giải pháp tăng cường xã hội hóa công tác khuyến nông trên địa bàn thị xã chí linh, tỉnh hải dương - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ VĂN TUÂN

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HÓA CÔNG TÁC
KHUYẾN NÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CHÍ LINH,
TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI – 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hải Dương, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Văn Tuân Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

LỜI CẢM ƠN!

1.2.2 Mục tiêu cụ thể
3
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
3
Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận về xã hội hóa công tác khuyến nông 4
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về khuyến nông
4
2.1.2 Các nội dung chủ yếu để tăng cường xã hội hoá công tác khuyến nông
9
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hoá công tác khuyến nông
15
2.2 Cơ sở thực tiễn về tình hình xã hội hóa công tác khuyến nông 18
2.2.1 Tình hình xã hội hóa công tác khuyên nông ở một số nước trên thế giới
18
2.2.2 Tình hình xã hội hóa khuyến nông ở một số địa phương ở Việt Nam
20
2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho quá trình xã hội hóa khuyến nông
24
Phần III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
26
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

4.2.5 Đánh giá tình hình xã hội hóa trong tổ chức tham quan các mô hình
trình diễn, kỹ thuật
69
4.2.6 Đánh giá tình hình xã hội hóa trong tổ chức xây dựng các mô hình
trình diễn, kỹ thuật
69
4.2.7 Tăng cường thành lập các tổ đội, nhóm sở thích về công tác khuyến nông
79
4.2.8 Xã hội hóa dịch vụ khuyến nông
81
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình xã hội hóa công tác khuyến nông
tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương 85
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

4.3.1 Nhận thức của người dân về xã hội hóa công tác khuyến nông
85
4.3.3 Trình độ của hộ nông dân
89
4.3.4 Về chính sách, văn bản hướng dẫn về xã hội hóa công tác khuyến nông
90
4.3.5 Sự chỉ đạo của các ban ngành, chức năng về công tác xã hội hóa
khuyến nông
90
4.3.6 Sự kết hợp giữa các bộ phận trong xã hội hóa công tác khuyến nông
90
4.3.7 Điều kiện kinh tế của hộ
91
4.4 Định hướng và giải pháp nhằm tăng cường xã hội hóa công tác
khuyến nông đạt hiệu quả 91

KT Kỹ thuật
MH Mô hình
ND Nông dân
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NS Ngân sách
NSTW Ngân sách Trung ương
QTKT Quy trình kỹ thuật
TH Thực hiện
TT- LN Trồng trọt - Lâm nghiệp
UBND Uỷ ban nhân dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

DANH MỤC CÁC BẢNG

STT Tên bảng Trang

3.1 Tình hình đất đai của thị xã Chí Linh qua 3 năm (2011-2013) 29
3.2 Tình hình dân số và lao động thị xã Chí Linh năm 2013 30
3.3 Kết quả phát triển và cơ cấu kinh tế của thị xã Chí Linh qua các năm
2011 - 2013 31
3.4 Tình hình cơ sở vật chất của thị xã Chí Linh năm 2013 34
3.5 Các kỹ thuật và cách thức thực hiện PRA trong đề tài 38
4.1 Kết quả sản xuất nông nghiệp ở thị xã Chí Linh trong 3 năm 2011 –
2013 41
4.2 Tổng hợp văn bản, chính sách về xã hội hoá công tác khuyến nông 45
4.3 Tổng hợp văn bản, chính sách về xã hội hoá công tác khuyến nông
trên địa bàn thị xã Chí Linh 47
4.4 Tình hình lao động của Trạm khuyến nông thị xã Chí Linh qua 3
năm 2011- 2013 49

4.20 Ý kiến đánh giá của hộ nông dân về xã hội hóa trong xây dựng mô
hình trình diễn 78
4.21 Kết quả tăng cường thành lập các tổ đội, nhóm sở thích về công tác
khuyến nông của thị xã Chí Linh qua 3 năm 2011-2013 80
4.22 Mức độ tiếp cận xã hội hóa trong tư vấn và dịch vụ khuyến nông của
hộ nông dân 82
4.23 Ý kiến đánh giá của hộ nông dân về xã hội hóa tư vấn và dịch vụ
khuyến nông 84
4.24 Đánh giá của cộng đồng dân cư xã hội hóa công tác khuyến nông tại
địa phương 87
4.25 Ảnh hưởng của trình độ văn hóa của hộ đối với quá trình xã hội hóa
công tác khuyến nông (%) 89
4.26 Tỷ lệ hộ nông dân áp dụng TBKT sau khi đã chuyển giao 92

