Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam vận động viên pencak silat tỉnh hà giang lứa tuổi 15 – 16 - Pdf 30

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
NGUYN THANH TM
LựA CHọN BIệN PHáP NÂNG CAO HIệU QUả
HUấN LUYệN THể LựC CHUYÊN MÔN cho NAM VậN ĐộNG VIÊN
PENCAK SILAT TỉNH Hà GIANG LứA TUổI 15 16
Chuyờn ngnh: Giỏo dc th cht
Mó s: 60140103
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
Ngi hng dn khoa hc
TS. Trng Anh Tun
H Ni 2014
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Trương Anh
Tuấn, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình
tiến hành nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Em xin gửi lời cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Giáo dục thể
chất Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình dạy bảo và giúp đỡ em
trong suốt quá trình học tập và bảo vệ Luận văn.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc Trung tâm huấn luyện và
thi đấu TDTT tỉnh Hà Giang đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận
văn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, những
người thân trong gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt
quá trình học tập và hoàn thiện Luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm 2014
TÁC GIẢ
Nguyễn Thanh Tâm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số

MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1. Thực trạng phong trào TDTT Hà Giang năm 2005 - 2013 18
Bảng 2.1. Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho công tác huấn luyện
VĐV Pencak Silat tỉnh Hà Giang
40
Bảng 2.2. Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá trình độ thể lực
của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15-16 tỉnh Hà Giang
42
Bảng 2.3. Hệ số tương quan giữa các test lựa chọn với hiệu xuất thi
đấu của nam Pencak silat lứa tuổi 15-16 tỉnh Hà Giang
45
Bảng 2.4. Hệ số tin cậy của các test đánh giá TLCM của nam VĐV
Pencak silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang
47
Bảng 2.5. Thực trạng trình độ thể lực của nam VĐV Pencak Silat lứa
tuổi 15-16 tỉnh Hà Giang
49
Bảng 3.1. Kết quả phỏng vấn lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả
huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15-16
tỉnh Hà Giang
54
Bảng 3.2. Kết quả phát triển TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi
15-16 tỉnh Hà Giang trước khi áp dụng các nhóm biện pháp
63
Bảng 3.3. Kết quả phát triển TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa
tuổi 15-16 tỉnh Hà Giang sau khi áp dụng các nhóm biện pháp
64
Bảng 3.4. Nhịp tăng trưởng TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa

tại đấu trường khu vực Đông Nam Á hiện nay cần phải kể đến môn võ
Pencak Silat.
Pencak Silat là một môn thể thao mới được du nhập và phát triển tại
Việt Nam vào năm 1989 của thế kỷ trước. Môn Pencak Silat được xuất hiện ở
Malaysia và Indonesia từ thế kỷ thứ 15 và liên tục phát triển qua nhiều thế kỷ và
hiện nay đã phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Pencak Silat phát triển rất
mạnh ở nhiều quốc gia và được tổ chức thi đấu phổ biến tại khu vực Đông Nam
Á và Châu Á: Là một trong những môn thể thao nằm trong Chương trình thi đấu
chính thức tại Đại hội thể thao Đông Nam Á, Đại hội thể thao bãi biển Châu Á,
Đại hội thế thao trong nhà Châu Á, ngoài ra còn có Giải vô địch thế giới.
Môn Pencak Silat là một môn võ có những đặc điểm kỹ thuật, thể lực
phù hợp với tầm vóc, tâm sinh lý và thể chất của người Việt Nam. Tuy là môn
võ thuật mới phát triển, nhưng do Việt Nam là đất nước có bề dày truyền
thống võ thuật, nên môn Pencak Silat nước ta đã phát triển nhanh chóng và
đạt được những thành tích đáng khích lệ.
Hiện nay Pencak Silat đã trở thành một trong những môn thể thao trọng
điểm của nước ta và có khả năng giành thứ hạng cao trong các giải khu vực
và thế giới. Tổng cục TDTT đã đưa môn Pencak Silat vào hệ thống thi đấu thể
thao thành tích cao nước ta.
Pencak Silat là một môn thi đấu đối kháng trực tiếp, có sự va chạm và
tiếp xúc mạnh về thể chất. Yêu cầu đặt ra với VĐV Pencak Silat là phải có kỹ
chiến thuật, phẩm chất tâm lý, ý chí tốt, đặc biệt là sự phát triển toàn diện các
tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, năng lực phối hợp vận
động và năng lực mềm dẻo. Trong thời gian thi đấu, VĐV luôn phải tập trung
cao độ, di chuyển linh hoạt, thực hiện những đòn đánh nhanh, mạnh với biên
độ lớn và có đủ sức bền để không làm giảm tốc độ đòn đánh ở cuối trận đấu.
2
Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới đào tạo tài năng thể
thao, môn Pencak Silat cũng từng bước được nghiên cứu nhằm hoàn thiện quá
trình huấn luyện để không ngừng nâng cao thành tích thi đấu.

