TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN MINH DỮNG
ĐÁNH GIÁ SỰ SINH TRƢỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƢỢNG
TRÁI CỦA QUÝT ĐƢỜNG KHÔNG HỘT Ở GIAI ĐOẠN
CÂY 5 NĂM TUỔI TẠI HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƢ NÔNG HỌC
Cần Thơ, 2013
i
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Học với đề tài:
“Đánh giá sự sinh trƣởng, năng suất và chất lƣợng trái của quýt Đƣờng
không hột ở giai đoạn cây 5 năm tuổi tại huyện Lai Vung,
tỉnh Đồng Tháp”
Do sinh viên Trần Minh Dững thực hiện.
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp.
Cần Thơ, ngày …. tháng …. năm 2013
Cán bộ hướng dẫn Cần Thơ, ngày …. tháng …. năm 2013
Thành viên Hội đồng ……………… ……………………. ………………
DUYỆT KHOA
Trưởng khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân. Các
số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây.
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng cha mẹ đã sinh ra con, nuôi dưỡng, chăm sóc con, vất vả suốt
cả đời vì tương lai và sự nghiệp của các con. Chân thành cám ơn các chị đã
luôn luôn chăm sóc, động viên tôi từ thời thơ ấu đến tận hôm nay.
Chân thành biết ơn thầy Nguyễn Bá Phú, người đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo tôi những kiến thức bổ ích, luôn luôn giúp đỡ và động viên tôi trong
suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Chân thành biết ơn cô cố vấn học tập Trần Thị Thanh Thủy, cô luôn
quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập.
Chân thành biết ơn toàn thể quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ đã tận
tình dìu dắt, truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian theo học
tại trường.
Chân thành cảm ơn anh La Hoàng Châu đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
tôi, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu và viết luận
văn, các bạn Đinh Thanh Tông, Đinh Văn Tàu, Tống Trung Trực, Tô Thị Bé,
Hồ Văn Hạnh, Lê Minh Triết, Phạm Minh Toàn đã hỗ trợ tôi thực hiện thí
nghiệm.
Thân gởi tất cả các bạn lớp Nông Học khóa 36 lời chúc tốt đẹp nhất,
chúc các bạn sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong tương lai.
vi TÓM LƢỢC
Đề tài: ”Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt
Đường không hột ở giai đoạn cây 5 năm tuổi tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng
Tháp” được thực hiện nhằm mục đích so sánh giữa hai dòng quýt Đường
không hột và giống quýt Đường có hột về: (1) sự sinh trưởng, (2) sự phát triển
vii
MỤC LỤC
Nội Dung
Trang
LỜI CAM ĐOAN iii
TIỂU SỬ CÁ NHÂN iv
LỜI CẢM TẠ v
TÓM LƢỢC vi
MỤC LỤC vii
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH x
Mở đầu 1
Chƣơng 1 Lƣợc khảo tài liệu 2
1.1 Nguồn gốc và đặc tính thực vật cây cam quýt 2
1.1.1 Nguồn gốc 2
1.1.2 Phân loại 2
1.2 Sự sinh trưởng và phát triển cây cam quýt 2
1.2.1 Định nghĩa sự sinh trưởng và phát triển 2
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển 3
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ra hoa, đậu trái, năng suất và phẩm chất trái .4
1.3 Đặc tính hình thái của cam quýt và cây quýt đường 6
1.3.1 Đặc tính rễ 6
1.3.2 Đặc tính cây 7
1.3.3 Đặc tính lá 7
1.3.4 Đặc tính hoa 8
1.3.5 Đặc tính trái 9
̉
a cây 26
3.4 Chất lượng trái của 2 dòng quýt đường không hột 27
3.4.1 Đặc điểm hình thái thực vật của trái quýt Đường không hột 27
3.4.2 Các thành phần trọng lượng của 2 dòng quýt Đường không hột 30
3.4.3 Chất lươ
̣
ng di
̣
ch tra
́
i cu
̉
a 2 dòng quýt Đường không hột 31
Chƣơng 4 Kết luận và đề nghị 33
4.1 Kết luận 33
4.2 Đề nghị 33
Tài liệu tham khảo 34
Phụ chƣơng 1 các bảng kết quả 38