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page x

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

STT Tên sơ đồ Trang

4.1 Các tổ chức tham gia hoạt động khuyến nông của thị xã Chí Linh,
tỉnh Hải Dương 52
4.2 Hoạt động tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật ở thị xã Chí
Linh, tỉnh Hải Dương 59
4.3 Phương pháp xây dựng mô hình trình diễn Khuyến Nông tại thị xã
Chí Linh 71

đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sản xuất, khoa học công nghệ và hội
nhập kinh tế quốc tế…. (Trung tâm khuyến nông Quốc Gia, 2008).
Xã hội hóa (XHH) công tác khuyến nông là thu hút các thành phần kinh tế
cùng tham gia hoạt động khuyến nông. Đây là một giải pháp hiệu quả để đẩy mạnh
hoạt động khuyến nông nói riêng và thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp
nói chung.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2

Ông Trần Văn Hạnh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hải Dương
cho biết: Mặc dù hoạt động XHH khuyến nông đã mang lại hiệu quả thiết thực
nhưng việc liên kết giữa các đơn vị, tổ chức tham gia hoạt động khuyến nông còn
yếu. Có trường hợp nhiều đơn vị cùng tham gia chuyển giao một tiến bộ kỹ thuật,
làm mô hình trùng nhau, tạo ra sự chồng chéo (Trạm khuyến nông, 2013).
Chung quan điểm này, ông Vũ Văn Tiến, Trưởng Trạm Khuyến nông huyện
Thanh Miện cho rằng, một số công ty giống, phân bón không tìm hiểu tình hình
thực tế tại địa phương nên đề nghị xây dựng những mô hình đã được triển khai
trước đó. Có những doanh nghiệp, đơn vị khi tham gia khuyến nông quá nghiêng về
quảng cáo để bán sản phẩm, thu lợi nhuận. Chủ trương chung là đẩy mạnh XHH
công tác khuyến nông, nhưng Nhà nước phải có sự quản lý, giám sát hoạt động này
(Vũ Văn Tiến, 2013).
Tuy nhiên công tác xã hôị hoá khuyến nông còn tồn tại nhiều khó khăn,
thách thức nên chưa phát huy hết tiềm năng phát triển của thị xã. Kinh phí cho hoạt
động xã hội hoá khuyến nông còn hạn hẹp, ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực
hiện, hiệu quả hoạt động xã hội hoá thông tin tuyên truyền, tập huấn chuyển giao
khoa học, kỹ thuật, tham quan mô hình, xây dựng mô hình trình diễn chưa cao. Các
kênh thôn tin đến với người dân còn ít và thiếu đồng bộ; trình độ nhận thức của
người dân về xã hội hoá khuyến nông còn chênh lệch và chưa nhận thấy tầm quan
trọng của xã hội hoá khuyến nông. Để phát huy những thành tựu và giải quyết
những khó khăn trên thì vấn đề đặt ra hiện nay là hoạt động xã hội hoá khuyến nông

- Về thời gian: đề tài được thực hiện từ năm 2014 đến năm 2015. Số liệu sử
dụng để nghiên cứu đề tài này được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2011 -
2013.
- Về nội dung: tập chung nghiên cứu về xã hội hóa công tác khuyến nông và
đưa ra những giải pháp tăng cường xã hội hóa công tác khuyến nông.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

