Phân tích đánh giá sự tác động qua lại giữa sản xuất thuốc trong nước với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thuốc tại việt nam - Pdf 30

BỘ Y TẾ
TRƯÒKG Đ Ạ I HỌC DƯỌC H À NỘI
• •
_
• •
Í Q «ể*
TDẦN THỊ PHƯƠNG THAO
PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ sự TÁC ĐỘNG QUA LẠI
GIỮA SẢN XUẤT THUỐC TRONG NƯỚC
VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP
KHẨU THUỐC TẠI VIỆT NAM
( KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ KHOÁ 1999-2004)
Giáo viên hướng dẫn:
Th.s. Đỗ Xuân Thắng
Th.s. Nguyễn Xuân Hạnh
Nơi thực hiện:
Bộ môn Quản lý và Kinh tế dược
Cục Quản lý Dược Việt Nam
Thời gian thực hiện: Tháng 2-5/2004
LÒI CẢM ON
Nhân dịp luận văn hoàn thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc và lời cảm ơn chân thành tới:
Thạc sỹ: Đỗ Xuân Thắng, Giảng viên bộ môn Quản lý và
Kinh Tế Dược, Trường đại học Dược Hà Nội, người thầy kính mến
đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo cho tôi trong suốt thời
gian thực hiện củng như hoàn thành khoá luận.
Thạc sỹ: Nguyễn Xuân Hạnh, Trưởng phòng Quản lý thuốc
gây nghiện Cục Quản lý Dược Việt Nam, người đã nhiệt tình giúp
đỡ và có những lời chỉ dẫn quý báu để cho tôi hoàn thành luận văn
này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến:

Trang
LỜI CẢM ƠN.
ĐẶT VẤN ĐỂ 1
PHẨN 1. TỔNG QUAN 3
1.1. Lĩnh vực sản xuất thuốc tại Việt Nam 3
1.1.1. Các cơ sở sản xuất tham gia sản xuất thuốc

3
1.1.2. Tình hình thực hiện xây dựng cơ sở sản xuất theo tiêu chuẩn GMP 5
1.1.3. Công tác quản lý chất lượng thuốc 7
1.2. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thuốc
9
1.2.1. Lợi ích của xuất nhập khẩu 9
1.2.2. Các hình thức xuất nhập khẩu 10
1.2.3. Số doanh nghiệp tham gia XNK trực tiếp thuốc 11
1.3. Mối liên quan giữa sản xuất và xuất nhập khẩu 12
1.4. Chiến lược phát triển ngành Dược giai đoạn 2000-2010

13
1.5. Một sô văn bản pháp quy liên quan đến quản lý sản xuất thuốc và
hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thuốc tại Việt Nam

14
PHẦN 2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP, NỘI DUNG NGHIÊN cứ u 17
2.1. Đối tượng nghiên cứu 17
2.2. Phương pháp nghiên cứu
17
2.3. Nội dung nghiên cứu 18
PHẦN 3. KẾT QUẢ NGHIÊN cứ u 19
3.1. Vài nét về thị trường thuốc Thê giói 19

PHẦN 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT 59
4.1. Kết luận 59
4.1.1. Về năng lực sản xuất thuốc trong nước và hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu thuốc 59
4.1.2. Trị giá thuốc
59
4.2. Đề xuất 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
ĐẶT VