Điều tra các cây thuốc chữa bệnh ngoài da của người dao ở ba vì - Pdf 30

class="bi x0 y0 w1 h1"
MỤC LỤC
Đặt vấn đề
Phần I Tổng quan 1
1.1, Bệnh ngoài da và thuốc điều trị 1
1.1.1 .Bệnh nấm ngoài da 1
1.1.2. Các bệnh nhiễm trùng ngoài da khác
6
1.2. Người Dao và kinh nghiệm chữa bệnh bằng thuốc nam
9
1.2.1. Xã Ba Vì và người Dao ở Ba Vì 9
1.2.2 Người Dao với nghề làm thuốc Nam 11
1.2.3. Những nghiên cưú về cây thuốc người Dao ở Ba Vì đã thực hiện

12
Phầnll Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 14
2.1. Đối tượng nghiên cứu

14
2.2. Phương pháp nghiên cứu 14
2.2.1. Phương pháp điều tra cộng đồng

14
2.2.2. Xác định tên khoa học cây thuốc người Dao

.

14
PhầnlII Kết quả và bàn luận 18
3.LKết quả điều tra cộng đồng 18
3.2. Kết quả thử tác dụng kháng nấm, kháng khuẩn bằng dịch ép tươi 34

Đặng Gia Toại
CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT
VQG
Vườn quốc gia.
TS

Tiến sỹ
ThS Thạc sỹ
TW Trung ương
VDLC
Viêm da liên cầu
VN Vẩy nến
NXB

.

.

Nhà xuất bản
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
BảngS.l. Các họ có cây thuốc chữa bệnh ngoài da

.
18
Bảng3.2. Cây thuốc người Dao có tác dụng chữa bệnh ngoài d a

20
Bảng3.3 . Tác dụng điều trị của 19 cây thuốc điều tra 29
Bảng3.4. Danh mục cây thuốc được thử tác dụng 34

Bên cạnh đó, việc sử dụng kháng sinh phổ rộng kéo dài, lạm dụng corticoid,
chiếu xạ, nhiễm HIV, sử dụng lan tràn các hoá mỹ phẩm ngoài da, môi trường
sống ô nhiễmv.v dẫn đến tỷ lệ mắc các bệnh ngoài da ngày một gia tăng.
Đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, trải dài trên nhiều vĩ độ và độ cao khác
nhau, địa hình phức tạp cũng tạo cho nước ta một hệ thực vật vô cùng phong phú và
đa dạng với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, 600 loài nấm, 800 loài rêu [8].
Nhiều cây thuốc đã được nhân dân ta sử dụng hiệu quả trong phòng và chữa bệnh,
trong đó có các bệnh ngoài da. Đã có nhiều nghiên cứu về các bài thuốc chữa bệnh
trong dân gian cho thấy việc sử dụng thuốc có nguồn gốc thảo dược đang ngày càng
được quan tâm và coi trọng.
Ngưòi Dao ở nước ta có truyền thống lâu đời trong việc sử dụng cây cỏ làm
thuốc, trong đó người Dao ở Ba Vì.
Nhằm góp phần làm sáng tỏ một số kinh nghiệm trong việc điều trị các bệnh
ngoài da bằng cây thuốc của người Dao ở Ba Vì, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Điều tra thuốc chữa bệnh ngoài da của dân tộc Dao tại Vưòĩi Quốc Gia Ba Vì”
với các mục tiêu :
+ Điều tra việc sử dụng thuốc cây cỏ để chữa bệnh ngoài da của người Dao ở
Ba Vì.
+ Lập danh sách những cây thuốc thưòfng dùng để chữa bệnh ngoài da và mô tả
đặc điểm thực vật của một số cây thuốc điển hình.
+ Sơ bộ đánh giá khả năng kháng nấm và kháng khuẩn của một số cây thuốc.
Do thời gian hạn chế, khoá luân còn nhiều vấn đề cần phải đi sâu, khảo sát
thêm. Tuy nhiên chúng tôi cũng mong muốn được góp phần tìm kiếm, bảo tồn và
phát triển nguồn tài nguyên làm thuốc cũng như tri thức sử dụng nguồn tài nguyên
đó ở nước ta.
PHẦN I
TỔNG QUAN
1.1. Bệnh ngoài da và thuốc điều trị
Da là một trong những cơ quan lớn nhất trong cơ thể. Da đảm bảo rất nhiều
chức năng quan trọng:

hiện ngày một tăng. Theo nhiều chuyên gia trong lĩnh vực lâm sàng đánh giá thì
mối đe doạ của vi nấm đối với sức khoẻ của con người chỉ đứng sau virus và vi
khuẩn [10].
Sự phát triển các bệnh do vi nấm gây ra trong vài thập niên gần đây có
nhiều nguyên nhân. Trong đó một nguyên nhân quan trọng không thể không nói
đến đó là sự bùng nổ của đại dịch AIDS. Sự lây nhiễm vims HIV đã làm tổn
thương hệ thống miễn dịch và là cơ hội cho các vi nấm xâm nhập vào cơ thể.
Tiếp đến là các nguyên nhân như việc sử dụng kháng sinh, các chất corticoid một
cách tuỳ tiện cũng là yếu tố quan trọng làm gia tăng các bệnh do nấm. Bên cạnh
đó, số người bị mắc bệnh tiểu đường ngày một tăng (cơ địa của người mắc bệnh
tiểu đường dễ bị mắc một số bệnh nấm), các ca ghép cơ quan đặc biệt là ghép
thận cũng không ngừng tăng lên cũng là yếu tố thuận lợi cho nấm lây nhiễm và
gây bệnh. Ngoài ra những yếu tố như điều kiện khí hậu nóng ẩm như ở nước ta
rất thuận lợi cho sự phát triển của vi nấm, điều kiện sống, điều kiện vệ sinh
phòng bệnh ở nước ta còn thấp càng tạo điều kiện cho sự phát triển của vi nấm.
Trong khi các bệnh do vi nấm ngày một tăng thì việc đầu tư cho nghiên cứu sản
xuất các kháng sinh kháng nấm còn chưa được chú ý cả về thời gian và kinh phí
[5].
Vi nấm gây bệnh ngoài da phần lớn thuộc nhóm vi nấm có tên gọi là
dermatophytes, sống ký sinh trên vật chủ, được chia thành 3 chi:
+ Epidermophyton (2 loài).
+ Trichophyton (231oài).
+ Microsporum (28 loài).
Nấm da chủ yếu gây bệnh ở bề mặt của da và những nơi có chất sừng
(Keratin) như ở da, tóc, lông, móng v.v [5,10,12].
Bệnh nấm da phổ biến ở những nơi có điều kiện vệ sinh thiếu thốn (như ở
nông thôn, bộ đội v.v ), phổ biến ở các vùng khí hậu nhiệt đới ẩm [5,10].
Bệnh vẩy nến ( còn gọi là vẩy rồng) do Trichophyton concentricum gây ra
thưcmg gặp ở những vùng dân tộc thiểu số ở nước ta. Bệnh này rất khó chữa trị,
thường kéo dài nhiều năm làm cho một vùng da rộng lớn bị tổn thưofng. Da

điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển.
Bệnh làm cho các phần mềm ở gốc móng sưng đỏ, đau, chảy nước vàng
hay chảy mủ. Móng dần dần chở lên đục, có bề mặt màu nâu nhạt và lồi lõm.
Móng dần bị hỏng do sự chuyển hoá tạo móng bị xáo trộn.
Vi nấm gây bệnh chủ yếu là Cadida albicans, ngoài ra còn do Cadida
tropicalis, Candida guỉllỉermondii, Candida zeylanoides v.v [5]
* Phòng và điều trị bệnh nấm da.
- Nguyên tắc: Bệnh nám da là những bệnh do vi nấm kí sinh trên da gây ra,
dễ lây lan do tiếp xúc, vì thế cần chú ý một số biện pháp:
+ Tăng cường vệ sinh ngăn cản nấm xâm nhập vào cơ thể, chú ý đến các
đặc điểm sinh thái, điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và thức ăn thuận lợi cho sự phát
triển của nấm. Thực hiện vệ sinh tốt bao gồm cả vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi
trường sống có khả năng ngăn cản một cách hiệu quả sự xâm nhập của nán vào
cơ thể người.
+ Khống chế các đưòmg lây lan của nấm: cách ly người bệnh, tiệt khuẩn
nơi ở, trang thiết bị, đồ dùng người bị bệnh nấm, điều trị dự phòng cho những
người thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân nấm, xử lý các chất thải bệnh viện.
+ Phát hiện sớm và điều trị triệt để các trường hợp bệnh nhân nhiễm nấm
với các biện pháp:
- Thời gian điều trị kéo dài do vi nấm thường có các chân bám ăn sâu
dưới da.
- Ngăn ngừa sự phát triển của nấm: loại bỏ chỗ bám của nấm (nếu có thể
như: lông, tóc, vẩy da v.v )
- Kết hợp việc chữa bệnh với vấn đề phòng bệnh.
- Sử dụng thuốc và hoá chất chống nấm [1, 5,10].
-Thuốc kháns nấm và cơ chế tác duns.
Hiện nay trên thế giới đã nghiên cứu và tìm ra nhiều loại thuốc chốrig nấm
khác nhau. Dựa vào vị trí tác dụng của thuốc, cấu trúc hoá học của thuốc, người
ta chia thuốc kháng nấm thành nhiều nhóm [7].
+ Theo tác dụng của thuốc: người ta chia thuốc chống nấm thành 2 nhóm.