Phần II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận về xã hội hóa công tác khuyến nông
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về khuyến nông
2.1.1.1 Một số khái niệm về khuyến nông
Khuyến nông là từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan đến sự
phát triển nông nghiệp nông thôn. Khuyến nông cũng còn được hiểu như một tổ
chức mà mục đích hoạt động nhằm cải thiện điều kiện sinh sống của các hộ nông
dân bằng cách dạy họ thực hiện tốt hơn, cải thiện phương pháp và cách làm ăn của
họ. Khuyến nông bắt đầu bất cứ ở đâu mà con người hiện diện, trên thế giới từ
“Extension” được sử dụng đầu tiên ở Anh vào năm 1866 có nghĩa là “mở rộng-
triển khai” nếu ghép với từ “Agriculture” thành “Agriculture extension” được dịch
là “khuyến nông”. Do vậy, khuyến nông là một thuật ngữ có ý nghĩa rất rộng được
tổ chức thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau để phục vụ cho nhiều mục đích
khác nhau (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 1993). Vì vậy, khuyến nông
cũng được định nghĩa theo các cách khác nhau:
Theo nghĩa Hán – Văn: “khuyến” có nghĩa là khuyên người ta gắng sức trong
công việc, còn khuyến nông có nghĩa là mở mang phát triển nông nghiệp.
Theo nghĩa hẹp: khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông – lâm – ngư
nghiệp, các trung tâm khoa học nông – lâm nghiệp để phổ biến, mở rộng các kết
quả nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để họ có thể áp dụng

thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới”.
2.1.1.2 Khái niệm về xã hội hóa
Thời gian gần đây, thuật ngữ xã hội hóa trong cải cách dịch vụ công không
chỉ được đề cập trong các văn bản mang tính chất định hướng của Đảng, Nhà nước,
mà còn được sự quan tâm khá đặc biệt từ phía các nhà nghiên cứu. Thậm chí, nó đã
không còn xa lạ với đa số người dân, mặc dù không hẳn ai cũng hiểu tường tận khái
niệm này. Liên quan đến công việc quản lý nhà nước, thuật ngữ này được sử dụng
như một “giải pháp” cho cải cách việc cung ứng các dịch vụ công ích gắn liền với
một số lĩnh vực như công chứng, xã hội hóa giáo dục, y tế, văn hóa, bảo vệ môi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

trường… Theo cách này, vai trò cung ứng dịch vụ của các đối tượng sẽ có sự thay
đổi: chuyển từ sự độc quyền của Nhà nước sang hướng mở rộng cung ứng các dịch
vụ này ra ngoài khu vực nhà nước nhằm tập hợp nguồn lực của xã hội để cùng thực
hiện mục tiêu cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công. Phá bỏ sự độc quyền, bao
cấp của Nhà nước một mặt sẽ giảm tải được gánh nặng cho các cơ quan công quyền,
mặt khác huy động được các nguồn lực trong xã hội. Không chỉ vậy, xã hội hóa còn
được hiểu là quá trình để mọi người được tham gia bình đẳng vào môi trường lành
mạnh, được thụ hưởng những lợi ích công bằng do dịch vụ công đem lại.
Xã hội hóa là một khái niệm của nhân loại học và xã hội học được định
nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời qua đó cá nhân phát triển
khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình (Trung tâm khuyến nông
Quốc Gia, 2008). Nói một cách khác, đó chính là quá trình con người liên tục tiếp
thu văn hóa vào nhân cách của mình để sống trong xã hội như là một thành viên 3.
Tăng nguồn lực đầu tư của Nhà nước để phát triển các lĩnh vực xã hội và
thực hiện các mục tiêu xã hội, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa – coi đây là một biện
pháp rất cơ bản nhằm huy động mọi nguồn lực, trí tuệ của các thành phần kinh tế,
của các tổ chức xã hội, của mọi người.
2.1.1.3 Xã hội hóa công tác khuyến nông

hình đã được thực hiện khá thành công, đạt hiệu quả cao ở nhiều địa phương. Sau đây
là một vài quan niệm về xã hội hoá công tác khuyến nông.
Theo Trần Thanh Lâm; Xã hội hoá công tác khuyến nông là quá trình chuyển
hóa tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới trong hoạt động khuyến
nông trên cơ sở đồng trách nhiệm, nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực xã hội phục vụ cho công tác khuyến nông để đạt mục tiêu phát triển bền vững
(Trần Thanh Lâm, 2003).
Cho đến nay người ta thừa nhận xã hội hóa được hiểu theo 2 nghĩa, đó là xã
hội hóa về mặt xã hội và xã hội hóa về mặt con người. Trong mỗi hoàn cảnh nhất
định, hai ý nghĩa này lại phải đặt trong mối quan hệ biện chứng – tác động lẫn
nhau, bổ khuyết cho nhau. Xã hội hóa một lĩnh vực sản xuất vật chất, cụ thể là
một ngành kinh tế chính là xã hội hóa về mặt xã hội của ngành kinh tế đó. Công
tác khuyến nông được định nghĩa là một ngành kinh tế với các nội dung hoạt động
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8

