BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ LỊCH
NGHIÊN CỨU NẤM FUSARIUM SPP. TRÊN HẠT
GIỐNG LÚA NHẬP KHẨU NĂM 2014
CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ: 60.62.01.12 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGÔ BÍCH HẢO
HÀ NỘI – 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
Vì thời gian và điều kiện có hạn nên luận văn tốt nghiệp của em không tránh
khỏi những thiếu sót. Em xin chân thành mong quý thầy cô cùng toàn thể các bạn góp
ý và xây dựng để luận văn của em được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2015
Học viên Nguyễn Thị Lịch
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích và yêu cầu 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 4
1.1.1 Những nghiên cứu về bệnh nấm trên hạt giống lúa 4
1.1.2 Những nghiên cứu về nấm Fusarium spp. trên hạt giống lúa 7
1.1.3 Những nghiên cứu về phòng trừ bệnh nấm trên hạt giống lúa 11
1.2 Nghiên cứu trong nước 14
giống lúa nhập khẩu 31
3.3 Đặc điểm hình thái học, sinh học của một số loài nấm trên giống lúa
nhập khẩu năm 2014. 34
3.3.1 Đặc điểm hình thái học của một số loài nấm trên hạt giống lúa nhập
khẩu năm 2014 34
3.3.2 Đặc điểm hình thái học của một số loài nấm Fusarium spp. giám
định trên giống lúa nhập khẩu năm 2014 37
3.3.3 Kết quả lây bệnh nhân tạo nấm F. proliferatum và F. napiforme
phân lập từ thóc giống nhập khẩu 40
3.3.4 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến khả năng sinh trưởng của 2
loài nấm F. proliferatum và F. napiforme phân lập từ hạt giống lúa
nhập khẩu 42
3.4 Đặc điểm sinh thái học của 2 loài nấm F. proliferatum và
F. napiforme phân lập trên hạt giống lúa nhập khẩu 44
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.4.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ tới khả năng sinh trưởng của 2 loài nấm F.
proliferatum và F. napiforme phân lập trên hạt giống lúa nhập khẩu 44
3.4.2 Ảnh hưởng của pH tới khả năng sinh trưởng của 2 loài nấm
F. proliferatum và F. napiforme phân lập trên hạt giống lúa nhập khẩu 48
3.5 Hiệu lực phòng trừ nấm bệnh trên hạt giống lúa của biện pháp xử lý
hạt giống bằng thuốc hóa học và biện pháp vật lý 50
3.5.1 Hiệu lực phòng trừ của một số thuốc hóa học đối với nấm bệnh trên
hạt giống lúa 50
3.5.2 Hiệu lực phòng trừ của một số biện pháp xử lý hạt giống đối với nấm
bệnh trên hạt giống lúa 52
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55
1 Kết luận 55
2 Đề nghị 56
khẩu trước gieo trồng năm 2014 28
3.2 Thành phần và mức độ nhiễm nấm trên một số giống lúa nhập khẩu
gieo trồng trong khu cách ly kiểm dịch thực vật 30
3.3 Ảnh hưởng của nấm Fusarium spp. đến khả năng nảy mầm của giống
lúa Nhị ưu 63 31
3.4 Ảnh hưởng của nấm Fusarium spp. đến khả năng nảy mầm của giống
lúa Xuyên Hương 506 33
3.5 Đặc điểm hình thái học của một số loài nấm trên hạt giống lúa nhập khẩu 34
3.6 Đặc điểm hình thái của một số loài nấm Fusarium spp. giám định trên
hạt giống lúa nhập khẩu năm 2014 37
3.7 Thời gian tiềm dục và biểu hiện triệu chứng của nấm Fusarium
proliferatum và F. napiforme trên cây lúa 40
3.8 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến khả năng sinh trưởng của
nấm F. proliferatum phân lập từ hạt giống lúa nhập khẩu 42
