Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 1 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 36 ( 2010-2014)
QUY CHẾ PHÁP LÝ
VỀ PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận Nguyễn Thị Trung An
MSSV: 5105935
LỚP: LUẬT THƯƠNG MẠI I-
K36
*
, 11/2013
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 2 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
Nguyễn Minh Thuận đã tận tình giúp đỡ, cung cấp những kiến
thức quý báo và hướng dẫn em trng suốt quá trình thực hiện đề
tài này.
Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Thư viện
Thành phố Cần Thơ, Trung tâm học liệu trường Đại Học Cần
Thơ, Thư viện Khoa Luật, các bài báo tạp chí, trang mạng thông
tin điện tử … Những nơi em có thể thể tìm được nguồn tài liệu
cho bài viết của mình.
Mặc dù nhận thấy bản thân cũng đã có nhiều cố gắng
trong quá trình nghiên cứu, tuy nhiên, sẽ không tránh khỏi phần
thiếu sót và hạn chế. Vì vậy, em rất mong được sự đóng góp của
quý thầy cô để nội dung trong bài luận văn được hoàn thiện
hơn./.
Em xin chân thành cảm ơn!
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 3 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG GIẢNG VIÊN
*
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013 Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 5 SVTH: Nguyễn Thị Trung An MỤC LỤC Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN 4
1.1 Khái quát chung về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên 4
1.1.1 Khái niệm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 4
1.1.2 Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 8
1.1.3.Lịch sử hình thành và phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên 10
1.1.4 Vai trò của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 10
1.2 Vốn và cấu trúc vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên 11
1.2.1 Vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên 11
1.1.2.1 Khái niệm về vốn 11
1.1.2.2.Đặc điểm của vốn 14
1.1.2.3.Vai trò của vốn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên 15
1.2.2 Cấu trúc vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên 16
1.2.2.1 Khái niệm cấu trúc vốn 16
1.2.2.2 Cấu trúc vốn về nguồn vốn do góp vốn, vay vốn, phát hành trái
phiếu. 17
1.3 Phương thức huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành
2.2.4 Quyền và nghĩa vụ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên khi phát
hành trái phiếu 47
2.2.4.1 Quyền của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên khi phát hành
trái phiếu 47
2.2.4.2.Nghĩa vụ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thanh viên trở lên 48
2.2.5.Quyền và nghĩa vụ của bên sở hữu trái phiếu do công ty trách nhiệm hữu hạn
hai thành viên trở lên phát hành 49
2.2.5.1.Quyền của chủ sở hữu trái phiếu 49
2.2.5.2 Nghĩa vụ của chủ sở hữu trái phiếu 49
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG
TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN HIỆN NAY VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 50
3.1 Thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện những quy chế huy động vốn qua
phương thức tăng vốn điều lệ 50
3.1.1 Thực trạng huy động vốn qua phương thức tăng vốn điều lệ 50
3.1.2 Đề xuất giải pháp huy động vốn qua phương thức tăng vốn điều lệ 53
3.2 Thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện những quy chế huy động vốn qua
phương thức phát hành trái phiếu 53
3.2.1 Thực trạng huy động vốn qua phương thức phát hành trái phiếu 53
3.2.2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý về huy động vốn qua phương
thức phát hành trái phiếu 57
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 7 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
buổi Việt Nam đã gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO. Việt Nam và một quốc
gia đang phát triển với tốc độ nhanh tuy nhiên do nước ta vẫn là một nước nông
nghiệp nên việc phát triển các công ty kinh doanh có quy mô lớn không nhiều, do đó
công mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là mô hình thích
hợp đối với với doanh nghiệp Việt Nam trong thời kì đổi mới này vì đây là mô hình
tiến bộ thuận lợi cho các doanh nghiệm có quy mô vừa và nhỏ. Công ty trách nhiệm
hữu hạn 2 thành viên trở lên có nhiều phương thức huy động vốn như: phát hành trái
phiếu, vay tín dụng, hay huy động vốn từ các thành viên góp vốn. Mỗi cách huy
động vốn đều có ưu nhược điểm riêng. Tuy nhiên do trình độ phát triển của hệ thống
tài chính chưa cao, cũng như một số hạn chế mang tính chủ quan, thực trạng huy
động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên còn nhiều vấn đề
bất cập, vướng mắc cần sớm giải quyết.
Trong quá trình học tập và nghiêp cứu tìm hiểu về tình hình hoạt động tài
chính của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên người viết nhận thấy vấn đề
về huy động vốn là một trong những nền tảng của công ty, công ty muốn hoạt động
và phát triển yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất đó chính là vốn, muốn được như vậy
công ty phải lựa chọn những phương thức huy động vốn tối ưu và hiệu quả phù hợp
với quy định của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để nắm rõ vấn đề này
đó là lý do người viết lựa chọn đề tài “Quy chế pháp lý về phương thức huy động
vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ”.
2. Phạm vi nghiêm cứu:
Trong đề tài nghiên cứu “Quy chế pháp lý về phương thức huy động của
công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên”, người viết tìm hiểu những quy định
của pháp luật về lí luận, quy định của pháp luật có liên quan và thực trạng quá trình
áp dụng các quy định của pháp luật về “Phương thức huy động vốn” của riêng loại
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 9 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
hình “Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên” bao gồm nội dung về
lý luận chung của công ty, phương thức tăng vốn điều lệ và phương thức phát hành
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 10 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
đến 2 vấn đề lớn đó chính là quy trình pháp lý để tăng vốn điều lệ công ty bằng hình
thức huy động vốn từ các thành viên góp vốn cũ hoặc kết nạp thêm thành viên mới
và quy trình pháp lý về phương thức huy động vốn qua việc phát hành trái phiếu
công ty.
Chương 3: Thực trạng huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên hiện nay và giải pháp hoàn thiện. Trong chương này người viết sẽ
trình bày thực trạng về chính sách cũng như pháp luật hiện nay của phương thức huy
động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên về việc tăng vốn điều lệ
và phát hành trái phiếu qua đó đưa ra những biện pháp góp phần hoàn thiện về chính
sách và pháp luật cho 2 phương thức huy động trên. Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 11 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN
CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH
VIÊN
1.1 Khái quát chung về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
¾ vốn điều lệ
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 12 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
được quy định, ngoài ra ở khoản 2 điều 25 cũng quy định về sự ràng buộc về số
lượng thành viên kết nạp mới hơn khi phải có ý nhất ¾ các nhân có vốn điều lệ
chấp thuận thì thành viên mới được chuyển nhượng vốn cho thành viên mới càng
thể hiện bản chất của công ty trách nhiệm hữu hạn là công ty đóng việc kết nạp
thành viên mới vào công ty không được tự do, bị chi phối ở nhiều điều kiện nhưng
quan trọng hơn là phải được sự đồng ý trền 75% số vốn điều lệ mà thành viên sở
hữu.
Đến ngày 29/11/2005 Luật Doanh Nghiệp được thông qua và có hiệu luật từ
ngày 7/1/2006 đã đánh dấu rõ nét và chi tiết về công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên. Ở văn bản pháp luật này đã có sự phân biệt giữa công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên đó là
một sự khác biệt đầu tiên so với luật công ty năm 1990.