giải quyết các nhiệm vụ kỹ, chiến thuật, tâm lý cần tập trung nâng cao thể
lực chuyên môn cho VĐV.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn đào tạo VĐV Pencak Silat trẻ của
tỉnh Hà Giang, chúng tôi đã xác định lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện thể lực chuyên
môn cho nam vận động viên Pencak Silat tỉnh Hà Giang lứa tuổi 15 – 16’’
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Thông qua việc nghiên cứu lựa chọn các biện pháp nâng cao hiệu quả
huấn luyện TLCM để góp phần nâng cao chất lượng công tác đào tạo, huấn
luyện và thi đấu của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 của tỉnh Hà Giang.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần giải quyết 3 nhiệm vụ sau:
3.1. Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng huấn luyện TLCM của nam VĐV
Pencak Silat lứa tuổi 15- 16 tỉnh Hà Giang.
3.2. Nhiệm vụ 2: Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện
TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang.
3.3. Nhiệm vụ 3: Ứng dụng và đánh giá các biện pháp nâng cao hiệu
quả huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà
Giang trong thực tiễn.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện TLCM của nam VĐV
Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16.
4
4.2. Khách thể nghiên cứu
Nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15-16 tại Trung tâm huấn luyện và thi
đấu TDTT tỉnh Hà Giang.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Thành tích thi đấu của VĐV trẻ môn Pencak Silat còn nhiều hạn chế,
một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó là do công tác huấn

đặc biệt là các môn thể thao đối kháng hai người
- Các công trình nghiên cứu khoa học TDTT đã được công bố.
7.2. Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu hỏi
Đối tượng phỏng vấn của đề tài là 25 HLV, chuyên gia, chuyên viên, giáo
viên, cán bộ quản lý của các trung tâm võ thuật mạnh trên toàn quốc: Trung tâm
Huấn luyện thể thao quốc gia I, Trung tâm Huấn luyện thể thao Bộ công an, Hà
Nội, Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Quân đội, Thanh Hóa,
Nghệ An, Hà Giang những người trực tiếp làm công tác đào tạo VĐV Pencak
Silat (thời điểm phỏng vấn tháng 08/2013) để thu thập thông tin về thực trạng
công tác huấn luyện và đào tạo VĐV Pencat Silat và các biện pháp nâng cao
hiệu quả huấn luyện TLCM của Nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16.
Nội dung phỏng vấn nhằm mục đích tìm hiểu:
- Các biện pháp được sử dụng trong quá trình huấn luyện TLCM.
- Các giai đoạn huấn luyện TLCM.
- Các nguyên tắc sử dụng LVĐ và quãng nghỉ trong huấn luyện TLCM.
- Ý kiến của các nhà chuyên môn, huấn luyện viên về các tiêu chí đánh
giá trình độ TLCM.
7.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Nhằm quan sát và đánh giá khách quan quá trình huấn luyện TLCM của
nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 của tỉnh Hà Giang. Nội dung quan sát
được tập trung vào một số yếu tố:
6
- Việc sử dụng các bài tập TLCM trong huấn luyện thể lực.
- Nội dung, thời gian và mức độ tác động của các bài tập TLCM trong
từng buổi huấn luyện.
- Loại hình bài tập và LVĐ của bài tập TLCM.
7.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm
Sử dụng các test chuyên môn để đánh giá TLCM của nam VĐV Pencak
Silat lứa tuổi 15 – 16.
- Test đánh giá Sức mạnh:

n
x
x
n
i
i

=
=
1
Trong đó: x
i
: Là trị số của từng cá thể.
n: Kích thước tập mẫu.
Σ: Ký hiệu tổng
b. Phương sai:
( )
1
2
2


=

n
xx
i
i
δ
(n < 30)


−−
−−
=
22
)yy()xx(
)yy)(xx(
r
ii
ii
8
f. Thang độ C :
ZC 25
+=
Trong đó:
δ
xx
Z
i

=
x
i
: Là giá trị cần tìm ứng với điểm từ 1 - 10 của C.
x
: Là giá trị trung bình của tập hợp.
δ: Là độ lệch chuẩn.
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá được thực trạng huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak
Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang.