Phụ chƣơng 2 các bảng phân tích phƣơng sai 41
ix
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tựa
Trang
3.1
Tỷ lệ đậu trái (%) từ khi hoa nở đến 36 tuần sau khi hoa nở
của 2 dòng quýt đường không hột (Lai Vung – Đồng Tháp,
̣
ng ca
́
c tha
̀
nh phần cu
̉
a tra
́
i của 2
dòng quýt Đường không hột (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
31
3.8
Chất lươ
̣
ng di
̣
ch tra
́
i cu
̉
a cu
̉
a 2 dòng quýt Đường không hột
(Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
32
Chiều rộng tán (cm) của hai dòng quýt Đường không hột
theo thời gian (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
20
3.6
Chiều cao trái (mm) theo thời gian của 2 dòng quýt Đường
không hột (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
22
3.7
Đường kính trái (mm) theo thời gian của 2 dòng quýt
Đường không hột (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
23
3.8
Tỷ số cao trái/đường kính trái theo thời gian của 2 dòng
quýt Đường không hột (Lai Vung – Đồng Tháp, 2013)
24
3.9
Dạng trái của quýt Đường không hột (Lai Vung – Đồng
Tháp, 2013)
27
3.10
Phẫu diện cắt ngang của quýt Đường không hột (Lai Vung –
Đồng Tháp, 2013)
28
3.11
Thể tích dịch trái của 2 dòng quýt Đường không hột (Lai
Vung – Đồng Tháp, 2013)
32 1
Chƣơng 1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CÂY CAM QUÝT
1.1.1 Nguồn gốc
Cam quýt (Citrus), hiện nay được trồng ở nhiều nước trên thế giới đều có
nguồn gốc từ các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Châu Á
(Đường Hồng Dật, 2003). Có nguồn gốc bắt đầu từ Trung Quốc, Ấn Độ nhờ
con đường mua bán, vận chuyển và được trồng ở Nhật Bản (Fake, 2004).
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv., (1994) nhiều giống cam quýt như cam
Sành, cam Mật, cam Soàn, quýt Tiều, quýt Đường, chanh Ta, chanh
Núm, được trồng nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long, cây quýt Đường (quýt
Xiêm) tên khoa học Citrus nobilis var. Microcarpa Hassk (Nguyễn Bảo Vệ và
Lê Thanh Phong 2004), được chú ý trồng nhiều nơi với giá trị kinh tế cao.
1.1.2 Phân loại
Phân loại cây cam quýt thì phức tạp do sự tương quan về sinh lý giữa họ
cam quýt và chi liên quan (Hvarleva và ctv., 2008).
Quýt được chia làm 3 nhóm: Nhóm quýt Citrus reticulate, nhóm quýt
King (Citrus nobilis) và nhóm quýt lai bưởi (Citrus reticulate x Citrus
maxima) (FAO, 2004).
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), quýt đường thuộc
giống Citrus nhóm nhỏ Encitrus, họ Rutaceae và họ phụ Aurantioideae. Họ
Rutaceae gồm có 169 giống và 1.800 loài (Pfeil, 2008). Đối với họ phụ
Aurantioideae thì có khoảng 250 loài trong đó có 3 chi được trồng phổ biến:
Chi cam quýt ( Citrus), chi Cam ba lá (Poncirus), và chi Quất (Fortunella,
còn gọi là: Tắc) (Trần Thế Tục và ctv., 2006). Quýt Đường cũng có bộ nhiễm
sắc thể 2n = 18 giống với bộ nhiễm sắc thể trên cam quýt (Phùng Thị Thanh
Tâm, 2005).
1.2 SỰ SINH TRƢỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CÂY CAM QUÝT
1.2.1 Định nghĩa sự sinh trƣởng và phát triển
o
C. Nói chung nhiệt độ bình quân bằng và lớn hơn 15
o
C mới
trồng cam quýt thuận lợi ( Phạm Văn Côn, 2003).
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), nói chung nhiệt độ
bình quân bằng và lớn hơn 15
o
C mới trồng cam quýt thuận lợi. Ngoài ra, nhiệt
độ còn tác động đến môi trường rễ, khoảng 25-26
o
C là khoảng nhiệt độ tối hảo
để rễ cây hút đạm tốt nhất. Trên cây cam quýt sự kích thích mầm hoa bắt đầu
sau khi ngừng sinh trưởng dinh dưỡng trong thời gian nghỉ đông ở vùng Á
nhiệt đới hoặc trong thời gian khô hạn ở vùng nhiệt đới (Trần Văn Hâu, 2009).
