nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc huyện văn chấn – yên bái - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ VIỆT DŨNG NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC
NGÔ BỀN VỮNG TRÊN ĐẤT DỐC HUYỆN VĂN CHẤN –
YÊN BÁI

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60. 62. 01.10 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM TIẾN DŨNG
TS. NGUYỄN QUANG TIN Hà Nội, 2015


Thịnh, Cát Thịnh, Suối Giàng và bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ
tôi trong cả quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài, hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

Tác giả Lê Việt Dũng Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình, sơ đồ vii

Danh mục từ viết tắt viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1


2.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 32

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

2.3 Nội dung nghiên cứu 32

2.4 Phương pháp nghiên cứu 32

2.4.1 Khảo sát đặc điểm nơi nghiên cứu 32

2.4.2 Sử dụng bảng hỏi để tính toán hiệu quả kinh tế của một số loại hình canh tác
ngô tại địa phương 33

2.4.3 Xác định hiệu quả của các kỹ thuật canh tác đến môi trường. 35

2 4.4 Điều tra sâu nông hộ 36

2.5 Xử lý số liệu 36

CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Đặc điểm tự nhiên, và điều kiện kinh tế xã hội của huyện Văn Chấn –

3.3.1 Đặc điểm các nông hộ áp dụng kỹ thuật canh tác bền vững 67Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.3.2 Vai trò của các tổ chức tham gia đến việc áp dụng các kỹ thuật canh tác bền
vững 72

3.3.3 Xác định các khó khăn của nông dân khi áp dụng các kỹ thuật canh tác trên
đất dốc 76

3.4 Kết quả tổng hợp các yếu tố tác động đến việc áp dụng kỹ thuật canh tác
ngô bền vững tại Văn Chấn – Yên Bái 82

3.5 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng áp dụng của các biện pháp
kỹ thuật đến canh tác ngô bền vững trên đất dốc tại Văn Chấn –Yên Bái 86

3.5.1 Đề xuất kỹ thuật 86

3.5.2 Đề xuất kinh tế - xã hội 86

3.5.3 Đề xuất cơ chế chính sách 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

Kết Luận 89

Kiến nghị 89


sản xuất ngô đất dốc tại huyện Văn Chấn 66
3.13 Điều kiện nhân lực các hộ tham gia và không tham gia thực hiện các
kỹ thuật canh tác bền vững 68
3.14 Diện tích đất canh tác và diện tích canh tác ngô của nông hộ 68
3.15 Khả năng tiếp cận vốn sản xuất của nông hộ tại Văn Chấn 69
3.16 Kết quả xếp hạng các khó khăn cần ưu tiên giải quyết khi áp dụng các
kỹ thuật canh tác bền vững 81
3.17 Mức độ tác động của các yếu tố canh tác ngô bền vững đến việc áp
dụng kỹ thuật canh tác ngô bền vững tại Văn Chấn 83

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ

STT Tên hình Trang

3.1 Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa các tháng trong năm tại Văn Chấn
(giai đoạn 1998 – 2007) 39
3.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Văn Chấn năm 2012 45
3.3 Diễn biến diện tích cây trồng và năng suất ngô huyện Văn Chấn (2005
– 2012) 50
3.4 Nhu cầu lao động của các biện pháp kỹ thuật 64
3.5 Ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác đến năng suất ngô 65
3.6 Các kênh thông tin nông nghiệp mà nông hộ tiếp nhận 71