Ở luật Doanh Nghiệp 2005, khái niệm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành
viên trở lên được quy định như sau
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó:
Thành viên là tổ chức có thể là pháp nhân, tổ chức, số lương thành
viên không vượt quá 50 thành viên. Việc quy định số lượng thành viên trong công ty
để tạo điều kiện quản lý dễ dàng hơn đối giữa cơ quan chức năng với công ty trách
nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, khái niệm này cũng để là điều kiện để phân
biệt giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần
Thành viên chịu trách nhiệm pháp lý về các khoản nợ và nghĩa vụ tài
sản của doanh nghiệp trong phạm vi cam kết vốn của doanh nghiệp. Công ty trách
nhiệm hữu hạn là một mô hình công ty đối vốn và đối nhân việc chịu trách nhiệm
pháp lý về khoản nợ trong phạm vi cam kết thể hiện rõ tính chất ấy, số vốn thành
viên cam kết công trong điều lệ công ty chính là phần cam đoan về vốn bắt buộc
thành viên phải chịu trách nhiệm khi công ty gặp rủi ro
ty. Hình thức công ty này không nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các thành viên
mà chỉ chú trọng đến phần vốn góp, tính chất trách nhiệm hữu hạn và khả năng huy
động vốn, nghĩa là cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công
ty theo phần vốn góp của mình. Theo đó về mặt pháp lý, đây là mô hình công ty
được thành lập và liên kết chặt chẽ với nhau bằng vốn kinh doanh không dựa trên
quan hệ quen biết và tin tưởng như đã nói ở công ty đối nhân, công ty đối vốn luôn
được công nhận là có tư cách pháp nhân, ngoài ra đặc điểm quan trọng nhất trong
công ty đối vốn đó là sự tách biệt rõ ràng về tài sản chung và riêng giữa thành viên
công ty họ chỉ chịu trách nhiệm theo đúng phần vốn góp mà mình đã cam kết đối
với công ty.
Việc kết hợp hai hình thức đối nhân và đối vốn mang lại những ưu thế vượt
trội cho mô hình công ty trách nhiễm hữu hạn hai thành viên nó vừa ràng buộc về
quan hệ nhân thân giữa các thành viên góp vốn và thành viên công ty họ điều phải
chịu trách nhiệm pháp lý và chịu trách nhiễm hữu hạn về phần vốn góp mà họ cam
kết trong điều lệ công ty gọi là “Vốn Điều Lệ’”. Đặt biệt, việc kết hợp này lam cho
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 14 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
bản chất của công ty trách nhiệm hữu hạn là một công ty “ đóng” như việc chuyển
nhượng phần vốn góp của thành viên cho người không phải là thành viên trong công
ty bị hạn chế, việc phát hành cổ phần bị cấm đoán theo điều 38, và 44 trong luật
Doanh Nghiệp 2005 .
Tóm lại ở luật doanh nghiệp 2005 quy định khái niệm của công ty trách
nhiệm hữu hạn cơ bản như sau
Thứ nhất, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật
Việt Nam là một tổ chức kinh tế độc lập, là một loại hình doanh nghiệp trong nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam. Khẳng định này được thể hiện rõ ở
khoản 1 điều 4
2
và quy định tại điều 38 luật Doanh Nghiệp 2005. Công ty trách
4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một các độc lập
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 15 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
phải làm thủ tục chuyển từ công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên thành công
ty cổ phần. Tuy nhiên trong thực tế ở Việt Nam, hầu hết công ty thường có số lượng
thành viên công ty rất ít, thường không quá 5 thành viên và họ có mối quan hệ họ
hàng hay bạn bè quen biết với nhau
5
.
Thứ tư, về chế độ trách nhiệm công ty phải chịu trách về bằng các khoản nợ
cũng như những chi phí phát sinh từ hoạt động kinh doanh của công ty bằng toàn bộ
tài sản của công ty như người viết đã trình bày công ty trách nhiệm hữu hạn có tư
cách pháp nhân, có tài sản riêng biệt và chịu trách nhiệm về tài sản đó. Vì thế các
thành viên góp vốn theo pháp luật Việt Nam đã cam kết trong điều lệ công ty, đồng
nghĩa với việc thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đúng phần vốn góp ngoài ra
không chịu thêm bất kì một khoản nợ nào của công ty ngoài phần vốn góp trên.