3.9 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến khả năng sinh trưởng của
nấm F. napiforme phân lập từ hạt giống lúa nhập khẩu 43
3.10 Ảnh hưởng của nhiệt độ tới khả năng sinh trưởng của nấm Fusarium
proliferatum phân lập từ hạt giống lúa nhập khẩu 45
3.11 Ảnh hưởng của nhiệt độ tới khả năng sinh trưởng của nấm Fusarium
napiforme phân lập từ hạt giống lúa nhập khẩu 46
3.9 Nấm Rhizopus sp. trên hạt, BTPS và cành BTPS 36
3.10 Hình thái nấm Fusarium proliferatum 38
3.11 Hình thái nấm Fusarium napiforme 39
3.12 Hình thái nấm Fusarium semitectum 39
3.13 Triệu chứng cây lúa nhiễm nấm F. proliferatum và F. napiforme 41
3.14 Tản nấm F. proliferatum phát triển trên các môi trường nuôi cấy 44
3.15 Tản nấm F. napiforme phát triển trên các môi trường nuôi cấy 44
3.16 Hình ảnh tản nấm F. proliferatum ở các mức nhiệt độ nuôi cấy 47
3.17 Hình ảnh tản nấm F. napiforme ở các mức nhiệt độ nuôi cấy 47
3.18 Hình ảnh tản nấm F. proliferatum ở các mức pH nuôi cấy 50
3.19 Hình ảnh tản nấm Fusarium napiforme ở các mức pH nuôi cấy 50
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong năm loại cây lương thực chính của thế
giới cùng với ngô (Zea may L.), lúa mì (Triticum sp.), sắn (Manihot esculenta
Crantz) và khoai tây (Solanum tuberosum L.). Theo quan niệm xưa lúa là một trong
sáu loại lương thực chủ yếu trong lục cốc. Lúa gạo là thực phẩm chính của hơn nửa
dân số thế giới và cung cấp hơn 20% tổng năng lượng hấp thụ hàng ngày của nhân
loại. Gạo là loại thực phẩm carbohydrate hỗn hợp, chứa tinh bột (80%), một thành
phần chủ yếu cung cấp nhiều năng lượng, protein (7,5%), nước (12%), vitamin và
các chất khoáng (0,5%) cần thiết cho cơ thể.
Việt Nam có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay, từ một nước
thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng hiện nay nền nông
nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu
cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới. Lúa gạo
chất của nông sản khi được gieo trồng. Thậm chí một số bệnh còn có khả năng bùng
phát thành dịch lớn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất như: đạo ôn, lúa von, khô
vằn, mốc sương, …
Trước đây việc phòng trừ các loài bệnh hại thường chỉ được chú trọng trong
các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lúa ở ngoài đồng ruộng. Nhưng có rất
nhiều nguy cơ dịch hại tồn tại ở trên hạt giống lúa, đặc biệt là các loài nấm gây hại
từ khi bảo quản trong kho đến khi gieo hạt và trở thành nguồn bệnh lan truyền ngoài
đồng ruộng. Chính vì vậy, nghiên cứu bệnh hại hạt giống, kiểm tra nguồn bệnh
ngay trên hạt là cần thiết và là cơ sở cho việc đưa ra biện pháp xử lý hạt, ngăn chặn
bệnh lan truyền theo hạt giống nhập khẩu vào nước ta gây hại cho sản xuất.
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự phân công của Khoa Nông học – Học
viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Ngô Bích Hảo, chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu nấm Fusarium
spp. trên hạt giống lúa nhập khẩu năm 2014”.
2. Mục đích và yêu cầu
2.1. Mục đích
Nghiên cứu nấm Fusarium spp. trên hạt giống lúa nhập khẩu năm 2014 và
thử nghiệm biện pháp xử lý hạt giống phòng trừ bệnh.
2.2. Yêu cầu
- Xác định thành phần và mức độ nhiễm nấm bệnh trên các giống lúa nhập
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
khẩu trước và sau gieo trồng tại Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu I.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, môi trường nuôi cấy và pH đến sự sinh
trưởng phát triển của nấm Fusarium proliferatum và F. napiforme.
- Thử nghiệm một số biện pháp vật lý và hoá học xử lý hạt giống phòng trừ bệnh.
Pakistan. Kết quả đã xác đinh được trong 97 mẫu hạt giống lúa thu thập ở 5 địa điểm
(Lahore, Sahiwal, DI Khan, Hyderabad, Sukkur) có 15 bệnh hại hạt giống được phát
hiện. Trong đó nấm Bipolaris oryzae, Pyricularia oryzae, Fusarium moniliforme,
Trichoconis padwickii, Rhizoctonia solani và Microdochium oryzae được báo cáo là
nguyên nhân gây bệnh trên lúa ở Pakistan.
Ibiam et al (2008) đã tiến hành điều tra bệnh nấm hại hạt trên 3 giống lúa là
Faro 12, 15 và 29 cả ở trong kho bảo quản và ngoài đồng ruộng trong 3 năm. Kết
quả điều tra đã phát hiện được các loài nấm Fusarium moniliforme, F. oxysporum,
Bipolaris oryzae, Chaetomium globosum, Curvularia lunata, Aspergillus niger, A.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
flavus, A. terreus, A. tenuis và Penicillium sp. trên hạt của 3 giống lúa này ở trong
kho bảo quản, trong khi đó phân lập được các loại nấm Fusarium moniliforme, F.
oxysporum, Bipolaris oryzae, Chaetomium globosum, Curvularia lunata và
Trichoderma harzianum từ những mẫu hạt thóc thu ngoài đồng ruộng. Trong các
loại nấm phân lập được thì nấm F. moniliforme có mức độ phổ biến hơn so với các
loài nấm còn lại.
Gopalakrishnan et al (2010) đã tiến hành điều tra thành phần nấm hại hạt
giống lúa từ 287 mẫu hạt lúa của 20 giống khác nhau ở bang Tamil Nadu, Ấn Độ. Kết
quả cho thấy có tất cả 12 loài nấm tồn tại trên hạt: Alternaria padwickii, A. tenuis,
Aspergillus flavus, A. niger, Bipolaris oryzae, Chaetomium globosum, Curvularia spp,
Fusarium moniliforme, F. semitectum, F. solani, Sarocladium oryzae và Trichoderma
spp Trong đó, nấm Bipolaris oryzae và nấm Alternaria padwickii là hai loài nấm gây
hại phổ biến nhất trên hạt thóc.
Theo nghiên cứu của tác giả Mohana et al (2011) về thành phần nấm hại hạt
giống lúa tại miền Nam Ấn Độ đã cho thấy trong tổng số 40 mẫu hạt giống thu thập
trên đồng ruộng tại hai Bang Karnataka và Tamil Nadu, đã xác định được 23 loài
nấm khác nhau thuộc 16 giống. Trong đó loài Drechslera oryzae xuất hiện phổ biến
nhất với tỷ lệ xuất hiện rất cao lên đến 82,5%, tiếp theo là loài Curvularia lunata
chlamydosporum, F. moniliforme, F. oxysporum, Helminthosporium oryzae, Mucor
hiemadis, Penicillium citrinum, P. oxalicum, Phoma sp., Rhizopus nigricans, R. oryzae,
Trichiderma viridae. Thí nghiệm về tỷ lệ nẩy mầm của hạt lúa và sức sống của cây
mạ được tiến hành sử dụng phương pháp lây nhiễm vào hạt giống, lây nhiễm vào
đất và lây nhiễm vào nước rồi ngâm hạt giống lúa. Kết quả thí nghiệm cho thấy,
trong phương pháp lây nhiễm bằng cách ủ hạt giống, các loại nấm Fusarium spp.