Ánh sáng
Theo Phạm Văn Côn (2003), các loài cam quýt không thích ánh sáng
mạnh, ưa ánh sáng tán xạ có cường độ 10.000-15.000 Lux tương ứng với 0,6
calo/cm
2
- điều kiện vào lúc 8 giờ sáng và 4-5 giờ chiều vào những ngày
quang mây mùa hè. Cường độ ánh sáng thích hợp trung bình ở cam quýt 2.500
giờ/năm (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1999).
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), Trong họ cam quýt thì
bưởi tương đối chịu đựng được lượng ánh sáng cao, kế đến là cam. Cam Sành
và quýt thì thích lượng ánh sáng vừa phải.
Nƣớc và ẩm độ
Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2004), nước ảnh hưởng đến sự
sinh trưởng của thực vật rất lớn. Trước hết là ảnh hưởng đến sự hấp thu và
thoát hơi nước, ảnh hưởng đến sự vận chuyển các chất tan trong cây, ảnh
chịu được rét (Nguyễn Hữu Đống và ctv., 2003). Cam quýt cần hấp thu chất
dinh dưỡng quanh năm, nhất là thời kỳ nở hoa và khi cây ra đọt non cây cần
cung cấp nhiều dưỡng chất (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004).
Hàm lượng đạm cao trong cây còn tơ có thể kích thích quá trình sinh
trưởng quá mạnh và sản xuất chồi sinh trưởng hơn là chồi sinh sản. Ngược lại
mức độ đạm thấp thúc đẩy sự ra hoa nhiều mặc dù sự đậu trái và năng suất
thấp (Trần Văn Hâu, 2009).
Calcium (Ca) cũng là chất cần thiết cho cam quýt phát triển bình thường,
nhiều nhà nghiên cứu về cam quýt nhận thấy, nhu cầu calcium của cam quýt
gần như Đạm (Nguyễn Hữu Đống và ctv., 2003).
1.2.3 Các yếu tố ảnh hƣởng đến ra hoa, đậu trái, năng suất và phẩm
chất trái
1.2.3.1 Ánh sáng
Ánh sáng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của trái
(Louis, 2008), là nguồn năng lượng cho cây và cho sự phát triển của trái, lá
quang hợp tối đa ở nơi có đầy đủ ánh sáng và mức độ che phủ vừa phải
(Wheaton và ctv., 1999). Tầm quan trọng của ánh sáng thể hiện qua năng suất
5
và chất lượng của trái, ánh sáng cung cấp năng lượng cho tiến trình quang hợp
để tạo nên dinh dưỡng cho cây phát triển và cho quá trình ra hoa và tạo trái,
tiến trình này được thực hiện chủ yếu trong lá, các lá này phải tiếp nhận đủ
ánh sáng, rất ít trái được phát triển nơi ánh sáng không đủ, ánh sáng giảm dẫn
đến sự phát triển trái trở nên chậm ảnh hưởng đến giá trị cũng như màu sắc
trái. Do đó, kích thước cây độ che chắn hay khoảng cách trồng phải được điều
chỉnh nhằm tiếp xúc được với ánh sáng mặt trời (Phillips, 1978). Ánh sáng
ảnh hưởng đến cây chủ yếu do cường độ ánh sáng, chất lượng và thời gian
chiếu sáng, ảnh hưởng về cường độ ánh sáng cũng cho thấy biểu hiện như cây
trồng ngoài sáng chiều dài thân ngắn hơn cây trồng trong mát nhưng lượng
và do carbon mất cân bằng đẫn đến sự rụng trái (Trần Văn Hâu, 2009).1.3.3.3 Gió
Phần lớn các loại cam quýt có thể chịu được bão nhỏ trong một thời gian
ngắn. Gió nhẹ với vận tốc 5-10 km/giờ có tác dụng hạ thấp nhiệt độ của vườn
trong mùa hè, cây được thoáng mát giảm sâu bệnh. Theo Nguyễn Bảo Vệ và
Lê thanh Phong (2004), cho rằng khi lập vườn cũng cần chú ý hướng gió để
bố trí cây trồng chắn gió, giúp điều hòa được không khí trong vườn, giảm đổ
ngã cây thụ phấn tốt trong mùa nở hoa.