Thứ năm, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên không có quyền phát
hành cổ phiếu đây là đặc điểm pháp lý đặc thù để phân biệt với công ty cổ phần. Ở
khoản3 điều 38 luật doanh nghiệp 2005 quy định công ty trách nhiệm hữu hạn
không được quyền phát hành cổ phần. Cổ phần ở đây trên tinh thần pháp luật được
hiểu như cổ phiếu tuy đây là hai khái niệm khác nhau nhưng gắn chặt với nhau như
hai mặt của một vấn đề, nếu không có khái niệm cổ phần thì sẽ không có cổ phiếu.
Thứ sáu, như người viết đã trình bày bản chất của công ty trách nhiệm hữu
hạn là một công ty đóng việc thay đổi cơ cấu thành viên trong công ty, chuyển
nhượng vốn góp với tổ chức, cá nhân ngoài công ty bắt buộc phải được sự đồng
thuận của hội đồng thành viên
1.1.2 Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Từ những khái niệm về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên mà người
viết đã trình bày ở mục 1.1.1 có thể suy ra đặc điểm cơ bản của công ty trách nhiệm
thành viên và được thể hiện thể hiện bằng tiền, vật chất thông qua khái niệm vốn
Đặc điểm về giới hạn trách nhiệm : Giới hạn trách nhiệm của công ty
trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên về mọi hoạt động của mình về tài sản
của công ty. Các thành viên trong công ty phải chịu trách nhiệm về hoạt động của
công ty và cũng được giới hạn trong phạm vi vốn mà họ đã cam kết góp vào công
ty. Điều này có nghĩa là khi các thành viên đó chưa thật sự góp vốn vào công ty mà
chỉ mới đăng kí thì vẫn phải chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty. Thành viên
trong công ty chịu trách nhiệm hữu hạn về phần vốn góp cam kết khi có thiệt hại
xảy ra, nếu giá sử khi kinh doanh thất bại hay bị thua lỗ thì thành viên chỉ chịu trách
nhiệm về tài sản, tiền mặt mà mình đã cam kết, các tài sản ngoài công ty vẫn thuộc
quyền sở hữu riêng của người đó.
Ngoài ra, công ty trách nhiệm hữu hạn không được phát hành cổ phiếu, vì
đây là mô hình công ty có số lượng thành viên hạn chế không vượt quá năm mươi
thành viên do đó việc phát hành cổ phiếu có thể làm gia tăng số lượng thành viên
trong công ty lên lớn số lượng thành viên theo quy định.
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 17 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
1.1.3.Lịch sử hình thành và phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn hai
tthành viên trở lên
Trên thế giới Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ra đời sau
mô hình “Công ty cổ phần“ thực sự xuất hiện ở cuối thế kỉ 19 và phát triển mạng
vào thế kỉ 20. Nhiều nhà nguyên cứu cho rằng đó là một sản phẩm của hoạt động lập
pháp do người Đức “ sáng tạo” theo một đạo luật về công ty năm 1892. Sự xuất hiện
này phù hợp với các kiểu công ty vừa và nhỏ. Mô hình công ty này vừa có yếu tố
quan hệ nhân thân như công ty đối nhân, vừa có tư cách pháp nhân và trách nhiệm
hữu hạn như các thành viên của công ty cổ phần, vì thế mô hình này được ưa
chuộng ở tất cả các nước
6
.
tệ nạn xã hội. Cho đến hiện nay không thể phủ nhận vai trò của các công ty trách
nhiệm hữu hạn đã đóng góp rất nhiều cho xã hội từ việc tạo công ăn việc làm cho
người lao động qua đó tạo sự ổn định cho xã hội.
1.2 Vốn và cấu trúc vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
1.2.1 Vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
1.1.2.1 Khái niệm về vốn
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, dưới gốc độ các yếu tố sản xuất Mác đã
khái quát vốn thành các phạm trù cơ bản vốn là tư bản đem lại giá trị thặng dư, là
một đầu vào cho quá trình sản xuất. Trong cuốn kinh tế học của D.begg tác giả đã
đưa ra hai khái niệm về vốn đó chính là vốn hiện vật và vốn tài chính của công ty.
