TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LÊ MINH TRIẾT
ĐÁNH GIÁ SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ
CHẤT LƯỢNG TRÁI CỦA QUÝT ĐƯỜNG
KHÔNG HỘT Ở GIAI ĐOẠN CÂY
BỐN NĂM TUỔI TẠI THÀNH PHỐ
VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
ĐÁNH GIÁ SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ
CHẤT LƯỢNG TRÁI CỦA QUÝT ĐƯỜNG
KHÔNG HỘT Ở GIAI ĐOẠN CÂY
BỐN NĂM TUỔI TẠI THÀNH PHỐ
VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS. Nguyễn Bá Phú Lê Minh Triết
MSSV: 3103373
Lớp: TT1011A1Cần Thơ - 2013
TS. Nguyễn Bá Phú
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư
ngành Trồng Trọt với đề tài:
“Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của
quýt Đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi
tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long”
Do sinh viên Lê Minh Triết thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng.
Ngày.….tháng… năm 2013
Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức
Ý kiến Hội đồng:
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013
Thành viên Hội đồng
DUYỆT KHOA
Trưởng Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng
- 1998-2003: học tại trường Tiểu học An Hội, Quận Ninh Kiều, Thành phố
Cần Thơ.
- 2003-2007: học tại trường Trung học Cơ sở Đoàn Thị Đểm, Quận Ninh
Kiều, Thành phố Cần Thơ.
- 2007-2010: học tại trường Trung học Phổ thông Châu Văn Liêm, Quận
Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ.
- 2010-2014: học tại trường Đại học Cần Thơ, Quận Ninh Kiều, Thành
phố Cần Thơ. Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2013
v
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng
Cha mẹ suốt đời tận tụy không quản gian lao khổ cực chăm lo cho tương
lai của con.
Xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến
dịch trái.
Kết quả cho thấy sự sinh trưởng của 2 dòng quýt Đường không hột tương
đương với nhau và cùng không khác biệt với quýt Đường có hột. Trong giai
đoạn đầu của sự phát triển trái, kích thước trái của 2 dòng quýt Đường không
hột và quýt Đường có hột phát triển tương đương nhau. Vào giai đoạn giữa, kích
thước trái của quýt Đường có hột phát triển nhanh hơn so với 2 dòng quýt Đường
không hột. Đến giai đoạn gần thu hoạch, kích thước trái của 2 dòng quýt Đường
không hột tương đương với quýt Đường có hột cho thấy kích thước trái của 2
dòng quýt Đường không hột phát triển nhanh hơn quýt Đường có hột ở giai
đoạn này. Tỷ lệ đậu trái, tổng số trái/cây và năng suất của 2 dòng quýt Đường
không hột tương đương nhau và không khác biệt với quýt Đường có hột. Chất
lượng trái của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương với nhau và không
khác với quýt Đường có hột.
Từ khóa: quýt Đường, không hột, sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất
lượng,
Lê Minh Triết. 2013. Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái
của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại Thành phố Vĩnh
Long, tỉnh Vĩnh Long. Luận văn tốt nghiệp Đại Học, khoa Nông Nghiệp và
Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ. 44 trang
vii
MỤC LỤC
Nội Dung
Trang
Lời cam đoan ii
Tiểu sử cá nhân iv
Lời cảm tạ v
Tóm lược vi
Mục lục vii
1.6.4 Gió, ẩm độ đất và không khí 11
viii
1.6.5 Dinh dưỡng 11
1.6.6 Bộ tán lá trên cây, số lá trên phát hoa 11
1.7 Yếu tố ảnh hưởng chất lượng trái cam quýt 12
1.7.1 Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến chất lượng trái sau thu hoạch 12
1.7.2 Kỹ thuật trồng 14
Chương 2: Phương tiện và phương pháp 16
2.1 Phương tiện 16
2.1.1 Thời gian và địa điểm 16
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 16
2.2 Phương pháp 16
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 16
2.2.2 Kỹ thuật canh tác 16
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 16
Chương 3: Kết quả và thảo luận 19
3.1 Sự sinh trưởng của 2 dòng quýt đường không hột tại Vĩnh Long 19