được xác định là tác nhân chính làm giảm khả năng nẩy mầm của hạt giống lúa và
sức sống của cây mạ. Trong khi đó ở thí nghiệm lây nhiễm vào đất, các loài nấm
thuộc giống Rhizopus spp. và Fusarium spp. là những tác nhân gây hại chính và
Aspergillus spp. gây hại chủ yêu trong thí nghiệm lây nhiễm vào nước.
Các tác giả Archana and Prakash (2013) đã điều tra thành phần của nấm
truyền qua hạt thóc tại Ấn Độ. Tổng cộng 69 mẫu giống lúa đã thu được từ các
tiểu bang khác nhau của Ấn Độ và được sử dụng để kiểm tra tình trạng xuất hiện
của các loài nấm gây hại. Kết quả đã phát hiện được 16 chi nấm như
Acermonium, Alternaria, Aspergillus, , trong đó bao gồm 27 loài đã được phát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
hiện gây hại trên các mẫu giống lúa thu thập. Trong số đó, nấm Bipolaris oryzae
là phổ biến nhất với tỷ lệ hạt nhiễm lên đến 82,08%, tiếp theo Aspergillus spp.
(63,36%). Nấm có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là Bipolaris halodes và Acremonium
spp. với tỷ lệ là 4,32%.
1.1.2. Những nghiên cứu về nấm Fusarium spp. trên hạt giống lúa
Fusarium proliferatum thuộc:
Giới: Nấm thật
Ngành: Ascomycota
Lớp: Sordariomycetes
Phân lớp: Hypocreomycetidae
Bộ: Hypocreales
Họ: Nectriaceae
0
C. Trên môi trường PDA: F. proliferatum
có hình thái tản nấm tương tự như loài Fusarium moniliforme. Sợi nấm ban đầu có
mầu trắng có thể trở thành màu tím xám hoặc màu đỏ tươi xám khi sợi nấm già.
Khối sinh bào tử lớn thường không xuất hiện, nhưng nếu có thì có màu cam nhạt.
Hạch nấm màu đen phát triển ở một số isolate. Sắc tố trong môi trường thạch là khá
biến, từ không có sắc tố đến màu da cam hoặc màu xám ở một số isolate sang tím
xám, tím sẫm hoặc màu đỏ tươi đậm (gần như đen) ở những isolate khác.
Đặc điểm phân loại nấm khi nuôi cấy trên môi trường CLA: Bào tử lớn được
sinh ra trong khối bào tử màu cam nhạt mà có thể bị che khuất bởi các sợi nấm và
các chuỗi bào tử nhỏ. Tuy nhiên, nhiều chủng hình thành rất ít hoặc không có khối
bào tử và khả năng để tạo thành khối bào tử giảm hoặc mất sau cấy truyền lặp đi lặp
lại. Các bào tử lớn có hình thái dài, thanh mảnh, giống hình lưỡi liềm để gần như
thẳng, thường là 3-5 vách ngăn và vách mỏng. Các bào tử lớn được sản xuất từ cành
bào tử phân sinh đơn (monophialides) trong khối bào tử và hiếm khi từ
monophialides trên sợi nấm. Bào tử nhỏ được hình thành nhiều trong các chuỗi từ
cành bào tử phân sinh đa (polyphialides) mà có thể sinh sôi nảy nở, ít thường xuyên
hơn từ monophialides. Bào tử nhỏ cũng hình thành trong đầu giả, các bào tử nhỏ
chùy, thường là 1-2 tế bào. Một vài bào tử nhỏ hình quả lê có mặt trong một số
isolate. Chuỗi bào tử nhỏ thường ngắn hơn so với những chuỗi bào tử của F.
moniliforme và thường được hình thành từ polyphialides với một đặc tính hình chữ
"V" khi nhìn ở vật kính x10 hoặc x20 tiêu cự của kính hiển vi. Bào tử hậu không
xu
ất hiện
. Một số tế bào bị sưng có thể phát triển trong các sợi nấm của loài này, bề
ngoài nhìn như bào tử hậu.
Karthikeyan et al (2009) đã ứng dụng kỹ thuật phân tử để xác định loài
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
một số loài trong phức hợp Gibberella fujikuroi, đáng chú ý nhất là Fusarium
dlaminiand và Fusarium nygamai, cả hai cũng có thể sinh bào tử hậu. Tuy nhiên F.
napiforme có thể dễ dàng phân biệt với F. dlaminisince bởi đặc điểm F. napiforme
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
hình thành bào tử nhỏ trong chuỗi còn F. dlaminidoes thì không. F. napiforme hình
thành bào tử hình củ cải và quả chanh yên từ cành bào tử phân sinh đơn còn F.
nygamai hình thành 2 loại bào tử trên từ cành phân sinh đa, đây là cơ sở để phân
biệt hình thái 2 loài.
Trên môi trường CLA: bào tử lớn của F. napiforme dài vừa phải, giống hình
cái liềm để thẳng, trong suốt, vách mỏng. Có 3 loại bào tử được hình thành từ các
sợi nấm: bào tử nhỏ dạng trứng ngược trong các chuỗi và đầu giả được hình thành
từ cành bào tử phân sinh đơn (monophialides). Bào tử nhỏ hình củ cải được sinh ra
trong các đầu giả. Bào tử hình thoi được hình thành thưa thớt và đơn lẻ. Bào tử hậu
hình thành chậm. Trên môi trường PDA: bào tử lớn được sinh ra trong khối bào tử
màu da cam, bào tử dài vừa phải, trong suốt, chủ yếu có 5 vách ngăn. Bào tử nhỏ
trong suốt, có 0-1 vách ngăn, hình trứng ngược, hình củ cải đường, hình quả chanh
yên. Bào tử được hình thành từ cành bào tử phân sinh đơn. (John and Brett, 2006).
Zainudin et al (2008) đã nghiên cứu bệnh lúa von trên lúa tại Malaysia và
Indonesia: nguyên nhân của các tác nhân dựa trên các đặc điểm hình thái, sinh lý và
khả năng gây bệnh lúa von trên lúa đã được ghi lại gần như ở tất cả các nước nơi lúa
được trồng thương mại, đặc biệt là ở các nước châu Á, trong đó có Malaysia và
Indonesia. Bệnh lúa von đã lan rộng trong bán đảo Malaysia và ba tỉnh của
Indonesia với phạm vi mức độ nghiêm trọng của bệnh từ quy mô 1-5 và tỷ lệ mắc
bệnh 0,5-12,5% trong năm 2004-2005. Tổng cộng có 5 loài Fusarium là Fusarium
fujikuroi, F. proliferatum, F. sacchari, F. subglutinans và F. verticillioides được
phân lập và xác định dựa trên cơ sở các đặc điểm hình thái của chúng. Các dữ liệu
khoa học cho thấy bệnh lúa von trên lúa là do nấm F. fujikuroi và có thể một số loài
Fusarium khác. Kết quả lây bệnh nhân tạo cho thấy nấm F. fujikuroi có độc tính cao
0
C đường kính tản nấm là 81mm, ở nhiệt độ phòng và
trong tủ lạnh nấm vẫn có thể tồn tại.