Trong đó, vốn hiện vật là các hàng hóa đã được dự trữ để sản xuất ra các hàng quá
khác người viết có thể hiểu ở đây là các phương tiện máy móc và những thiết bị
phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và vốn tài chính của công ty chính tiền bạc và các
loại giấy tờ có giá mà công ty sở hữu. Qua đó thấy được vốn là điều kiện không thể
thiếu để thành lập một doanh nghiệp, một công ty được đánh giá là ổn định hay
không dựa vào nguồn lực đầu công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là
loại hình công ty đối vốn không được phát hành cổ phiếu để công khai huy động
vốn trong công chúng. Vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
do thành viên góp vào khi thành lập công ty là chủ yếu, có thể tăng khi công ty hoạt
động kinh doanh có hiệu quả và có yêu cầu cũng như sự đồng ý của các thành viên
thì công ty có thể tăng vốn nhầm mở rộng quy mô kinh doanh và phát triển theo
chiều sâu, nâng cao chất lượng hoạt động của công ty.
Hội đồng thành viên có thể quyết định tăng vốn góp của thành viên, điều
chỉnh mức tăng vốn điều lệ, hoặc kết nạp thêm thành viên mới để tiếp nhận phần
vốn góp. Bên cạnh đó, hội đồng thành viên cũng có thể giảm vốn điều lệ công ty
bằng cách hoàn trả một phần vốn góp cho các thành viên theo tỉ lệ vốn góp của họ
trong vốn điều lệ của công ty hoặc điều chỉnh giảm mức vốn điều lệ tương ứng với
giá trị tài sản giảm xuống của công ty.
Vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là phần đóng
góp của các thành viên bằng hiện vật có giá trị, tiền mặt, hay phần huy động vốn
cho nên không có mức vốn cụ thể để xác định vốn kinh doanh đối với từng loại hình
sản xuất, kinh doanh của công ty.
Khái niệm về vốn điều lệ
Theo Luật Doanh Nghiệp năm 2005 vốn điều lệ là số vốn do các thành viên
đóng góp hoặc cam kết góp trong thời gian nhất định và được ghi vào điều lệ công
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 20 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
ty còn ở điều 6 Nghị Định 102/2010NĐ-CP vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu
hạn hai thành viên trở lên được quy định cụ thể như sau là tổng giá trị các phần góp
vốn hoặc được cam kết trong một thời hạn cụ thể đã được ghi vào điều lệ công ty.
Bản chất của vốn điều lệ ở công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên đó
chính là phần vốn góp đi kèm với quyền lợi của các thành viên vì nếu thành viên có
phần vốn góp càng nhiều thể hiện sức mạnh về ý kiến của thành viên này càng lớn
bởi vì theo luật doanh nghiệp 2005 điều 52 tỉ lệ vốn càng nhiều khi tiến hành biểu
quyết để đưa ra quyết định thì các thành viên này sẽ được nhiều ưu thế hơn
Tóm lại, đó là phần vốn góp mà các thành viên của công ty đã thực hiện và
chưa thực hiện nếu được quy định tại điều lệ công ty bắt buộc cách thành viên phải
chịu trách nhiệm pháp lý về cam kết của mình. Có thể nói vốn điều lệ là vốn thuộc
chủ sở hữu ngay khi thành lập công ty.
Vốn điều lệ công ty có những đặc điểm cơ bản như sau:
Vốn điều lệ hiện không có định mức tối thiểu, trừ một số ngành ngành
nghề kinh doanh cần vốn pháp định thì vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp
định
Tài sản dùng để góp vốn điều lệ bao gồm: tiền Việt Nam, ngoại tệ tự
do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công
nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty
Tỷ lệ góp và số vốn do các nhà đầu tư tự quyết định lấy tùy theo năng
lực thực tế cũng như quy mô ngành nghề kinh doanh của công ty.