3.1.1 Đường kính gốc tháp 19
3.1.2 Đường kính thân tháp 20
3.1.3 Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp 22
3.1.4 Chiều cao cây của quýt đường không hột 23
3.1.5 Chiều rộng tán của quýt đường không hột 24
3.2 Sự phát triển trái của 2 dòng quýt đường không hột tại Vĩnh Long 25
3.2.1 Chiều cao trái 25
3.2.2 Đường kính trái 28
3.2.3 Tỷ số chiều cao trái/đường kính trái 32
3.3 Năng suất ở 2 dòng quýt đường không hột tại Vĩnh Long 34
3.3.1 Tỷ lệ đậu trái quýt đường không hột 34
phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013
35
3.4
Kích thước trái chín của quýt Đường không hột và có hột
tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013
36
3.5
Đặc tính vỏ trái và đặc tính thịt trái của quýt Đường không
hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long,
2013
38
3.6
Số lượng hột, số mài và tổng số tiểu noãn của trái quýt
Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh
Vĩnh Long, 2013
39
3.7
Trọng lượng các thành phần của trái quýt Đường không
hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long,
2013
40
3.8
Tỷ lệ (%) theo trọng lượng các thành phần của trái quýt
Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh
Vĩnh Long, 2013
41
3.9
Chất lượng dịch trái của quýt Đường không hột và có hột
tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013
43
thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013
30
3.7
Tỷ số chiều cao trái/đường kính trái quýt Đường không
hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long,
2013
32
3.8
Phẫu diện cắt ngang của quýt Đường không hột và có hột
tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013
37
3.9
Thể tích dịch trái của quýt Đường không hột và có hột tại
thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013
42 1
MỞ ĐẦU
Cam quýt là một trong các loại trái cao cấp được nhiều người ưa chuộng
và được sản xuất ở nhiều nước trên thế giới (Đường Hồng Dật, 2000). Diện tích
trồng cây cam quýt ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có hơn 40.000 hecta,
chiếm hơn 60% tổng diện tích trồng cây cam quýt trong cả nước và là loại cây
ăn trái có diện tích lớn nhất ở ĐBSCL (Trần Văn Hâu, 2009). Có nhiều giống
cam quýt được trồng nhiều ở ĐBSCL như: cam Sành, cam Mật, quýt Tiều, quýt
Đường, bưởi Năm Roi Trong đó, quýt Đường được trồng phổ biến nhiều nơi
và có giá trị kinh tế cao (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994). Vì có cấu trúc trái
đặc biệt và thời gian lưu trữ lâu dài, trái của cây cam quýt được xuất khẩu phổ
biến dưới dạng trái tươi, và nước ép trái cây từ cam quýt cũng trở nên ngày càng
1.1.1 Nguồn gốc
Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cây cam quýt có nguồn gốc từ vùng
Đông Nam châu Á, vùng xuất xứ của giống thuộc chi Citrus bắt đầu từ Đông
Ấn Độ kéo dài sang miền Nam của Trung Quốc, qua Nhật Bản xuống đến châu
Úc (Trần Thế Tục và ctv., 1998). Các giống quýt hàng hóa có nguồn gốc từ
Trung Quốc, Nhật Bản hoặc Đông Nam châu Á, riêng quýt Satsuma có nguồn
gốc hoàn toàn ở Nhật Bản (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004).
Quýt có nguồn gốc từ Đông Nam Á và quần đảo Malaysia. Vào năm 1805,
Abraham Hume đã đem cây quýt đầu tiên đến trồng ở nước Anh và sau đó phổ
biến ở vùng Maditerranean (Scora, 1975).
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv. (1999), cây quýt Đường không biết được
trồng ở ĐBSCL từ bao giờ và có phải nhập từ Thái Lan hay không, vì quýt
Đường trước đây được gọi là quýt Xiêm do trái lúc còn non ít chua nên người
dân Chợ Lách chở cây giống đem bán nên gọi là quýt Đường. Ở Thái Lan, trái
quýt giống như quýt Đường của ta được ép bán nước trái tươi ở chợ rất phổ
biến.
1.1.2 Phân loại
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), cây quýt Đường (còn
gọi là quýt Xiêm). Quýt Đường thuộc chi Citrus, nhóm nhỏ Eucitrus, họ
Rutaceae và họ phụ Aurantioideae.
Theo Mukhopadhyay (2004), cam quýt trong tự nhiên bình thường có bộ
nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 18, và quýt Citrus reticulata Blanco thuộc họ
Rutaceae, họ phụ Aurantioideae, chi Citrus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 18. Qua
khảo sát số lượng nhiễm sắc thể của các loài cam, chanh của Việt Nam, Thiều
Thị Tạo (1996) kết luận rằng nhóm cây cam quýt có 2n = 18. Đồng thời, trên
cây quýt Đường có bộ nhiễm sắc thể là 2n = 18 (Phùng Thị Thanh Tâm, 2005).
Theo Nguyễn Bá Phú và ctv. (2009), dựa trên phản ứng khuếch đại đặc
trưng với kỹ thuật Random Amplified Polymorphic DNA (RAPD), kết quả phân
tích cho thấy giữa quýt Đường không hột với cây quýt Đường có hột có mối
quan hệ di truyền gần nhau.
1.3.1 Đặc tính rễ
Rễ cây cam quýt phân bố nông, rễ bất định phân bố tương đối rộng và dày
đặc ở tầng đất mặt, ở tầng sâu 10-30 cm, hoạt động mạnh thời kỳ 1-8 năm tuổi
sau khi trồng, sau đó suy giảm nhiều và tái sinh kém (Trần Thế Tục và ctv.,
1998). Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) rễ cây cam quýt thường
mọc cạn, đa số rễ hút dinh dưỡng phân bố gần lớp đất mặt, sự phát triển của rễ
thường xen kẽ với sự phát triển của thân cành trên mặt đất.
4
1.3.2 Đặc tính thân cành
Cam quýt thuộc dạng thân gỗ, hình bán trụ, cây trưởng thành có thể có từ
4-6 cành chính. Tùy theo tuổi, điều kiện sống và phương pháp nhân giống mà
cây có chiều cao và hình thái khác nhau. Tán cây hình trụ hoặc hình cầu, phân
cành nhiều (Hoàng Ngọc Thuận, 1995 Trích dẫn của Trần Thị Bích Vân, 2008).
Quýt Đường là cây tiểu mộc, cao 2-4 m, có gai xanh (Phạm Hoàng Hộ,
2003). Khi cây quýt Đường được 5 năm tuổi có chiều cao trung bình là 4,1 m
(Trần Thượng Tuấn và ctv., 1999) và có những cây có chiều cao từ 5-5,5 m
(Trần Thế Tục và ctv., 1998).
Cây quýt Đường có mật độ cành thưa, mọc thẳng đứng nên tán có dạng
elip (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1999). Theo Trần Thế Tục và ctv. (1998) quýt
Đường có tán thưa, hướng ngọn và phân cành nhiều, chiều rộng tán là 2,5 m.
1.3.3 Đặc tính lá
Lá cây cam quýt gồm một phiến lá hình elip với cuống lá có một eo lá hay
còn gọi là cánh lá. Cánh lá có kích thước khác nhau: Rất to ở lá bưởi, nhỏ ở lá
cam, khá nhỏ ở quýt và không có ở lá chanh Tây. Hình dáng lá cam quýt rất
khác nhau, có thể nhọn đuôi lá hoặc chẻ lõm (Phạm Văn Duệ, 2005).
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv. (1999) cho rằng lá quýt Đường thuộc lá
đơn, không rụng theo mùa, phiến lá có màu xanh, dạng lá hình mác. Chiều dài
lá trưởng thành khoảng 8,4 cm và chiều rộng lá khoảng 4,2 cm. Cuống lá ngắn
trái có màu xanh, láng. Trái cao trung bình 5,5 cm và đường kính trái 6,2 cm,
trọng lượng trái khoảng 100-120 g (Trần Thế Tục và ctv., 1998).
Quýt Đường trung bình có 13,2 hột/trái, nặng 2,8 g và chiếm 2,5% trọng
lượng trái, hột nhiều phần nào ảnh hưởng đến chất lượng trái. Hột màu vàng
nhạt, dạng cầu, dài 11,9 mm, rộng 8,2 mm, vỏ hột láng, tử diệp và phôi đều có
màu trắng xanh và mỗi hột trung bình có khoảng 2 phôi (Trần Thượng Tuấn và
ctv., 1999).
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv. (1999), lượng nước trái nhiều, có màu
cam, thơm, ngon. Nước trái có độ Brix là 9,0%, trị số pH là 3,6 và múi dai , thịt
trái có màu cam, mềm, con tép lớn, lượng dịch trái nhiều, thơm ngon.
1.4 ĐẶC TÍNH KHÔNG HỘT Ở CAM QUÝT
Trong thực tế sản xuất, chúng ta có thể thấy trái không hột ở những giống
có hột, có thể yếu tố ngoại cảnh đã tác động đến hiện tượng này. Nguyễn Bá
Phú và Nguyễn Bảo Vệ (2008) đã kết luận thời vụ có liên quan đến số hột trên
trái cam Sành tại huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, vào mùa thuận có số hột
cao nhất (21,1-22,1 hột/trái) và thấp hơn vào mùa nghịch (13,9-17,5 hột/trái);
và cam Sành có khả năng trinh quả sinh, tạo và phát triển trái không cần thụ
phấn.
Theo Varoquaux và ctv. (2000), trái cam quýt được xem là không hột khi
số hột nhỏ hơn 5 hột. Ở Mỹ, trái cam được xem là không hột khi có từ 0-6 hột
(Purdure University, 2005).
1.4.1 Hiện tượng trinh quả sinh
Theo Phạm Hoàng Hộ (1966), hột là điều kiện có của trái, nhưng có vài
trường hợp trái phát triển mà không có hột. Hiện tượng đó là trinh quả sinh, sự
trinh quả sinh có thể xảy ra theo hai cách: không có thụ tinh (trinh quả sinh thật)
hoặc có thụ tinh song hợp tử, hoại đi rất sớm và noãn cũng vậy (trinh quả sinh
giả).
Theo Trần Văn Hâu (2009), trinh quả sinh là khả năng sản xuất trái mà
không cần thụ phấn. Có thể chia làm ba kiểu trinh quả sinh:
không có khả năng thụ phấn, từ đó không có khả năng tạo thành hột. Sự tự bất
tương hợp có thể do sự ngăn cản quá trình vươn dài của hạt phấn cùng loài trong
vòi nhụy.
Trên quýt Satsuma và Monica trong quá trình thụ phấn, ống phấn vươn tới
bầu noãn chỉ trong 2 ngày, nhưng đối với hoa tự thụ phấn thì không tìm thấy
ống phấn trong bầu noãn 8 ngày. Quýt Satsuma không có ống phấn vươn tới
bầu noãn do có sự tự bất tương hợp khi tự thụ phấn (Alvarado và ctv., 2004).
Có 2 hệ thống tự bất tương hợp là tự bất tương hợp giao tử và tự bất tương
hợp bào tử. Đặc tính bất tương hợp bào tử là ức chế sự nảy mầm của hạt phấn,
bất tương hợp giao tử thường làm chậm sự phát triển của ống phấn (Jackson và
7
Gmitter, 1997). Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Bé và Nguyễn Văn Kha (2010)
đã khẳng định nguyên nhân không hột của bưởi Năm Roi là tự bất tương hợp
và sẽ có hột khi được thụ phấn chéo với hạt phấn của cây cam quýt khác (bưởi
Lông, bưởi Da Xanh, cam Sành).
1.4.2.3 Hiện tượng bất dục giao tử
Trần Thượng Tuấn (1992) cho rằng tính bất dục giao tử là không có khả
năng tạo ra hạt phấn. Nhiều giống cây trồng thực tế là không hột bởi khả năng
hạt phấn sống thấp hoặc bầu noãn bất dục (Frost và Soost, 1968).
Trần Thượng Tuấn (1992) cho rằng nguyên nhân của hiện tượng đực bất
dục là do giao tử đực không có sức sống. Hiện tượng đực bất dục có cả ở cây tự
thụ phấn cũng như cây giao phấn là do các đột biến làm ngừng trệ sự phát triển
của giao tử đực vào những giai đoạn khác nhau. Đực bất dục thường thấy trong
tự nhiên có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra như điều kiện bất lợi
của môi trường, yếu tố di truyền như sai hình nhiễm sắc thể, hay do các gen
trong nhân tế bào, do yếu tố di truyền trong tế bào chất hoặc do sự tác động tổng
hợp của các yếu tố di truyền trong nhân và tế bào chất.
Yamamoto và ctv. (1995) cho rằng mức độ hữu dục hay bất dục cái có thể
hoa đã tàn, nướm nhụy đã khô, chuyển màu và không còn khả năng nhận phấn),
thì việc thụ tinh cũng khó thực hiện được do tiểu noãn chưa trưởng thành. Chính
đặc điểm tiểu noãn “phát triển muộn”, không đồng bộ với các bộ phận khác của
hoa là nguyên nhân làm cho trái không hột trên cây quýt Đường không hột.
Đặc điểm tiểu noãn trưởng thành muộn hơn vài ngày so với thời điểm hoa
nở cũng được ghi nhận trên giống cam Washington Navel và quýt Satsuma
(Jackson và Gmitter, 1997), là những giống cam quýt không hột trên thế giới.
Mặc dù có thể xảy ra quá trình thụ phấn nhưng không thể thực hiện thụ tinh vì
chưa có tiểu noãn trưởng thành, điều này dẫn đến sự không hột của trái (Nguyễn
Bá Phú, 2013).
1.5 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG SỰ PHÁT TRIỂN TRÁI CAM QUÝT
Theo Vũ Văn Vụ (1998), sự sinh trưởng của bầu noãn thành trái và sự lớn
lên của trái là kết quả của sự phân chia tế bào và sự giãn dài tế bào. Ngoài ra,
trong một vài trường hợp sự sinh trưởng của trái còn do sự tăng trưởng của các
khoảng gian bào đặc biệt là giai đoạn sau. Sự tăng về thể tích, khối lượng tươi,
khô và đường kính của trái xảy ra nhanh sau khi thụ phấn. Quá trình sinh trưởng
của trái được điều chỉnh bằng hoocmon nội sinh. Sự sinh trưởng của bầu noãn
xảy ra mạnh mẽ nếu có số lượng hạt phấn rơi trên nướm nhụy càng nhiều, vì hạt
phấn là nguồn giàu auxin.
Nguyễn Kim Thành và Châu Ngọc Thuận (2005) đã nhận định rằng hàm
lượng auxin trong bầu noãn của các loài có hột cao hơn nhiều so với các loài
không hột, khi phân tích hàm lượng auxin trong bầu noãn của các loài có hột và
không hột.
1.5.1 Nhiệt độ
Theo Trần Văn Hâu (2009), một số đặc tính trái như kích thước, hình dạng,
thời gian chín, bị ảnh hưởng rất mạnh bởi yếu tố khí hậu. Trong đó, nhiệt độ
có ảnh hưởng quan trọng đến phẩm chất và sự phát triển trái (Nguyễn Bảo Vệ
và Lê Thanh Phong, 2004). Tỷ lệ sinh trưởng của trái tối hảo trong điều kiện
nhiệt độ từ 20-25
o
trưởng của thực vật rất lớn. Trước hết là ảnh hưởng đến sự hấp thu và thoát hơi
nước, ảnh hưởng đến sự vận chuyển các chất tan trong cây, ảnh hưởng đến các
phản ứng sinh hóa xảy ra trong cây, ảnh hưởng đến sự giãn dài tế bào, đến các
hoạt động hô hấp, chuyển hóa trong cơ quan. Nước rất cần thiết cho cam quýt
trong thời kỳ ra hoa kết quả và phát triển trái mạnh (Trần Thế Tục và ctv., 1998).
Theo Phạm Văn Côn (2004), cam quýt cần nhiều nước ở các thời kỳ nảy
mầm, phân hóa mầm hoa, thời kỳ kết trái và phát triển trái. Yêu cầu nước của
các giống loài có khác nhau: chanh cần nhiều nước hơn quýt, quýt cần nhiều
nước hơn cam.
1.5.3 Ẩm độ
Ở thời kỳ hoa nở cần ẩm độ không khí thấp 70-75%. Thời kỳ phát triển
ẩm độ cao trái sẽ phát triển nhanh, phẩm chất tốt (Trần Thế Tục và ctv., 1998).
