tổng
Kế toán Hoa Kỳ, Cục Kiểm toán Liên bang Nga, Uỷ ban Kiểm toán và
Thanh tra Hàn Quốc, Uỷ ban Kiểm toán và Kiểm soát Ấn Độ; Uỷ ban Kiểm
toán Nhật Bản... Mà ở mỗi nước cũng hình thành những mô hình tổ chức
khác nhau phụ thuộc vào phạm vi của các mối liên hệ với tổ chức bộ máy
nhà nước của mỗi quốc gia
1.2.1. Trong mối quan hệ với bộ máy Nhà nước
1.2.1.1. Mô hình tổ chức độc lập giữa cơ quan KTNN với cơ quan lập pháp
và cơ quan hành pháp
Mô hình này cho thấy tính độc lập rất cao của cơ quan KTNN trong các
quyết định và phán quyết. Với tư cách là cơ quan kiểm tra tài chính độc lập,
Trần Thanh Hảo Kiểm toán 49A
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nó được quy định nhiệm vụ là hỗ trợ cho cả hai cơ quan lập pháp và cơ quan
hành pháp. Các đề nghị kiểm toán của Quốc hội cũng như Chính phủ chỉ
mang tính chất gợi ý chứ không phải là chỉ thị hay mệnh lệnh. Điển hình về
mô hình này là ở Cộng hòa Liên bang Đức bởi vì nó có thể tự mình lập kế
hoạch, thực hiện và đưa ra các kết luận. Hầu hết các nước có nền kiểm toán

bởi cơ chế làm việc tập thể, quyết định đa số của Quốc hội; không có các
tác nhân làm ảnh hưởng đến việc lựa chọn đối tượng kiểm toán hay các áp
lực đối với hoạt động đòi hỏi sự độc lập và khách quan trong các đánh giá
và kết luận.
• Chức năng của KTNN là xác định một cách độc lập và trung thực,
khách quan các thông tin về quản lý tài chính và tài sản nhà nước. Do đó,
KTNN theo mô hình này là công cụ đắc lực cho cả cơ quan lập pháp trong
việc thực hiện quyền giám sát của mình và cơ quan hành pháp trong việc
quản lý và điều hành nền kinh tế.
• KTNN hoạt động chỉ tuân theo pháp luật, các đánh giá và kết luận
đưa ra mang tính cung cấp thông tin một cách trung thực và khách quan
theo quy định của pháp luật, việc sử dụng thông tin sẽ do các cơ quan sử
dụng thông tin ra quyết định. Ngoài ra, KTNN còn có chức năng tư vấn rất
quan trọng về các vấn đề kinh tế, tài chính, góp phần nâng cao việc chấp
hành và hoàn thiện pháp luật về kinh tế, tài chính.
Tuy mô hình tổ chức này có rất nhiều ưu điểm, nhưng không phải
quốc gia nào cũng có thế tổ chức theo mô hình này bởi mô hình này vẫn tồn
tại một số hạn chế sau:
• Để một quốc gia có thể tổ chức theo mô hình này thì đòi hỏi môi
trường pháp lý cho hoạt động quản lý kinh tế và tài chính phải được minh
bạch và đầy đủ các quy định làm hành lang pháp lý cho các hoạt động của
Chính phủ.
Trần Thanh Hảo Kiểm toán 49A
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Mô hình này đòi hỏi khả năng về trình độ của các KTV mang tính
chuyên môn rất cao mới có thể đáp ứng được yêu cầu. Bởi vì khi đó quyền
cao nhất của KTNN là quyền kiến nghị, do đó để kiến nghị được thì các
KTV cần phải có trình độ và rất khách quan trong việc đánh giá và kết luận
trong báo cáo kiểm toán.

• Do KTNN nằm trong cùng hệ thống cơ quan hành pháp nên có điều
kiện thuận lợi trong việc tiếp cận thông tin, số liệu của các cơ quan hành
chính Nhà nước các cấp. Các kết luận và kiến nghị của KTNN có được các
thông tin tin cậy và phù hợp.
Mặc dù có một số ưu điểm trong hoạt động của mình nhưng mô hình
này cũng có một số hạn chế làm ảnh hưởng tới chất lượng báo cáo kiểm toán
và các kết luận, kiến nghị:
• Theo mô hình tổ chức này thì bản chất của KTNN là kiểm toán nội bộ
của Chính phủ, do đó việc KTNN đánh giá hoạt động của Chính phủ có thể
sẽ thiếu khách quan do bị Chính phủ chi phối trong hoạt động và bị sự nể
nang nhất định trong đánh giá và kết luận.
• Địa vị pháp lý bị giới hạn, KTNN không phải là công cụ trực tiếp
phục vụ quyền giám sát tối cao của cơ quan quyền lực nhà nước caonhất
nên không được coi là cơ quan kiểm toán tài chính Nhà nước cao nhất của
quốc gia.
• Việc phân định ranh giới giữa hành vi quản lý và trách nhiệm kiểm
tra, giữa kiểm tra nội bộ và kiểm tra từ bên ngoài sẽ rất khó khăn.
Trần Thanh Hảo Kiểm toán 49A
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3.1.3. Mô hình tổ chức cơ quan KTNN trực thuộc cơ quan Lập pháp
Tức là cơ quan này trực thuộc về Quốc hội hoặc cơ quan Nghị viện.
Đây là trường hợp phổ biến nhất trên thế giới và nhận được sự ủng hộ rộng
rãi. Một số nước KTNN được tổ chức theo mô hình này là Mỹ, Nga, Anh,
Đan Mạch, Australia, Phần Lan…
Sơ đồ 1.03: Mô tả vị trí của KTNN trực thuộc cơ quan Lập pháp
Ghi chú:
: Quan hệ chỉ đạo
: Quan hệ phối hợp
Mô hình này có một số ưu điểm sau:

mang một ít quyền lực của cơ quan tư pháp như xét xử về các sai phạm
trong lĩnh vực tài chính. Kể cả trong các mô hình ở trên, tùy từng nước cũng
có các quy định về quyền trong xử lý sai phạm tài chính khác nhau trong các
đạo luật về KTNN ví dụ như cơ quan KTNN Cộng hòa Pháp có vai trò như
là cấp xét xử cao nhất về các sai phạm tài chính. Trong trường hợp KTNN
trực thuộc Tổng thống – một thiết chế quyền lực do nhân dân bầu ra, KTNN
có những quyền riêng và bị ảnh hưởng nhất định bởi cá nhân Tổng thống mà
không bị ảnh hưởng bởi các cơ quan Lập pháp hay Hành pháp.
Trần Thanh Hảo Kiểm toán 49A
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.2. Xét trong mối liên hệ nội bộ
1.2.2.1. Cơ quan KTNN liên hệ theo chiều ngang (liên hệ ngang)
Liên hệ ngang là mối liên hệ nội bộ trong cơ quan kiểm toán cùng cấp
(trung ương hay khu vực hoặc địa phương). Liên hệ ngang có 2 loại: liên hệ
theo kiểu trực tuyến hoặc chức năng
Trong liên hệ trực tuyến, tổng kiểm toán trưởng trực tiếp chỉ huy các
loại hoạt động của KTNN. Mô hình tổ chức của hội đồng kiểm toán Nhật
Bản, Singapore… là ví dụ. Liên hệ này có ưu điểm bảo đảm lệnh của Tổng
kiểm toán trưởng được chuyển trưc tiếp đến các KTV, bảo đảm điều hành
nhanh, nhạy và thông tin ngược xuôi kịp thời, nâng cao trách nhiệm cá nhân,
tránh tình trạng người thừa hành phải thi hành những chỉ thị khác nhau. Tuy
nhiên mô hình này chỉ thích hợp trong điều kiện quy mô kiểm toán và số
lượng nhân viên không quá lớn.
Trong liên hệ chức năng, quyền điều hành công việc được phân thành
nhiều khối, mỗi khối lại chia thành nhiều cấp khác nhau ví dụ như mô hình
tổ chức kiểm toán của Australia. Tổ chức theo mô hình này giúp giảm bớt
gánh nặng cho người chỉ huy và thích hợp với bộ máy kiểm toán có quy mô
lớn nhưng lại vi phạm chế độ một thủ trưởng dễ sinh ra tình trạng thiếu trách
nhiệm rõ ràng.

nói riêng.
Theo điều 2 Luật về CQKT Liên bang ngày 11/07/1985: Cơ quan Kiểm
toán Liên bang gồm có các CQKT khu vực và các bộ phận kiểm toán. Có thể
thành lập các nhóm kiểm toán để thực hiện các chức năng đặc thù. Cần hình
thành bộ phận kiểm toán nói riêng tại Phủ Tổng thống chịu trách nhiệm về
Trần Thanh Hảo Kiểm toán 49A
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các dịch vụ văn phòng. Tại các Bang thành lập CQKT riêng theo từng Luật
Liên bang
Bộ máy KTNN Liên bang Đức bao gồm:
- 9 Vụ kiểm toán, mỗi Vụ có 6 Phòng kiểm toán, bao gồm khoảng 600
KTV
- 9 KTNN Khu vực gồm 500 KTV
- Khoảng hơn 1.500 KTV trong các cơ quan của Liên bang.
Những quyết định của KTNNLB được biểu quyết tập thể. Trong trường
hợp bình thường thì 2 thành viên hữu trách ra quyết định (Vụ trưởng và
Trưởng Phòng Kiểm toán). Trong một số trường hợp nhất định thì Chủ tịch
hoặc Phó Chủ tịch sẽ tham gia vào Hội đồng (Hội đồng 3 thành viên).
Những quyết định trong Hội đồng 2 hoặc 3 thành viên chỉ có thể thông qua
với sự nhất trí của tất cả các thành viên. Đại hội đồng của KTNNLB chỉ
quyết nghị về những vấn đề vợt ra ngoài khuôn khổ 1 Vụ hoặc đặc biệt quan
trọng.
1.3.2. Cơ quan KTNNLB Nga
KTNNLB Nga là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của hệ
thống kiểm tra tài chính Nhà nước, được lập ra bởi Hội nghị Liên bang và
trực thuộc Hội nghị. KTNNLB Nga trong hoạt động của mình tuân thủ theo
Hiến pháp Liên bang, Đạo luật KTNN và các Đạo luật khác của Liên bang
Nga. Trong khuôn khổ các nhiệm vụ do luật định, KTNNLB Nga độc lập về
tổ chức và chức năng. KTNNLB Nga là một pháp nhân, có con dấu khắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status