STT Tên sơ đồ Trang

3.1 Mối liên hệ giữa các tổ chức, thành phần đến việc áp dụng kỹ thuật

BVTV : Bảo vệ thực vật
KHKT–NLN : Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp
TOT : Training of trainer (đào tạo người đào tạo)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Vùng miền núi phía Bắc, trên 80% diện tích đất canh tác là đất dốc. Đất có
độ dốc dưới 15
o
chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất dốc; đa số diện tích này đã
được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp hoặc nông lâm nghiệp. Diện tích đất có độ
dốc từ 15
o
đến 25
o
chiếm khoảng 16%, còn lại là đất có độ dốc trên 25
o
, khoảng
62%. Do thiếu đất sản xuất nên nông dân miền núi vẫn phải canh tác cây lương thực
ngắn ngày trên đất trên dốc hơn 25
o.
. Với độ dốc như vậy, hiện tượng xói mòn rửa
rôi đất rất mạnh, đất nhanh chóng mất khả năng canh tác sau thời gian ngắn.
Miền núi phía Bắc là vùng tập trung sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số ít
người Thái, Tày, Dao, H’Mong… Sinh kế của người dân phụ thuộc hoàn toàn vào
sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là sản xuất các cây lương thực (ngô, lúa nương,

phủ mặt đất bằng lớp phủ thực vật, làm tiểu bậc thang, gieo thẳng (không làm đất
hoặc chỉ làm đất tối thiểu để gieo hạt), trồng xen, trồng gối Các kỹ thuật này đã
được chứng minh có hiệu quả cao trong bảo vệ đất, chống xói mòn và dần làm cho
đất màu mỡ hơn, giúp kiểm soát cỏ dại, giữ độ ẩm trong đất, tăng năng suất cây
trồng, tăng hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người dân.
Tuy nhiên, việc áp dụng các kỹ thuật này trong sản xuất còn rất hạn chế.
Hiện mới chỉ rất ít diện tích đất dốc ở Yên Bái được canh tác ngô áp dụng các kỹ
thuật bền vững. Vậy những nguyên nhân cản trở các nông hộ tiếp nhận các kỹ thuật
đó là gì, và việc giải quyết các vấn đề khó khăn đó như thế nào đang và đang là
hướng nghiên cứu cho sự sự phát triển hiện nay. Nhằm góp phần cải thiện tình hình,
thúc đẩy phát triển bền vững sản xuất nông nghiệp trên đất dốc miền núi phía Bắc
nói chung, tỉnh Yên Bái nói riêng, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài " Nghiên cứu
xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác
ngô bền vững trên đất dốc tại Văn Chấn - Yên Bái " nhằm góp phần xây dựng các
hệ thống canh tác ngô hiệu quả, ổn định và lâu bền hơn
2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục tiêu

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kỹ thuật canh tác
ngô bền vững (che phủ đất, trồng xen cây họ đậu, tiểu bậc thang) vào sản xuất của
các hộ nông dân. Từ đó, làm cơ sở đề xuất giải pháp để hộ nông dân áp dụng kỹ
thuật canh tác mới vào sản xuất ở huyện Văn Chấn – Yên Bái
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng áp dụng kỹ thuật canh tác tác ngô bền vững tại
huyện Văn Chấn – Yên Bái
- Xác định được các yếu tố hạn chế, các yếu tố thúc đẩy áp dụng biện pháp
kỹ thuật vào sản xuất

hữu hạn trong đó con
người đóng vai trò trung tâm, con người quản lý điều khiển các hệ thống nhỏ trong
đó theo những quy luật nhất định, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho hệ thống
nông nghiệp.
Hệ thống nông nghiệp = Hệ sinh thái nông nghiệp + Các yếu tố kinh tế, xã hội.
Theo Đào Thế Tuấn, 1989, HTNN thực chất là sự thống nhất của 2 hệ thống:
(1) Hệ sinh thái nông nghiệp là một bộ phận của hệ sinh thái tự nhiên, bao
gồm các cơ thể sống (cây trồng, vật nuôi) trao đổi năng lượng, vật chất và thông tin
với ngoại cảnh, tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứ cấp (chăn nuôi) của hệ
sinh thái.
(2) Hệ kinh tế - xã hội, chủ yếu là sự hoạt động của con người trong sản xuất
tạo ra của cải vật chất cho toàn xã hội. Trong lịch sử phát triển nông nghiệp trên thế
giới cho thấy quá trình thay đổi cơ bản nhất của HTNN là sự tiến hoá của hộ nông
dân từ tình trạng sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá. Sự thay đổi theo
hướng phát triển đó diễn ra không đồng thời giữa các vùng, các làng, các hộ. Do
vậy, mỗi nơi phải xây dựng những giải pháp riêng cho phù hợp với đặc điểm thực
trạng của hệ thống.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5 * Hệ thống canh tác (Farming systems)
Hệ thống canh tác là sự bố trí một cách thống nhất, ổn định các ngành nghề
trong nông trại được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học,
kinh tế xã hội, phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn, nguồn lực của nông hộ
(Shaner, 1982).
Hệ thống canh tác là sản phẩm của bốn nhóm biến số: Môi trường vật lý, kỹ
thuật sản xuất, chi phối của nguồn tài nguyên và điều kiện kinh tế xã hội. Trong hệ
thống canh tác vai trò của con người đặt ở vị trí trung tâm của hệ thống và quan

- Đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của con người
- San bằng được khoảng cách giữa giàu – nghèo và hoàn cảnh xã hội.
- Bảo tồn được các tài nguyên thiên nhiên.
- Tạo ra những điều kiện tốt giúp con người nhận thức rõ giá trị làm người,
hiểu rõ được những vấn đề chung của nhân loại và những gì ưu tiên phải thực hiện
trước và giúp con người đạt được quyền tự do trong cộng đồng.
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp
* Tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp
Tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp là những kỹ thuật được khẳng định là
phù hợp và khả thi về sinh thái, kinh tế - xã hội trên đồng ruộng của nông dân, góp
phần nâng cao hơn hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp, tạo điều kiện
phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường cho nông nghiệp và nông thôn.
“tiến bộ” ở đây thể hiện sự “tốt hơn” và “mới hơn” so với kỹ thuật hiện có (Đỗ Kim
Chung, 2005).
TBKT là những kỹ thuật mới hiện chưa có ở địa phương và là một yếu tố
động theo thời gian và không gian. Yếu tố động theo không gian được hiểu là một
TBKT chỉ phù hợp với một không gian nhất định, khái niệm không gian ở đây có
thể thu hẹp trong phạm vi một hệ sinh thái nông nghiệp và cũng có thể rộng trong
phạm vi một vùng. Còn khái niệm về yếu tố động theo thời gian thì một TBKT có
thể phù hợp với nền nông nghiệp tự cung tự cấp và không phù hợp nền nông nghiệp
hàng hóa (Đào Thế Tuấn, 2000).
Việc áp dụng TBKT là quá trình đưa các TBKT đã được khẳng định là đúng
đắn trong thực tiễn vào áp dụng trên diện rộng để đáp ứng nhu cầu của sản xuất và

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

đời sống của con người. Theo Phạm Chí Thành và cs (1993), hệ thống canh tác tiến
bộ và bền vững được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa các yếu tố bên ngoài (điều
kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội) và nhóm các yếu tố bên trong của nông hộ

nghiệp của hộ nông dân.
b) Quỹ đất
Đất đai luôn là vấn đề sống còn của bất kỳ một nông hộ nào dù là lớn hay
nhỏ. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, là nguồn lợi tự
nhiên cung cấp năng lượng và vật chất cho cây trồng. Đất đai và khí hậu hợp thành
phức hệ tác động vào cây trồng do vậy cần phải nắm được đặc điểm mối quan hệ
giữa cây trồng với đất thì mới xác định được cây trồng hợp lý.
c) Thị trường
Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến TBKT. Theo cơ chế thị trường thì
người nông dân cần điều chỉnh quy mô sản xuất, cải tiến kỹ thuật, thay đổi giống
cây trồng, vật nuôi để đạt hiệu quả cao đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
d) Thu nhập
Thu nhập của hộ nông dân được hình thành từ các nguồn chính là từ hoạt
động sản xuất nông nghiệp và từ các hoạt động phi nông nghiệp. Chuyển dịch hệ
thống canh tác có ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của hộ nông dân do kết quả của
chuyển dịch hệ thống canh tác không chỉ làm thay đổi về khối lượng hàng nông sản
làm ra mà còn làm thay đổi cả cơ cấu sản phẩm. Việc thay đổi về số lượng và cơ
cấu nông sản phẩm làm ra dẫn đến thay đổi giá trị tổng sản phẩm sản xuất nông
nghiệp. Hơn nữa, việc thay đổi trong bố trí nguồn lực đầu vào của sản xuất cũng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