1.5.4 Ánh sáng
Ánh sáng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển trái (Louis,
2008), là nguồn năng lượng cho cây và cho sự phát triển của trái, lá quang hợp
tối đa ở nơi có đầy đủ ánh sáng và có mức độ che phủ vừa phải (Wheaton và
ctv., 1999). Ánh sáng cung cấp năng lượng cho tiến trình quang hợp để tạo nên
dinh dưỡng cơ bản cho cây phát triển và quá trình ra hoa và tạo trái. Tiến trình
này được thực hiện chủ yếu trong lá. Các lá này phải tiếp nhận đủ ánh sáng. Rất
ít trái được phát triển nơi ánh sáng không đủ hay các nhánh chết không đủ lượng
10
ánh sáng để duy trì. Ánh sáng giảm dẫn đến sự phát triển trái trở nên chậm và
ảnh hưởng đến giá trị cũng như màu sắc trái (Phillips, 1978).
Số lượng ánh sáng cần thiết cho sự thành lập trái và phát triển tán lá không
chỉ đặc biệt với cây cam quýt, cường độ ánh sáng trong tán cây giảm mạnh mẽ
do sự che phủ bởi các lá bên ngoài (Heinicke, 1975).
1.5.5 Dinh dưỡng
Đạm (N) giữ vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của cây cũng
Sự ra hoa cây cam quýt kéo dài trong một tháng hoặc lâu hơn ở khí hậu
cận nhiệt đới. Tuy số lượng hoa ra nhiều nhưng tỷ lệ đậu trái thấp (2,5-5,4%),
như giống cam Valencia. Quýt “Nagpur” và nhiều loại cam quýt thương phẩm
khác cũng phát triển tương tự. Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến đậu trái, đặc
11
biệt là nhiệt độ cao (38-40
o
C) và tình trạng khô hạn trong suốt thời gian ra hoa,
sau khi đậu trái có thể dẫn đến sự rụng trái non (Ladaniya, 2008).
1.6.2 Đất
Cam quýt không ưa đất nặng vì trồng trên đất nặng trái nhỏ lại, ít nước.
Đất phù sa, thoát nước tốt là thích hợp với cam quýt (Nguyễn Văn Luật, 2006).
Vào mùa mưa, đất bảo hòa nước nên thiếu oxy làm cho bộ rễ hoạt động kém
làm cho lá và trái non rụng nhiều (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994).
1.6.3 Nước
Lúc ra lộc, chồi non, hoa đang nở và trái đang đậu mà thiếu nước thì trái
non rụng nhiều (Nguyễn Văn Luật, 2006). Theo Trần Thượng Tuấn và ctv.
(1994), nhu cầu về nước trong các thời kỳ sinh trưởng và phát triển được tóm
tắt như sau: ở giai đoạn hoa nở, đậu trái và phát triển các lộc mới, cần có nước
đầy đủ. Chỉ hơi thiếu nước thôi cũng làm cho lá nhỏ đi, lộc ngắn lại. Thiếu nước
trầm trọng làm cho lá, lộc kém phát triển, hoa không nở hết, đậu trái kém và bị
rụng nhiều.
1.6.4 Gió, ẩm độ đất và không khí
Tốc độ gió vừa phải ảnh hưởng tốt đến lưu thông khí, điều hòa độ ẩm,
giảm sâu bệnh, cây sinh trưởng tốt. Nhưng tốc độ gió lớn ảnh hưởng đến khả
năng đồng hóa của cây cam quýt (Hoàng Ngọc Thuận, 2000). Ẩm độ đất và
không khí cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu trái cam quýt. Độ ẩm không khí quá
cao gây hiện tượng nức và rụng trái (Hoàng Ngọc Thuận, 1995 Trích dẫn của
nhiều lá có tỷ lệ giữ trái đến khi trưởng thành cao nhất. Phát hoa mang lá có tỷ
lệ đậu trái cao hơn do gia tăng sự đồng hóa CO
2
và mức độ cung cấp
carbohydrate hoặc do sự nối các mạch nhựa được cải thiện để làm trung gian
cho trái phát triển.