chính là sản xuất nông nghiệp và một số dịch vụ (Nguyễn Ngọc Đam, 2005).
Với tư cách là một ngành kinh tế, xã hội hóa trong công tác khuyên nông được
hiểu là sự tham gia rộng rãi của các chủ thể trong xã hội như hộ gia đình, cá nhân, cộng
đồng và các tổ chức vào thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp và các dịch vụ,
mang lại lợi ích thiết thực cho các thủ thể tham gia.
Như vậy, khái niệm xã hội hoá công tác khuyến nông biểu hiện ở 3 nội dung
cơ bản sau:
+ Thứ nhất, có sự tham rộng rãi của các chủ thể trong xã hội vào công tác
khuyến nông: Sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các
chủ thể hay các bên liên quan cùng tác động, chia sẻ những sáng kiến phát triển,
cùng ra quyết định và thực hiện. Điểm quan trọng nhất, phản ánh rõ sự tham gia của
các chủ thể trong quá trình xã hội hoá công tác khuyến nông là vai trò của các chủ thể
trong quá trình ra quyết định và thực hiện. Quá trình xã hội hóa công tác khuyến nông
phải đảm bảo, tạo điều kiện cho các chủ thể có cơ hội ngang nhau tham gia vào các

của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và mọi người dân. Chỉ có sự tham
gia tích cực của mọi cấp, mọi ngành, mọi người dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng
và sự quản lý của nhà nước thì công tác khuyến nông mới có hiệu quả và thành công.
Hiệu quả đạt được thể hiện thông qua các mặt về hiệu quả quản lý, hiệu quả kinh tế,
hiệu quả xã hội và hiệu quả về sản xuất nông nghiệp… Riêng về mặt kinh tế thì hiệu
quả chính là việc tiết kiệm các nguồn chi phí cho ngân sách nhà nước trong vấn đề
công tác khuyến nông.
2.1.2 Các nội dung chủ yếu để tăng cường xã hội hoá công tác khuyến nông
2.1.2.1 Công tác Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, hành động của Chính phủ về
hoạt động khuyến nông tới cán bộ địa phương và người nông dân
Các chính sách khuyến nông có tác động rất lớn tới đời sống sản xuất của
người nông dân, việc thực hiện chính sách đó sẽ giúp thực tiễn hóa các vấn đề trong
văn bản chính sách. Qua quá trình xã hội hóa khuyến nông cán bộ khuyến nông sẽ
đánh giá tính phù hợp từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách hợp lý với đặc
thù của địa phương.
Công tác khuyến nông góp phần quan trọng trong ứng dụng KHKT vào sản
xuất, mang lại năng suất, giá trị sản lượng cây trồng vật nuôi ngày một tăng, tạo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

nguồn thu nhập cho nông dân. Xác định tầm quan trọng đó, trong những năm qua
công tác xã hội hoá khuyến nông đã không ngừng nâng cao về chất lượng và số
lượng. Điều này được chứng tỏ bằng việc tổ chức buổi ra mắt CLB khuyến nông.
Lễ ra mắt CLB được tổ chức bài bản có quy chế hoạt động rõ ràng với các
thành viên tự nguyện đăng ký vào CLB. Thông qua hoạt động của CLB bà con biết
thêm kiến thức, kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy sản. Hàng tháng, các
thành viên tổ chức sinh hoạt trao đổi, chia sẻ cho nhau về kiến thức, kinh nghiệm làm
ăn, từng bước hoàn chỉnh và nâng cao kiến thức canh tác, chăn nuôi, nuôi trồng theo
phương pháp tiên tiến, mang tính bền vững… Qua hình thức sinh hoạt CLB, các
thành viên biết chọn cho gia đình mình những mô hình hiệu quả, biết chọn giống tốt,