trong các văn kiện của Đảng và chính sách về TDTT của Nhà nước.
Các nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, VI, thứ VII và thứ
VIII, IX, X và XI của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản và chủ
trương lớn để chỉ đạo công tác TDTT trong sự nghiệp đổi mới.
Về công tác TTTTC, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ V đã nêu rõ:
“ Tích cực xây dựng đội ngũ vận động viên ngày càng đông đảo, có
phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, và đạt thành tích kỷ lục cao. Muốn vậy cần
tăng cường hệ thống tổ chức quản lý công tác TDTT ở các cấp, các ngành,
các đoàn thể nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật và từng bước tăng
thêm cơ sở vật chất kỹ thuật của TDTT” [58].
Văn kiện Đại hội Đảng VI tiếp tục khẳng định:
Củng cố và mở rộng hệ thống trường, lớp năng khiếu thể thao, phát
triển lực lượng VĐV trẻ, lựa chọn và tập trung sức nâng cao thành tích một số
10
môn thể thao. Coi trọng việc giáo dục đạo đức, phong cách thể thao xã hội
chủ nghĩa. Cố gắng bảo đảm các điều kiện về cán bộ, về khoa học, kỹ thuật,
cơ sở vật chất và nhất là về tổ chức, quản lý cho công tác TDTT [60].
Đại hội Đảng VII đã định hướng đào tạo VĐV TTTTC:
Nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng VĐV, nâng cao thành
tích một số môn thể thao. Cải tiến tổ chức, quản lý các hoạt động TDTT theo
hương kết hợp chặt chẽ các tổ chức Nhà nước và các tổ chức xã hội. Tạo các điều
kiện về cán bộ, cơ sở vật chất và khoa học kỹ thuật để phát triển nhanh một số
môn thể thao Việt Nam có truyền thống và có triển vọng [60].
Chỉ thị số 36 - CT/TW, ngày 24 tháng 3 năm 1994 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng (khóa VII) đã chỉ rõ: "Phát triển TDTT là một bộ phận
quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước
nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, công tác TDTT phải góp
phần tích cực nâng cao sức khoẻ, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức lối
sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân,

Trong thư chúc mừng Đại hội thể thao GANEFO châu Á lần thứ nhất, tổ chức
vào cuối năm 1966 ở Campuchia, Hồ Chí Minh viết: “Đây là cuộc gặp gỡ lớn
để các lực lượng mới trỗi dậy ở châu Á, tỏ rõ cho toàn thế giới thấy khả năng
phong phú của mình trong lĩnh vực thể thao”. Quan điểm này còn có nghĩa
rằng, thể thao của các lực lượng mới trỗi dậy ở châu Á với khả năng phát triển
mạnh mẽ cả về TDTTQC và TTTTC [49].
Điều 31, Luật Thể dục, thể thao đã xác định trách nhiệm của Nhà nước
đối với sự nghiệp TDTT, trong đó có lĩnh vực TTTTC: “Nhà nước có chính
sách phát triển TTTTC, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại;
đào tạo bồi dưỡng VĐV, HLV đạt trình độ quốc gia, quốc tế; tổ chức thi đấu
12
thể thao; tham gia các giải thể thao quốc tế; khuyến khích tổ chức cá nhân
tham gia phát triển TTTTC”.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh nền
kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã thấy rõ vị trí
và vai trò quan trọng của TDTT trong việc chuẩn bị và bồi dưỡng nguồn nhân
lực có chất lượng cao, đặc biệt là về thể chất, tinh thần và ý chí.
Đại hội XI của Đảng đã đề ra mục tiêu: ”xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người
phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức
công dân, tuân thủ pháp luật”. TDTT vừa là một lĩnh vực văn hóa, giáo dục,
một chính sách xã hội, vừa là một hoạt động dịch vụ cần góp phần tích cực
thực hiện mục tiêu trên.
Văn kiện Đại hội XI cũng nêu rõ nhiệm vụ cụ thể của TDTT: ”Xây
dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao. Coi trọng
bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc… “Phát triển mạnh phong
trào thể dục, thể thao đại chúng, tập trung đầu tư nâng cao chất lượng một số
môn thể thao thành tích cao nước ta có ưu thế. Kiên quyết khắc phục các hiện
tượng tiêu cực trong thể thao”.
Ngày 1 tháng 12 năm 2011, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương

thành phố với quy mô phù hợp, có nhiệm vụ hỗ trợ phát triển mạng lưới
hoạt động thể thao thanh, thiếu niên, học sinh, sinh viên các trường học và
phát hiện, bồi dưỡng các năng khiếu và tài năng thể thao. Khuyến khích
phát triển câu lạc bộ về các môn thể thao hoạt động theo phương thức tự
quản, có sự hỗ trợ của Nhà nước. Mở rộng quy mô và hiện đại hóa các
trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia.
14
Đổi mới tổ chức, quản lý TTTTC theo hướng chuyên nghiệp phù hợp
với đặc điểm của từng môn và từng địa phương. Ưu tiên đầu tư của Nhà nước
và huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo vận động viên
các môn thể thao trọng điểm; tích cực chuẩn bị lực lượng vận động viên và
các điều kiện cơ sở vật, chất kỹ thuật cần thiết, để sẵn sàng đăng cai tổ chức
Đại hội thể thao Châu Á. Bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Coi trọng giáo dục đạo đức, ý chí, lòng tự hào dân tộc cho VĐV. Tôn
vinh và đãi ngộ xứng đáng các VĐV xuất sắc và phát huy vai trò nêu gương
của họ đối với lớp VĐV kế cận và với thanh, thiếu niên nói chung. Kiên quyết
đấu tranh khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong thể thao, nhất là trong
bóng đá và các môn TTTTC" [39].
Như vậy có thể khẳng định, TDTT là một bộ phận của nền văn hóa xã
hội có giá trị xã hội và nhân văn sâu sắc. Đảng và Nhà nước ta thấy rõ giá trị
xã hội to lớn của TDTT, do vậy trong suốt quá trình lãnh đạo Cách mạng
nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo phát triển sự nghiệp
TDTT, coi TDTT là một bộ phận thuộc chính sách xã hội nhằm chăm lo, bồi
dưỡng nguồn lực con người, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, TDTT
dần trở thành một bộ phận vững chắc trong đời sống xã hội nước ta.
1.2. Khái quát về TDTT tỉnh Hà Giang
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với sự nỗ lực phấn đấu,
của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các dân tộc, tình hình và điều kiện
kinh tế xã hội của tỉnh Hà Giang đã từng bước ổn định và phát triển.

ngoại khóa đạt 84%. Đội ngũ giáo viên chuyên trách TDTT trong toàn tỉnh
từng bước được được nâng cao chất lượng về chuyên môn.
16
Hàng năm Sở VH, TT & DL và tỉnh Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh phát động phong trào “Thanh niên khoẻ”, “Khoẻ để lập nghiệp và giữ
nước”, triển khai cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thể thao theo gương
Bác Hồ vĩ đại” đã thu hút rất nhiều thanh niên, thiếu niên, nhi đồng tham gia.
Sở VH, TT &DL và Đoàn thanh niên tổ chức nhiều giải thi đấu cấp tỉnh, cấp
huyện, thành phố và cơ sở. Trong đó, có các giải thể thao truyền thống như:
giải Cầu lông, Bóng bàn, Bóng đá… các nhà Văn hoá thanh niên, câu lạc bộ
TDTT luôn là những điểm quy tụ đông đảo thanh niên đến sinh hoạt.
Phong trào TDTT đã từng bước phát triển ở vùng sâu, vùng xa, miền
núi , vùng đồng bào dân tộc ít người, thể hiện ở số người tập luyện ngày càng
tăng, số môn thể thao hiện đại cũng được phổ biến rộng rãi như: Bóng đá,
Bóng chuyền, Bóng bàn, Điền kinh, Cầu lông, Võ; cùng kết hợp với các môn
thể thao dân tộc như: Kéo co, Đẩy gậy, Bắn nỏ, Đánh quay, Đánh cù, Đánh
yến, Tu lu, Guốc ván…. các môn thể thao dân tộc truyền thống đang được
bảo tồn, duy trì và phát huy ở các địa phương trong tỉnh, theo từng nội dung
và bản sắc riêng. Đến nay, các vùng trắng về TDTT trên địa bàn tỉnh đã dần
thu hẹp khoảng cách.
Hàng năm, căn cứ vào kế hoạch tổ chức của Trung ương về các giải thể
thao quần chúng cho người dân tộc thiểu số; UBND tỉnh đã giao cho Sở
VHTT&DL, Ban Dân tộc tỉnh,- Hội Nông dân tỉnh, triển khai tuyển chọn và
thành lập đoàn VĐV là người dân tộc của tỉnh tham gia với Trung ương và đã
đạt nhiều huy chương, xếp thứ hạng cao tại các giải khu vực và toàn quốc.
Hoạt động TDTT đối với người cao tuổi phát triển nhanh cả về số lượng
và chất lượng, thu hút đông đảo người cao tuổi tham gia: Thể dục dưỡng sinh,
Đi bộ, Bơi lội, Cầu lông, Bóng bàn
Song song với phát triển phong trào TDTT người cao tuổi, tỉnh cũng
luôn quan tâm đến hoạt động TDTT của người khuyết tật, trẻ em có hoàn

giải thi đấu thể thao trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 2819/2012/QĐ-
UBND ngày 18/12/2012 của UBND tỉnh Hà Giang về Qui định một số
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status