Trong quá trình hoạt động vốn điều lệ chỉ còn là cơ sở pháp lý để chia quyền
nghĩ với thành viên đó đã bỏ vốn vào công ty tạo nên một khối tài sản riêng biệt
tách rời với tài sản đang có của thành viên đó và thành viên đó dù thực hiện hay
chưa thực hiện việc góp vốn của mình vào công ty nhưng đã cam kết trong điều lệ
công ty thì phải chịu trách nhiệm về phần vốn góp của mình.
Do công ty trách nhiệm hữu hạn thuộc thuộc loại công ty đối vốn, vốn
của công ty được hình thành từ nguồn vốn góp của các thành viên là chủ yếu. Để
thành lập một công ty ban đầu việc xây dựng vốn là nguồn gốc, nền tảng đối với
công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Vốn là điều kiện không thể thiếu
đối với sự hình thành của công ty trách nhiệm hữu hạn vì khi thành lập công ty do
điều kiện ban đầu việc vay mượn, hoặc phát hành trái phiếu là tương đối khó khăn
vì chưa được sự tin tưởng, cũng như uy tín của công ty còn chưa phát triển các
thành viên phải tự bỏ vốn ra để thành lập và vận hành công ty nên số góp vốn của
thành viên được xem là nguồn vốn sơ khai và quan trọng nhất đối với công ty.
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được phát
hành cổ phiếu mà chỉ được phát hành trái phiếu công ty đây cũng là một hình thức
huy động vốn của công ty trách nhiễm hữu hạn. Như đã nói vì công ty trách nhiệm
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 22 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
hữu hạn mang bản chất vừa là công ty đối nhân vừa là công ty đối vốn. Các thành
viên trong công ty sẽ có quan hệ quen biết với nhau, cho nên bản chất công ty vẫn là
công ty “ đóng “ nên việc phát hành cổ phần ra ngoài là rất khó khăn. Đồng thời
theo quy định của luật doanh nghiệp 2005 việc chuyển giao cổ phần công ty cũng bị
hạn chế phải ưu tiên cho các thành viên trong công ty trước, ngoài ra vì theo luật
định công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên chỉ được có số lượng thành
viên tham gia không vượt quá năm mươi thành viên việc phát hành cổ phiếu có thể
gia tăng số lượng thành viên vượt quá so với quy định.
Phần vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên co
thể được tăng, giảm, chuyển nhượng hoặc thu hồi vốn góp tuy nhiên bắt buộc phải
theo quy định của pháp luật. Nếu xét thấy cần thiết hội đồng thành viên có thể đưa
liên tục: Khi các yêu cầu về lao động và công nghệ đã được đảm bảo thì vốn cũng
phải được đảm bảo để quá trình sản xuất diễn ra thường xuyên liên tục. Mỗi loại
hình doanh nghiệp có nhu cầu về vốn rất khác nhau. Đối với doanh nghiệp sản xuất,
vốn dùng để mua nguyên vật liệu, với doanh nghiệp kinh doanh thưong mại thì vốn
dùng để mua hàng để bán. Ngoài ra, vốn còn được dùng để trả lương nhân viên, để
thanh toán, giao dịch. Tuy nhiên, không phải lúc nào vốn trong doanh nghiệp cũng
vừa đủ. Có nhiều nguyên nhân gây ra thiếu vốn như hàng tồn kho đọng lại nhiều,
khách hàng chưa thanh toán. Trong các trường hợp đó, cần phải kịp thời huy động
vốn để quá trình hoạt động của doanh nghiệp được trôi chảy, liên tục.
Tóm lại, vốn có vai trò lớn là nguồn mạch duy trì hoạt động của công ty từ
khi ra đời cho đến khi phát triển hoặc giải thể mọi quá trình điều gấn liền với vốn.
Nó thể hiện sự mạnh mẽ của công ty và quy mô sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư.