1.1.3. Những nghiên cứu về phòng trừ bệnh nấm trên hạt giống lúa
Theo nghiên cứu của 02 tác giả Liao and Luo (1994) tiến hành khảo nghiệm
hiệu lực phòng trừ nấm trên hạt giống của các loại thuốc: Metalaxy + DT,
Zhongjunlmg, Pukela và Miejunwei cho giống lúa Weihualian 2. Kết quả cho
thấy, trong 6 loại nấm là Alternaria padwickii, Curvularia sp., Tilletia
barclayana, Fusarium spp., Aspergillus spp., Cladosporium spp., thuốc
Zhongjunlmg cho hiệu quả phòng trừ nấm cao nhất, đặc biệt là loài nấm
Alternaria padwickii hiệu lực phòng trừ lên đến 100%. Tiếp theo là thuốc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Miejunwei, cho hiệu lực phòng trừ các loại nấm dao động từ 25,89 % đến
79,81%. Những loại thuốc còn lại hiệu quả kém trong việc phòng trừ nấm trên
hạt giống.
Hai tác giả Huỳnh Văn Nghiệp and Gaur (2005) đã nghiên cứu hiệu quả của
biện pháp xử lý hạt giống trong việc nâng cao chất lượng hạt thóc. Kết quả thí
nghiệm tại Viện nghiên cứu lúa Đồng bằng song Cửu Long đã chỉ ra rằng hầu hết
các loài nấm gây hại trên hạt lúa như Bipolaris oryzae, Alternaria padwickii,
Curvularia lunata và một số loài nấm hại khác đều bị loại trừ khi xử lý hạt giống
bằng 03 loại thuốc hóa học là Vitavax, Thiram và Mancozeb. Trong khi đó thuốc
Bavistin chỉ tương đối có hiệu quả khi phòng trừ nấm Alternaria padwickii và
Curvularia lunata. Ngoài ra, xử lý thuốc Vitavax, Thiram và Mancozeb giúp duy trì
tỷ lệ nẩy mầm ở hạt giống lúa sau 06 tháng bảo quản đều là trên 80%.
Theo nghiên cứu của tác giả Butt et al (2011), bốn loại thuốc hóa học trừ
nấm là Antracol, Topsin, Mancozeb và Derosal được sử dụng để thử nghiệm hiệu
quả phòng trừ của chúng đối với những loài nấm truyền qua hạt giống trên lúa. Kết
quả thí nghiệm cho thấy việc sử lý hạt giống bằng thuốc hóa học không đem lại hiệu
Alternaria padwickii và Rhizopus oryzae. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cần phải
có những biện pháp bảo quản hạt lúa hợp lý để làm giảm thiểu sự nhiễm các loại
nấm gây bệnh trên hạt giống và các độc tố (mycotoxin) do nấm sản sinh ra.
Theo nghiên cứu của Bhuiyan et al (2013) về biện pháp quản lý thân thiện
với môi trường đối với nấm hại hạt giống giúp cho sản xuất nông nghiệp bền vững
đã đưa ra kết quả: thành phần nấm hại trên 40 mẫu hạt giống lúa (Oryzae sativa)
thu thập tại huyện Narshingdi (Banglades) bao gồm 07 loài là: Bipolaris oryzae,
Alternaria padwickii, Sarocladium oryzae, Curvularia lunata, Aspergillus niger
và Fusarium spp. Các mẫu hạt thu thập có triệu chứng rất khác nhau như: hạt khỏe
bình thường, hạt xuất hiện đốm ở vỏ hạt, hạt bị mất mầu, hạt bị biến dạng… Tỷ lệ
nhiễm nấm và tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống lúa thay đổi đáng kể và phụ thuộc vào
giống lúa và địa điểm thu mẫu. Thí nghiệm xử lý hạt giống bằng thuốc hóa học và
dịch chiết thực vật nhằm phòng trừ các loại nấm hại hạt và tăng khả năng nẩy
mầm của hạt giống đã được thử nghiệm. Dịch chiết tỏi ở nồng độ hòa loãng 1:1 có
tác dụng phòng trừ nấm trên hạt tốt nhất với hiệu lực phòng trừ lên đến 80,3% và
đồng thời cũng là tăng tỷ lệ nẩy mầm của hạt lên 10,69% so với đối chứng. Dịch
chết cây soan Ấn Độ, cây hoa huỳnh anh, và cây ngể đông cũng có tác dụng làm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
tăng tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống lần lượt là 8,99%; 7,10% và 5,84%. Xử lý hạt
giống với thuốc trừ nấm Vitavax-200 với nồng độ 0,3% giúp loại trừ hết tất cả các
loại nấm trên hạt (hiệu lực phòng trừ là 100%) và tăng tỷ lệ nẩy mầm lên 25,70%
so với đối chứng. Một loại thuốc trừ nấm khác là Bavistin 50 WP cũng cho hiệu
quả khá cao với hiệu lực phòng trừ nấm là 88,00% và tăng tỷ lệ nẩy mầm lên
24,67% so với đối chứng.