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhiều cây cỏ đã được sử dụng trong
điều trị các bệnh nấm da.
+ ở Mexico; người ta dùng lá cây Solanum chrysotrichum dưới dạng kem
bôi 5% cho kết quả điều trị bệnh nấm da khá tốt [13].
+ ở Việt Nam: theo một số tác giả (Võ Văn Chi [4], Đỗ Tất Lợi [11],
Phạm Hoàng Hộ [8] v.v ) thì nước ta có khoảng 150 loài đã được ghi nhận là có
khả năng kháng nấm, trong đó nhiều cây đã xác định được hoạt chất kháng nấm
[13].
Các cây thuốc kháng nấm tập trung ở một số họ chủ yếu sau: Họ Đậu
(Fabaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) họ 0 rô
(Aracanthaceae) [2].
1.1.2. Các bệnh nhiễm trùng ngoài da khác
I.I.2.I. Nhiễm đơn bào
Bệnh ngoài da ít khi có nguyên nhân từ đơn bào, tuy nhiên có một vài loại
đofn bào có khả năng ký sinh ở mô liên kết như Trypanosoma sp.; Leishmania sp.
có thể gây ra một số bệnh ngoài da.
Biểu hiện của nhiễm Leishmania sp. thường gặp là các u hạt ở phần nông.
Bệnh này ít gặp ở nước ta, thường gặp ở các vùng Nam Mỹ, Châu Phi & Nam Địa
Trung Hải. Các khối u hạt này có thể loét ra sau đó đóng vẩy cứng.
Người có thể trạng tốt, nếu nhiễm Leishmania sp. có thể tự khỏi [12].
1.1.2.2. Nhiễm ký sinh trùng ở da
Do điều kiện vệ sinh ở nước ta còn kém nên việc nhiễm ký sinh trùng là rất
phổ biến.
Các bệnh ngoài da do nhiễm ký sinh trùng thưòmg gặp là do ghẻ, chấy, rận.
Việc điều trị nhiễm kí sinh trùng cần kết hợp chặt chẽ giữa vệ sinh cá nhân
& hoá trị liệu.
Hiện nay đã có nhiều thuốc có nguồn gốc hoá dược & cây cỏ cho tác dụng
điều trị khá tốt như [5]:
+ Diethyl phatalat, 1% Gammabenzen hexachlorid v,v trị ghẻ.
+ Malathion, Peemethrin trị chấy

nguy hiểm [6].
ở trẻ em, biểu hiện nhiễm liên cầu ngoài da hay gặp nhất là chốc. Chốc là
những tổn thương nông được bao phủ bằng vẩy tiết cứng màu sáp ong, thưcmg ở
mặt hoặc bàn tay. Chốc tiến triển rất nhanh và có thể làm phức tạp thêm các bệnh
da tồn tại trước đó. Chốc có thể lây lan do tiếp xúc [12].
ở người lófn, biểu hiện hay gặp của nhiễm liên cầu ngoài da là viêm quầng.
Viêm quầng biểu hiện bằng những vùng da phù, rắn chắc, màu đỏ sáng. Mặt
thường bị ảnh hưẻmg nhiều nhất. Nguyên nhân của bệnh là do liên cầu xâm nhập
qua những vết trầy xước trên da, gây nhiễm các mạch bạch huyết bề mặt. Đặc
điểm của viêm quầng thưòfng là những tổn thương ở một bên, có ranh giới rõ
ràng, thường ở trên mặt [12].
Việc phòng các nhiễm trùng do liên cần chủ yếu vẫn là các biện pháp vệ
sinh, chưa có vacxin đặc hiệu. Sử dụng kháng sinh một cách hợp lý, tránh việc
kháng lại kháng sinh cũng là một biện pháp phòng ngừa quan trọng.
Liên cầu khuẩn cũng thường cảm nhiễm với các kháng sinh có phổ tác dụng
trên vi khuẩn Gram (+): Penicillin, Cephalosporin v.v [6].
* Các nhiễm khuẩn khác
Một số chủng vi khuẩn khác có thể gây ra các bệnh ngoài da như;
+ Trực khuẩn:
- TK Than: Bacillus anthracis.
- TK Lao: Mycobacterium tuberculosis.
- TK Hủi: Mycobacterium leprae.
+ Cầu khuẩn
- Lậu cầu: Neisseria gonorrhoeae.
+ Xoắn khuẩn:
- Giang mai: Treponema pallidum [6].
I.I.2.4. Nhiễm virus
Các biểu hiện của nhiễm virus ngoài da thường gặp như [12]:
+ Mụn cơm là những khối u lành tính thưcmg do các virus gây u nhú ở
người {Human Papilloma Virus — HPV) gây ra.