làm thay đổi chi phí sản xuất so với các hệ thống canh tác khác nhau không chỉ đối
với sản xuất nông nghiệp mà còn đối với cả các hoạt động phi nông nghiệp khác.
Kết quả tất yếu của quá trình này dẫn đến thay đổi thu nhập của hộ. Ảnh hưởng của
áp dụng TBKT trong sản xuất nông nghiệp tới thu nhập của hộ nông dân được thể
hiện trên hai khía cạnh: ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực.
- Ảnh hưởng tích cực: Kết quả tổng hợp của quá trình chuyển dịch hệ thống
canh tác làm tăng thu nhập cho hộ nông dân so với thu nhập có được ở hệ thống

lượng sản xuất, chất lượng lao động, thị trường và chính sách kinh tế vĩ mô của nhà
nước, vv Tất cả những nhân tố đó tác động đến sự lựa chọn và phát triển hệ thống
canh tác. Trong tất cả các nhân tố kinh tế - kỹ thuật, nhân tố thị trường là nhân tố
bao trùm nhất. Bởi vì, theo kinh tế học hiện đại chỉ có thị trường mới cho người sản
xuất biết được nên sản xuất cái gì, cây gì, con gì, cho đối tượng nào để có được thu
nhập cao.
Như vậy, nhóm những yếu tố bên trong, trong đó nguồn nhân lực - yếu tố
đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của hộ và là điều kiện tiền đề tạo ra những
bước phát triển mang tính đột phá nhằm phát triển kinh tế của hộ. Còn nhóm các
yếu tố bên ngoài chủ yếu là vai trò của Chính phủ, trong việc thiết lập môi trường
(pháp lý, kinh tế, văn hóa - xã hội) công bằng, dân chủ, hiệu quả và minh bạch để
phát huy khả năng sáng tạo của các chủ thể, các hộ. Đồng thời tạo dựng hạ tầng
kinh tế - kỹ thuật, nhất là hệ thống giao thông, hệ thống điện và thông tin liên lạc.
Đây là các yếu tố không thể thiếu để mở rộng và áp dụng TBKT trong sản xuất
nông nghiệp của hộ nông dân
1.1.3. Các giải pháp canh tác bền vững trên đất dốc
Kiến thiết ruộng bậc thang với bờ đất hoặc bờ đá (nếu có đủ nước thì trồng
lúa có tưới, thiếu nước thì trồng lúa cạn và hoa màu). Đây là một cách làm rất hiệu
quả và bền vững cần được khuyến khích. Tuy nhiên sẽ cần nhiều thời gian để làm
đủ diện tích bậc thang cần để sản xuất đủ lương thực, hơn nữa những nơi chỉ toàn
đất dốc cao thì sẽ rât khó làm và bảo vệ bậc thang, vì vậy cần áp dụng các biện pháp
mới trong canh tác.
Canh tác theo đường đồng mức: Đây cũng là cách làm hay song chưa đủ hiệu
quả trong ngăn chặn xói mòn và thoái hoá đất
Xếp tường đá, làm hàng rào bảo vệ đồng ruộng, đào hào dẫn nước tránh khỏi