1.2.3.4. Nƣớc
Theo Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (1999), cho rằng trong mùa khô hạn nếu cây
nhận được nhiều nước sẽ cho ra hoa tốt, nếu thiếu nước cây tăng trưởng không
bình thường, trái non rụng hoặc chín sớm, phẩm chất sản lượng kém đi, cây
trở nên yếu ớt, nấm bệnh dễ xâm hại. Nước dư thừa có thể làm trái to hơn,
6
giảm hương vị, độ cứng và nhiều rối loạn sinh lý hơn. Thiếu nước có thể làm
giảm Ca trong trái, có thể làm tăng sự cạnh tranh dinh dưỡng giữa lá và trái,
sự mất ẩm độ nhiều của trái trong thời gian chín thường kéo theo tỷ lệ bệnh và
rối loạn sinh lý cao hơn ở trái (Hofman và ctv., 1997).
1.2.3.5 Số lá trên phát hoa
Theo Phạm Văn Duệ (2005), lá là cơ quan có nhiệm vụ quang hợp, tổng
hợp chất hữu cơ, đường, để nuôi cây và tạo năng suất trái. Vì vậy mỗi trái cần
có số lá nhất định để nuôi trái, số lá nuôi trái càng nhiều thì trái sẽ to hơn.
Trên một phát hoa có mang ít hoa và nhiều lá thì sẽ có tỷ lệ đậu trái cao hơn
các phát hoa khác và trái phát triển đến trưởng thành chiếm tỷ lệ cao nhất
(Trần Văn Hâu, 2009). Theo Hoàng Ngọc Thuận (1995), khi bộ lá của cây
luôn xanh, không bị rụng sớm và chuyển lục thì tỷ lệ đậu trái cao hơn, trái sinh
mực nước ngầm ở tầng nông. Độ sâu rễ cọc phụ thuộc cây trồng bằng hột hay
cây tháp.
Nhìn chung rễ cam quýt phân bố ở tầng sâu 10-30 cm. Rễ hút tập trung ở
tầng sâu 10-25 cm (Hoàng Ngọc Thuận, 1995). Rễ phát triển tốt ở nhiệt độ 10-
37
o
C, nếu nhiệt độ cao hay thấp hơn sự phát triển của rễ sẽ ngừng lại và độ
ẩm đất dưới 1%, tỷ lệ oxi trong đất dưới 1,2-1,5% thì rễ ngừng phát triển
(Nguyễn Hữu Đống và ctv., 2003).
1.3.2 Đặc tính cây
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv., (1994) cây cam quýt thuộc loại thân gỗ,
dạng bụi hay bán bụi, cách phân cành cũng rất đa dạng: phân cành hướng
ngọn, phân cành ngang, phân cành hỗn hợp,… Quýt Đường có thể ra đọt rãi
rác quanh năm tùy tình trạng dinh dưỡng của cây và độ ẩm của đất (Trần
Thượng Tuấn, 1999). Cam quýt thường ra rất nhiều cành (Vũ Công Hậu,
1996). Dựa vào đặc tính của thân cành để có phương thức canh tác và chăm
sóc tốt: tạo tán, tạo hình, tạo cành mẹ,…cho phù hợp và đạt năng suất cao. Để
có được những yếu tố này thì nhiệt độ đất và không khí phải thích hợp để cho
cây cam quýt phát lộc và sinh cành mới (Hoàng Ngọc Thuận, 1995).
Theo Phạm Hoàng Hộ (2003), cây quýt Đường thuộc loại cây tiểu mộc,
cao từ 2-4 m. Khi cây quýt Đường được 5 năm tuổi có chiều cao trung bình là
4,1 m và Đường kính tán trung bình là 2,5 m (Trần Thế Tục và ctv., 1998).
Theo Trần Thị Bích Vân (2009), kết quả ghi nhận được khi khảo sát đặt tính
cây của hai cây quýt Đường không hột và cây quýt Đường có hột đều có dạng
tán cây hình elip, cây có dáng thẳng đứng, mật độ cành thưa, hướng ngọn và
phân cành nhiều. Cây có cấu trúc thân láng, góc độ cành vừa phải và đọt non
có màu xanh nhạt.