Muhammad et al. (2013) đã tiến hành nghiên cứu về kiểm soát độc tố được
sinh ra bời nấm Fusarium moniliforme gây bệnh lúa von trên cây lúa tại Pakistan.
Có 6 loại thuốc diệt nấm xử lý hạt giống: Derosal, Daconil, Aliette, Topsin-M,
Mancozeb và Precure-Combi được sử dụng và thử nghiệm ở 2 nồng độ thuốc 0,15%
moniliforme, Microdochium oryzae và Sarocladium oryzae.
Phạm Văn Du, Lê Cẩm Loan và cộng sự (2001) điều tra về nấm gây hại
trên hạt giống trên 60 mẫu hạt giống của 12 giống lúa và ảnh hưởng của nó đến
chất lượng hạt giống lúa được trồng phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long xác
định thành phần nấm bệnh trên hạt gồm 9 loài nấm khác nhau. Trong đó loài
Curvularia spp. có tần suất xuất hiện cao nhất (13,44%), tiếp theo là loài
Alternaria padwickii (12%), Bipolaris oryzae (4,9%), Sarocladium oryzae (1,9%),
Fusarium graminum (1,50%), Tilletia barclayana (0,16%), Phoma sorghina
(0,1%), Cephalosporium oryzae (0,34%), Ustilaginoidea virens (0,005%). Tại tỉnh
Cần Thơ, khi điều tra 20 mẫu lúa trên 2 giống lúa là IR50404 và IR64 có 8 loài
nấm lưu tồn trên hạt giống, trong đó Alternaria padwickii có tần suất xuất hiện cao
nhất, kế đến là các loài nấm Bipolaris oryzae, Fusarium moniliforme, F.
pallidoroseum, F. subglutinans, Microdochium oryzae, Phoma sp., Sarocladium
oryzae. Nhìn chung, thành phần nấm trên hạt lúa tại hai địa điểm điều tra là không
khác nhau. Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ nấm trên hạt giống của những giống lúa
cải tiến cao hơn so với những giống lúa địa phương.
Bùi Thị Khơi (2002) đã kiểm tra thành phần nấm và vi khuẩn trên hạt giống
một số giống lúa chính năm 2001-2002 vùng đồng bằng sông Hồng, kết quả cho biết:
trên các giống lúa đã phân lập được 19 loại nấm và 5 loại vi khuẩn.
Nguyễn Đức Huy (2003) công bố: có 12 loại nấm kí sinh trên hạt giống
lúa thuần: Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Cescospora jansiana,
Curvularia sp., Fusarium graminearum, F. moniliforme, Microdochium oryzae,
Nigrospora oryzae, Sarocladium oryzae, Tilletia barclayana, Ustilaginoidea
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
virens và 8 loại nấm bệnh kí sinh trên hạt giống lúa lai Trung Quốc : Alternaria
padwickii, Bipolaris oryzae, Curvularia sp., Fusarium moniliforme, Nigrospora
oryzae, Tilletia barclayana, Ustilaginoidea virens. Thuốc Uthan M45 và Rovral
50WP ở nồng độ 0,05% có hiệu quả ức chế tốt nhất đối với nấm Bipolaris oryzae