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

khu vực canh tác để chống xói mòn. Đây là một biện pháp cổ truyền nên học tập,

Page 12

hoà nhiệt độ bề mặt đất; Tăng độ ổn định các cấu trúc bền mặt đất, chống kết vón
đất và đóng váng bề mặt đất; Giảm cỏ dại, tăng hiệu quả phân bón. Giảm đầu tư:
giảm công làm đất, làm cỏ, phân bón; Tăng hàm lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng
cho đất, giảm độc tố trong đất; Tạo điều kiện tốt cho hạt nảy mầm tốt, bộ rễ phát
triển khoẻ, cây sinh trưởng tốt. Kết quả là làm tăng và ổn định năng suất, chất lượng
cây trồng một cách bền vững
Lợi ích về bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên: Hạn chế du canh, cải
thiện nguồn tài nguyên đất, nước và rừng; Chống lắng đọng các lòng sông hồ, đặc
biệt là hồ thuỷ điện; Giảm lũ lụt ở miền xuôi; Giảm ô nhiễm hoá học ở các vùng lân
cận. Giảm hiệu ứng nhà kính thông qua việc giảm lượng khí CO
2
thải vào không khí
do đốt phá rừng, tàn dư thực vật và khói từ các nhà máy sản xuất phân bón và thuốc
hoá học. Tiết kiệm nguồn năng lượng sử dụng cho các nhà máy sản xuất phân bón
và thuốc hoá học và vận hành các loại máy làm đất.
Lợi ích về xã hội: Phụ nữ được giải phóng khỏi những công việc nặng nhọc
và tốn nhiều thời gian như làm cỏ và làm đất. Họ sẽ có nhiều thời gian chăm sóc
sức khoẻ gia đình, nuôi dạy con cái và phát triển nghề phụ; Trẻ em sẽ có nhiều thời
gian học hành, nâng cao kiến thức; Do đất và nước ít bị hoặc không bị ô nhiễm, vấn
đề bệnh tật sẽ giảm, sức khoẻ cộng đồng sẽ được cải thiện; Do hiệu quả kinh tế cao
nên xã hội sẽ phát triển nhanh và bền vững hơn.
Như vậy, khi áp dụng tốt biện pháp che phủ đất, chúng ta có thể đáp ứng
được hầu hết các nhu cầu canh tác đất dốc bền vững góp phần xoá đói giảm nghèo
cho nông dân miền núi và bảo vệ tài nguyên môi trường.
+ Không làm đất hoặc làm đất tối thiểu: Đối với đất dốc, nếu làm đất càng
kỹ mà không che phủ thì xói mòn sẽ xảy ra rất mạnh và nhanh. Có thể làm cho đất
trở nên tơi xốp mà không cần phải cày bừa đất bằng các biện pháp cơ giới. đó là áp
dụng các biện pháp thay thế nhờ hoạt động của sinh vật đất và bộ rễ khoẻ của một

đến sản xuất nông lâm nghiệp. Chúng ta sẽ có những sản phẩm sạch để đảm bảo sức
khoẻ mà không cần đầu tư cao, không phụ thuộc vào nguồn phân vô cơ. Gánh nặng
của người lao động sẽ được tháo gỡ vì không phải đi cắt cỏ chăn nuôi, không mất
nhiều công làm cỏ và làm đất. Sẽ có nhiều hơn các cơ hội để phát triển các ngành
nghề truyền thống và khôi phục các giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số. Tài nguyên
thiên nhiên sẽ được sử dụng hợp lý và môi trường được bảo vệ. Với cảnh quan đẹp,

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

chúng ta có thể mở mang du lịch sinh thái, tăng thu nhập góp phần xoá đói giảm
nghèo và tiến tớí làm giàu một cách bền vững.
1.2. Mốt số đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất ngô trên đất dốc