1.7 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG TRÁI CAM QUÝT
1.7.1 Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến chất lượng trái sau thu
hoạch
Có sự tương quan giữa các điều kiện sản xuất và chất lượng sau thu hoạch
nếu muốn đạt được chất lượng tốt nhất và ổn định đến tay người tiêu thụ. Nhiều
yếu tố sản xuất có thể ảnh hưởng đến chất lượng sau thu hoạch, sau khi chín và
bảo quản. Các yếu tố sơ cấp trước thu hoạch gồm khí hậu, dinh dưỡng và các
chất điều hòa sinh trưởng thực vật. Các yếu tố thứ cấp là chất lượng và quản lý
đất bao gồm các tác động nơi trồng, chế độ tưới, loại đất, chất lượng gốc ghép,
che mát, dinh dưỡng đến thị hiếu, chất lượng ăn nếm (Winsor, 1979; Ferguson,
1980; Shear, 1980; Sharples, 1984; Beverly và ctv., 1993; Hofman và ctv., 1997
Trích dẫn của Trần Ngọc Phương Anh, 2010).
Có thể xem chất lượng trái là một hàm số của các dòng năng lượng, nước
và dinh dưỡng chuyển dịch trong cây trồng (Beverly và ctv., 1993 Trích dẫn của
Trần Ngọc Phương Anh, 2010), nếu có sự mất cân đối của các dòng này thì chất
lượng trái sẽ sẽ bị ảnh hưởng. Có rất nhiều yếu tố, tuy nhiên có những yếu tố
ảnh hưởng đến dinh dưỡng và sự hấp thu dinh dưỡng bao gồm:
1.7.1.1 Nơi trồng
Theo Hofman và ctv. (1997) đã có nhiều báo cáo về ảnh hưởng của nơi
trồng đến chất lượng trái. Các yếu tố gây nên sinh trưởng nhanh hoặc sinh
trưởng khác nhau của trái có thể ảnh hưởng đến các khuyết tật của trái như nứt
vỏ và có màu nâu dịu hơi đỏ. Các điều kiện tối ưu cho sinh trưởng của trái có
thể làm rút ngắn thời gian chín vàng của trái hoặc làm tăng thời gian xanh của
chín không đẹp trong khi nhiệt độ thấp các sắc tố hình thành nhiều hơn. Ở miền
Nam thường biên độ nhiệt giữa ngày và đêm không cao nên khi chín vỏ trái
thường có màu xanh, tuy nhiên yếu tố tạo màu sắc khi chín còn ảnh hưởng đến
giống trồng (Lê Thanh Phong và ctv., 1994 Trích dẫn của Trần Ngọc Phương
Anh, 2010).
Nhìn chung nhiệt độ đất và không khí có ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động
của cam quýt: phát lộc sinh cành mới, sự hoạt động của bộ rễ, nhiệt độ chênh
lệch ngày và đêm lớn trái sẽ phát triển nhanh, ảnh hưởng đến khả năng tích lũy
và vận chuyển đường, acid trong cây và trái (Hoàng Ngọc Thuận, 2000).
- Ánh sáng
Các yếu tố làm giảm sự tiếp cận ánh sáng của trái hoặc các lá kề dưới dẫn
đến giảm TSS, và thường có độ acid cao hơn. Màu sắc vỏ trái, đặc biệt là màu
đỏ và xanh, thường bị giảm (Combrink và ctv., 1995). Cam quýt là loại cây
không ưa ánh sáng trực xạ. Cường độ ánh sáng thích hợp từ 10.000-15.000 lux
tương đương ánh sáng khoảng 8 giờ sáng và 4-5 giờ chiều trong ngày mùa hè.
Cường độ ánh sáng quá cao có thể làm nám trái, mất nước nhiều, sinh trưởng
kém dẫn đến tuổi thọ kém (Lê Thanh Phong và ctv., 1994). Ánh sáng thấp có
thể làm giảm độ chắc của trái lúc thu hoạch và sau khi bảo quản, và tăng mức
độ hao hụt khối lượng trái trong thời gian bảo quản, nhưng ở các mức độ khác
nhau. Điều này có thể một phần do sự tương tác ánh sáng với quá trình phát