- Người Dao có ngôn ngữ riêng, thuộc nhóm ngôn ngữ Dao — H’mông.
- Người Dao dùng chung chữ viết với người trung quốc.
- Ngoài hệ thống chính quyền chính thức, người Dao vẫn duy trì truyền
thống có một “Già làng”, đại diện cho cả thôn để làm lễ cúng trời đất, cầu cho
mưa thuận gió hoà, vụ mùa bội thu. Trong làng còn có một số người làm thầy
cúng, họ cúng trong các ngày lễ, tết, đám ma chay, đặc biệt là cúng trừ tà ma khi
có tai nạn hay bệnh tật.
+ Về giáo dục:
Xã có 3 trường phổ thông cơ sở với 12 lớp tiểu học (370 học sinh), 8
lớp trung học cơ sở (305 học sinh) (2005). Đa số trẻ em ở độ tuổi đi học đều
được đến trường nhưng hầu như chỉ học hết tiểu học hay phổ thông cơ sở. Rất ít
học sinh học hết phổ thông trung học và đại học.
^VềYtế:
Xã có 2 trạm y tế, một trạm ở Yên sơn và lĩiôt trạm ở Thôn sổ. Trạm xá ở
thôn Sổ có 2 y sỹ chịu trách nhiệm khám chữa bệnh và phối hợp triển khai công
tác y tế như: phòng chống sốt rét, tiêm phòng dịch, khám phụ khoa v.v cho
thôn Sổ và thôn Hợp Nhất. Năm 2005, cả 2 trạm thực hiện khám chữa bệnh cho
281 lượt ngứời, tiêm chủng mở rộng cho 36 trẻ ( đạt 100%).
Nhìn chung, đa số nhân dân ở đây vẫn được chăm sóc sức khoẻ ban đầu
bằng thuốc Nam là chính.
1.2.2 Người Dao với nghê làm thuốc Nam
Từ trước đến nay, Người Dao vốn nổi tiếng với các bài thuốc nam chữa
bệnh. Từ xa xưa, xuất phát từ việc sinh sống ở vùng sâu, vùng xa nên y học dân
tộc luồn giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Khoảng 90% gia đình người Dao có khả năng tự chữa những bệnh thống thường
cho các thành viên trong gia đình theo các bài thuốc truyền thống [9,14,16]. Hiện
nay, ở Ba Vì có rất nhiều gia đình làm thuốc nam, coi thuốc nam như một nghề
phụ, ngoài tự chữa bệnh trong gia đình họ còn chữa cho những người xung quanh
hoặc đi các vùng khác bán thuốc và chữa bệnh: Hà Nội, Hà Đông, Hoà Bình,
Vĩnh Phúc v.v Do yêu cầu của nghề thuốc Nam cần tính kiên nhẫn, cần cù nên