Cây ngô có nguồn gốc từ Mêxicô, trải qua 700 năm tiến hoá và phát triển qua
quá trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo. Cây ngô có sự đa dạng di truyền và khả
năng thích ứng ở nhiều vùng, nhiều khu vực khác nhau. Ngô có tên khoa học là
Zeamays.L do nhà thực vật học Thụy Điển Linnaeus đặt theo tên kép Hy Lạp –
Latinh: Zea – từ Hy Lạp để chỉ cây ngũ cốc và Mays là từ ‘‘Maihs’’ tên gọi cây ngô
của người bản địa da đỏ (Đinh Thế Lộc và cs, 1997). Hiện nay, trong nền sản xuất
nông nghiệp thì cây ngô được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới.
1.2.1 Đặc điểm kinh tế của cây ngô
Cây ngô là cây lương thực có giá trị. Trong ngô có nhiều chất dinh dưỡng
với hàm lượng cao. Những bộ phận chính của hạt ngô có thành phần hoá học khác
nhau: vỏ hạt có có lượng chất xơ thô cao 87%, phôi nhũ chứa hàm lượng tinh bột
khoảng 87.6%, prôtít 26% và phôi có hàm lượng dầu cao thô cao, trung bình
khoảng 33%. Lượng tinh bột và prôtít của hạt ngô có chủ yếu trong phôi còn chất
xơ thô trong hạt phân bố chủ yếu ở vỏ hạt. Sự phân bố trọng lượng trong các bộ
phận của hạt ngô, thành phần hoá học đặc biệt của chúng và giá trị dinh dưỡng là rất
quan trọng trongviệc chế biến ngô. Do đó, ngô là nguồn lương thực quan trọng, đặc

diện tích tăng từ 432.000 ha lên 990.000 ha trong cùng thời kỳ, chủ yếu ở khu vực
vùng núi. Sự tăng nhanh chóng này là nhờ việc tăng sử dụng các giống ngô lai, sử
dụng phân hoá học và các chính sách hỗ trợ phát triển nông thôn miền núi của chính
phủ Việt Nam. Năng suất trung bình tăng từ 1,5 lên 3,5 tấn/ha. Chính sự thay đổi
này đã làm tác động mạnh mẽ vào thu nhập và nguồn lao động của nhiều nông dân
ở khu vực nông thôn Việt Nam. Hiện nay, sinh kế của nhiều nông dân miền núi khu
vực Tây Bắc chủ yếu dựa vào sản xuất ngô phục vụ cho chăn nuôi và nghành công
nghiệp thức ăn chăn nuôi, chiếm đến 70 % tổng nguồn thu nhập của các nông hộ
(Oleg Nicetic và cs, 2011)
Nhiệt độ là yếu tố khí tượng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng
và phát triển của cây ngô. Cây ngô là cây trồng khí hậu ấm, nhiệt độ yêu cầu từ khi
trồng đến khi phun râu, suốt thời kỳ nảy mầm thích hợp vào khoảng 18,3
0
C. Nếu
nhiệt độ quá thấp (dưới 12
0
C) dẫn đến giảm năng suất.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16

Bên cạnh nhiệt độ thì chế độ ánh sáng cũng là yếu tố quan trọng quyết định
đến năng suất và thời gian sinh trưởng của cây ngô. Vào thời kỳ mọc đến khi hình
thành bắp cây ngô cần ánh sáng dài ngày để tiến hành quang hợp và tích luỹ dinh
dưỡng, đồng thời để trỗ cờ và đóng bắp. Trong các giai đoạn sinh trưởng và phát
triển của cây ngô thì yêu cầu về nhiệt độ, ánh sáng, lượng nước, chế độ không khí,
dinh dưỡng và quá trình chăm sóc cũng khác nhau.
Ngô là cây trồng cạn, bộ rễ phát triển rất mạnh nên có khả năng hút nước
khoẻ hơn nhiều cây khác. Tuy nhiên, cây ngô sinh trưởng nhanh và tạo ra một
lượng sinh khối lớn nên ngô cần một lượng nước lớn. Một ha ngô cần khoảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status