Theo khảo sát của Hồ Phương Linh (2008), ở nhóm quýt Đường không
hột và nhóm quýt Đường có hột bình thường ghi nhận được: chiều cao cây
biến động từ 3,2-4,0 m, đường kính tán từ 3,1-4,5 m, đường kính thân biến
Công Hậu, 1996). Thứ tự cấu tạo hoa cam quýt từ ngoài vào trong: Đầu tiên là
lá đài, sau đó là cánh hoa, bao phấn và cuối cùng là lá noãn (Jackson and
Gmiter, 1997). Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), hoa cam
quýt có dạng hình thuẩn tròn, đỉnh hơi to hơn phía dưới, đường kính rộng từ
2,5-4 cm, rất thơm, thường là hoa lưỡng tính. Đa số các giống quýt chỉ có
cành hoa đơn. Vì vậy, quýt thường có tỷ lệ đậu trái cao hơn cam (Đường Hồng
Dật, 2003).
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994), hoa quýt nhỏ, đường kính 1,5-
2,5 mm, 5 cánh trắng, 20 nhị đực, bầu noãn 10-15 ngăn. Cánh hoa quýt Đường
trắng, dài 7-10 mm (Phạm Hoàng Hộ, 2003). Đài hoa cam quýt dai không
rụng, hình chén, có 3-5 lá đài (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994).
Theo Nguyễn Bá Phú và ctv. (2009) khảo sát khi hoa nở ở hai cây quýt
Đường không hột và cây quýt Đường có hột các đặc tính hình thái đều không
khác biệt qua phân tích thống kê. Như chiều dài cuống hoa từ 2,95 đến 2,99
mm; đường kính đài hoa từ 2,98 đến 3,03 mm; số nhị đực từ 18,9 đến 19,4
nhị/hoa. Thời gian từ khi xuất hiện nụ đến khi hoa nở ở quýt Đường không hột
và quýt Đường có hột biến động rất ít từ 11,5 ngày đến 11,73 ngày, và thời
gian từ khi hoa nở đến khi hoa tàn biến động từ 2,3 ngày đến 2,4 ngày
(Nguyễn Văn Lực, 2009).
9
1.3.5 Đặc tính trái
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv. (1994), trái quýt có dạng hình cầu hơi
dẹp, đường kính 5-8 cm, vỏ mỏng, dễ lột,…Trái dẹp màu da cam, nhiều múi
(9-13 múi), vỏ dễ bóc, múi dễ chia, chua hay ngọt tùy giống (Trần Thế Tục và
ctv , 2006). Trái các loài cam quýt có 8-14 múi (Đường Hồng Dật, 2003).
Theo Võ Văn Vang (2010), các đặc tính vật lý ở quýt Đường như: trọng
lượng trái, chiều cao trái, đường kính trái, trọng lượng vỏ trái và hàm lượng
dịch trái tăng đến 32-36 tuần sau khi thụ phấn, sau đó thì ngừng tăng trưởng
10
1.4 TỔNG QUAN VỀ KHÔNG HỘT
1.4.1 Hiện tƣợng trinh quả sinh
Theo Nguyễn Bá Phú (2013), hột là điều kiện có của trái, nhưng có vài
trường hợp trái phát triển mà không có hột. Hiện tượng đó là trinh quả sinh, sự
trinh quả sinh có thể xảy ra theo hai cách: hoặc không có thụ tinh (trinh quả
sinh thật), hoặc có thụ tinh song hợp tử hoại đi rất sớm và noãn cũng vậy
(trinh quả sinh giả), hiện tượng trinh quả sinh đặc biệt quan trọng cho cây
trồng do sản phẩm thương mại là những trái không hột.
Theo Trần Văn Hâu (2009), có thể chia làm ba kiểu trinh quả sinh:
- Trinh quả sinh yếu: Chỉ một ít trái được sản xuất mà không cần thụ
phấn như cam Navel.
- Trinh quả sinh trung bình: Đạt năng suất trung bình nếu không thụ phấn
nhưng đạt năng suất cao nếu được thụ phấn như quýt Orlando.
- Trinh quả sinh mạnh: Đạt năng suất cao nhưng không cần thụ phấn như
chanh Tahiti.