Tây” đã xác định 274 loài, thuộc 214 chi , 83 họ thực vật được người Dao ở
huyện Ba Vì sử dụng để chữa 15 nhóm bệnh khác nhau [9].
- Năm 2003, TS. Trần Văn ơn tiến hành đề tài “Góp phần nghiên cứu bảo
tồn cây thuốc ở Vưòm Quốc Gia Ba Vì.” đã xác định có 503 loài cây, thuộc 321
chi, 118 họ của 5 ngành thực vật khác nhau được người Dao ở Ba Vì dùng làm
thuốc chữa 29 nhóm bệnh/chứng khác nhau (410 loài là mọc hoang trong khu
vực VQG Ba Vì, 93 loài là cây trồng trong vưòfn). Trong đó có 135 loài thưòfng
được sử dụng . Đề tài cũng đã tìm hiểu, tổng họp tình hình thu hái, chế biến sử
dụng và buôn bán cây thuốc người Dao ở Vưòfn Quốc Gia Ba Vì, đánh giá tình
trạng bảo tồn và phát triển cây thuốc người Dao ở Vưòín Quốc Gia Ba Vì, đồng
thời tiến hành thử nghiệm nhân giống 18 loài cây thuốc có mức độ ưu tiên bảo
tồn cao [14].
Cho đến nay, hầu hết các nghiên cứu đều nhằm đánh giá mức độ đa dạng
của cây thuốc và sự phong phú của tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc của người
Dao mà chưa đi sâu nghiên cứu, đánh giá việc sử dụng cây thuốc của người Dao
để chữa một bệnh hay nhóm bệnh cụ thể.
Từ tháng 3/2005- 5/2005, Phan Thị Kim Ngân thực hiện đề tài “ Xác định
khả năng kháng nấm bệnh của một số cây thuốc của người Dao ở Ba Vì”, đã tiến
hành thử tác dụng của 9 cây thuốc trên 2 chủng nấm Candida albicans, và
Aspergillus niger xác định được 7 cây có tác dụng kháng nấm [13].
PHẦN II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
• Người Dao ở Ba Vì và tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc của người Dao
• Cây thuốc được người Dao sử dụng để chữa bệnh ngoài da.
2.2. Phương pháp nghỉèn cứu
2.2.1. Phương pháp điều tra cộng đồng
- Đia điểm: Tại xã Ba Vì (gồm 3 thôn: Hợp Sơn, Hợp Nhất, Yên Sofn)
- Nôi dune: Phỏng vấn trực tiếp các thầy lang dựa trên hiện vật là mẫu cây
tươi bao gồm các giai đoạn:

=
2/ 1.
2.2.3.2. Chủng thử
Chúng tôi tiến hành thử tác dụng của các cây thuốc trên hai mẫu bệnh
phẩm được xác định là:
+ Viêm da liên cầu.
+ Vẩy nến.
Chúng tôi cũng tiến hành thử tác dụng của các cây thuốc trên chủng đối
chứng là Candida alhicans.
- 'Bệnh phẩm được lấy là vẩy da của bệnh nhân đã được xác định là vẩy nến
và viêm da liên cầu. Các mẫu bệnh phẩm này thường chứa nhiều chủng vi khuẩn, vi
nấm khác nhau.
- Tiến hành câý phân lập chủng; Bệnh phẩm được cấy lên bề mặt thạch (trong
ống nghiệm). Sau 48h sẽ cho khuẩn lạc của nhiều chủng khác nhau. Tiến hành cấy
chuyển chủng có khuẩn lạc mọc nhiều nhất trên bề mặt thạch sang một ống nghiệm
khác. Sau 24-48h, thu được chủng vi khuẩn, vi nấm tương đối thuần, có thể dùng để
thử tác dụng.
Candida albicans
Hình 2.1. Hình ảnh các chủng nấm thử ( chụp ở vật kính 40).
2.233. Môi trường nuôi cấy:
Môi trường nuôi cấy là môi trường Sabouraud:
Pepton:
lOg
* Thạch:
20g
* Đường Glucose: 40g * Nước cất vừa đủ: llit
Điều chỉnh pH = 5,8-6,2 bằng các dung dịch HCL IN và NaOH IN
Hấp tiệt trùng môi trưòng ở 121°c trong 30 phút,
2.2.3.4 Thử tác dụng:
Phương pháp đục lỗ trên đĩạ thạch.

Bằng phưoỉng pháp phỏng vấn liệt kê tự do theo bộ phiếu có sẵn ( Phụ lục 2),
kết hợp với những nghiên cứu trước đây về cây thuốc người Dao, chúng tôi tổng
kết được có 81 cây thuốc, thuộc 68 chi, 41 họ thực vật, được người Dao sử dụng
để chữa các bệnh ngoài da (bảng 3). Những biểu hiện được cho là mắc bệnh
ngoài da bao gồm; ngứa, viêm nhiễm ngoài da, mụn nhọt, lở loét, chốc đầu, nước
ăn chân
Bảng3.1. Các họ có cây thuốc chữa bệnh ngoài da.
STT
Tên khoa hoc
Tên tiếng Việt
Số loài Số chi
1
Acanthaceae
Ôrô
3
2
2
Amaranthaceae
Rau Giền 2 2
3
Apiaceae Hoa tán
1 1
4
Apocynaceae Trúc đăo
4
3
5
Aracanthaceae
Ráy 1 1
6

Đâu 2 2
16
Hemandiaceae
Lưỡi chó
1 1
17
Lamiaceae
Hoa môi
1
1
18
Lauraceae Long não
2 2
19
Lobeliaceae
Lô bê li 1 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status