Bố trí đủ cán bộ có năng lực chuyên môn về khuyến nông trong các cơ quan
quản lý Nhà nước từ phường, xã để đảm nhận tốt công tác khuyến nông trên địa
bàn.
2.1.2.3 Đổi mới truyền thông về xã hội hóa công tác khuyến nông
Thông tin tuyên truyền về khuyến nông, ngoài việc nhằm phổ biến đường lối
chính sách của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp còn thực hiện tuyên truyền những
tiến bộ khoa học kỹ thuật, thông tin giá cả thị trường, phổ biến những mô hình tiên
tiến trong sản xuất, quản lý, kinh doanh, phát triển nông nghiệp đến người nông dân.
Khối thông tin đại chúng có thế mạnh là thông tin nhanh tới số đông nông
dân và có hiệu quả thiết thực, động viên kịp thời, góp phần thúc đẩy nhanh phát
triển nông nghiệp- nông thôn và công tác khuyến nông.
Tuy nhiên trong quá trình hoạt động còn hạn chế vì chưa có đủ kiều kiện về
thời gian và phương tiện để thâm nhập thực tế sản xuất (Lê Hưng Quốc, 2006).
Muốn thay đổi nhận thức của người dân thì cần phát huy tối đa hiệu quả các
phương tiện thông tin đại chúng trong việc nâng cao nhận thức về công tác khuyến
nông của toàn xã hội. Phải khai thác triệt để các lợi thế này theo hướng tổ chức biên
soạn chương trình phát thanh truyền thông để chuyển tải đầy đủ nội dung về công tác
khuyến nông đến người công dân, phổ cập và nâng cao hiểu biết, cung cấp thông tin
về khuyến nông; cổ động liên tục cho các phong trào toàn dân, nêu gương điển hình
trong hoạt động xã hội hóa công tác khuyến nông. Công tác truyền thông phải nhằm
vào các đối tượng là chính quyền địa phương, các thôn, khu phố, cộng đồng dân cư
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp (Trạm khuyến nông thị xã Chí
Linh, 2013).
Thực hiện việc đổi mới và đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục nâng
cao nhận thức về khuyến nông; phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền cơ sở,
các tổ chức chính trị, xã hội và mỗi người dân trong việc tham gia vào xã hội hoá
công tác khuyến nông trên địa bàn thị xã Chí Linh.

Nghiên cứu và xây dựng hoặc đề xuất các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể
phù hợp với điều kiện của thị xã để khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
thị xã đầu tư cho công tác khuyến nông (Trạm khuyến nông thị xã Chí Linh, 2013).
Tổ chức tốt việc thực hiện cơ chế chính sách hỗ trợ vốn, ưu đãi, khuyến
khích về các chế độ, các biện pháp cấp bách đối với công tác khuyến nông cho các
xã, phường cũng như các cơ sở kinh doanh, các doanh nghiệp, các cá nhân trên địa
bàn (Trạm khuyến nông thị xã Chí Linh, 2013).
2.1.2.5 Tổ chức tham quan học tập các mô hình thí điểm về hoạt động
khuyến nông
Tại một số tỉnh thành trong cả nước đã triển khai một số mô hình xã hội hóa
trong công tác khuyến nông và đã đạt được những kết quả nhất định. Công tác để
học tập, trao đổi kinh nghiệm là những cơ sở thực tiễn rất quan trọng làm nền tảng
để triển khai mô hình xã hội hoá công tác khuyến nông trên địa bàn thị xã Chí Linh.
2.1.2.6 Khuyến khích các thành phần tham gia
Xã hội hóa công tác khuyến nông là nơi tập hợp, đoàn kết, động viên nông dân
trong qúa trình thực hiện, triển khai các chương trình khuyến nông, góp phần chuyển
giao mô hình cây, con và đào tạo tập huấn cho nông dân, làm phong phú và đa dạng
các hoạt động khuyến nông (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2002).
Thông qua các chương trình phối hợp hoạt động về khuyến nông đã góp
phần khẳng định một hướng đi đúng trong quá trình đổi mới phương thức hoạt động
của các hội, đoàn thể. Đó là gắn việc vận động với việc hỗ trợ hội viên nông dân
trong phát triển sản xuất, nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, tạo việc làm, tăng thu
nhập, cải thiện đời sống cho các hội viên (Trạm khuyến nông thị xã Chí Linh, 2013).
Hạn chế của khối hội, đoàn thể là lực lượng không đủ, còn yếu, thiếu về
chuyên môn nên thường phải phối hợp lại với các trung tâm khuyến nông tỉnh, các
đơn vị nghiên cứu và đào tạo trong quá trình triển khai các chương trình khuyến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

nông. Nguồn kinh phí cho khuyến nông chủ yếu dựa vào ngân sách khuyến nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status