Vũ Văn Vụ và ctv. (1999), cho rằng có 2 kiểu không hột trong tự nhiên:
- Trái được tạo nên không qua thụ tinh. Có thể sự tạo trái này không cần
sự thụ phấn như chuối, dứa. Một số loại trái không hột xảy ra nhờ sự kích
thích của hạt phấn rơi trên núm nhụy nhưng sau đó không có quá trình thụ tinh
xảy ra như nho.
- Trái không hột được tạo nên qua thụ tinh nhưng sau đó phôi không phát
triển mà bị thui đi như nho, anh đào, đào.
1.4.2 Các nguyên nhân không hột của cam quýt
1.4.2.1 Hiện tƣợng tự bất dung hợp
Theo Gosmez-Alvarado và ctv., (2004) tự bất dung hợp với tính tạo trái
không hột là nguyên nhân trái không hột ở cam quýt. Theo Trần Thượng
Tuấn, (1992) trong quá trình thụ phấn hạt phấn không nảy mầm trên nướm
nhụy, ống phấn không thể mọc dài hết chiều dài của vòi nhụy hay ống phấn
đực,… Ngoài ra, yếu tố môi trường bất lợi và các yếu tố di truyền khác cũng
gây ra bất dục đực. Theo Jackson and Gmiter (1997), giao tử bất dục thì không
có khả năng sản xuất hạt phấn hoặc túi phôi hữu dục. Bất dục đực có thể do sự
phát triển không hoàn chỉnh của hạt phấn nhưng thường do sự thiếu soát trong
quá trình phát triển của hạt phấn.
1.4.2.3 Tam bội
Theo Jackson (1997), do trong quá trình giảm phân tạo giao tử đực và cái
không cân bằng các giao tử có số lượng nhiễm sắc thể trung gian giữa 1n và
2n, cuối cùng sẽ hình thành trái không hột. Cây tam bội tạo trái không hột do:
sự thụ phấn chéo giữa cây nhị bội và tứ bội, nuôi cấy phôi nhũ, công nghệ sinh
học hiện đại, (Raza và ctv., 2003). Khi phân bào giảm nhiễm, giao tử phân
bào bất bình thường ra tế bào với bộ nhiễm sắc thể tam bội cây tam bội sẽ cho
trái không hột ngay cả khi thụ phấn chéo với giống khác (Jackson and Gmiter,
1997). Theo Trần Thượng Tuấn (1992), thể tam bội với bộ nhiễm sắc thể cơ
bản được hình thành do kết quả của sự phối hợp giữa các giao tử lưỡng bội
(2n) và đơn bội (1n). Thể tam bội thường bất dục, do quá trình phân bào giảm
nhiễm diễn ra không bình thường, phần lớn các giao tử mang số nhiễm sắc thể
trung gian giữa 1n và 2n nên không có sức sống và không có khả năng sinh
sản. Cây tam bội là tiêu chuẩn quan trọng nhất để tuyển chọn giống cây trồng
không hột (Zhu, 2008). 12
1.4.2.4 Đột biến và biến dị
Đột biến liên quan đến một thay đổi trong ADN thì khá phổ biến trong
cam quýt, tỷ lệ đột biến sẽ thay đổi tùy theo giống (Spiegel-Roy và
Goldschmidt, 1996). Chiếu bức xạ lên cây trồng đang sinh trưởng nhằm thay
đổi các đặc tính trái như: Số lượng hột trên trái, màu sắc của thịt trái và vỏ
trái. Sự đột biến bằng tia Gamma thực sự có hiệu quả đối với các loài cam
Kỹ thuật canh tác chính theo qui trình trồng, chăm sóc và thu hoạch cây
cam quýt ở các tỉnh phía Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
(2001), được nêu cụ thể trong tài liệu tiêu chuẩn ngành “Quy trình trồng, chăm
sóc và thu hoạch cây có múi ở các tỉnh phía Nam” (10 TCN 481 – 2001).
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi
2.2.3.1 Sự sinh trƣởng của cây
Các chỉ tiêu sinh trưởng được lấy 3 tháng/lần gồm:
Đường kính gốc tháp (mm): Đo dưới vết tháp 10 cm.
Đường kính thân tháp (mm): Đo trên vết tháp 10cm.
Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp.
Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến đỉnh chồi cao nhất của cây.
Đường kính tán cây (cm): Đo từ hai chóp lá rộng nhất của cây.