Đó là nền tảng đánh giá đầu tiên cho một công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành
viên trở lên
1.2.2 Cấu trúc vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
1.2.2.1 Khái niệm cấu trúc vốn
Cấu trúc vốn là một thuật ngữ tài chính nhầm miêu tả nguồn gốc và phương
pháp hình thành nên nguồn vốn để công ty có thể đầu tư vào mục đích kinh doanh.
Thật ra, cấu trúc vốn xuất phát từ bảng cân đối kế toán, trong bảng này có thể cho
thấy tổng tài sản của công ty được hình thành từ phần vốn góp của chủ sở hữu và lợi
nhuận của chủ sở hữu được giữ lại cho việc đầu tư kinh doanh và phần nào được
hình thành từ các nguồn có tính chất công nợ (thông qua các khoản nợ khác nhau
như: vay ngân hàng, tổ chức tín dụng, và phát hành trái phiếu). Khi nói đến cấu trúc
vốn là nói đến việc công ty dùng những cách tài trợ khác nhau trong quá trình tăng
trưởng để có tiền chi dùng cho những công việc nhất định. Cấu trúc vốn không thể
xác định khi công ty mới thành lập mà chỉ có thể nhìn thấy được khi công ty đã đi
vào ổn định và trưởng thành. Cấu trúc vốn được đặt ra khi công ty phải thực hiện
một dự án. Công ty phải quyết định đâu là vốn dài hạn đâu là vốn ngắn hạn để, tự bỏ
tiền ra hoặc sử dụng những biện pháp huy động vốn từ bên ngoài.
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
Thường được đầu tư vào đầu tư cơ bản dài hạn, và cố định.
Vay dài hạn: Thời gian thanh toán từ năm năm trở lên
Đây là nguồn vay có lãi suất tương đối cao thường được công ty xác định cho
các hạ mục công trình lớn và dài hạn .
Quy chế pháp lý về phương thức huy động vốn của Cty
TNHH hai thành viên trở lên
GVHD: CN. Đoàn Nguyễn Minh Thuận 25 SVTH: Nguyễn Thị Trung An
Lí do tại sao nguồn vay ngắn hạn không được đề cặp để xác định cấu trúc
vốn vì nguồn vốn vay này không có tính ổn định, công ty chỉ đầu tư cho các hạ mục
kinh doanh sản xuất có thời gian ngắn nên cơ sở xác định dựa trên nguồn vốn vay
ngắn hạn có độ chính xác không cao
Nguồn vốn vay có thể được huy động từ các tổ chức tài chính, tín dụng, công
ty cho thuê tài chính và việc phát hành trái phiếu đây cũng là hình thức huy động
vốn vay cho công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Phát hành trái phiếu là một hình thức huy động vốn của công ty
trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên vì đây là một tổ chức sản xuất kinh
doanh không được phát hành cổ phiếu nên trái phiếu là một đặc trưng cơ bản làm
cho nó thỏa những quy định của pháp luật và có thể thu hút được vốn đầu tư dù
không bán cổ phần ra ngoài. Trái phiếu như một chứng nhận nợ của công ty đối với
người sở hữu trái phiếu về một khoản tiền cụ thể có xác đinh thời gian rõ ràng. Vấn
đề về việc phát hành trái phiếu sẽ được người viết trình bày cụ thể ở chương 2 đề tài
này.
1.3 Phương thức huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
1.3.1 Khái niệm về phương thức huy động vốn
Một công ty khi hoạt động họ muốn tồn tại và phát triển đòi họ phải có vốn
để mở rộng sản xuất, kinh doanh vốn đã trở thành một nền tảng đề làm bàn đạp cho
công ty do với những lí do mà người viết đã trình bày vốn là một vấn đề vô cùng
quan trọng đối với một công ty làm thế nào để huy động được vốn hiểu quả đòi hỏi
phương thức huy động vốn của doanh nghiệp phải hiểu quả và phù hợp đáp ứng
được các điều kiện của nhà đầu tư. Huy động vốn còn được hiểu đơn giản theo các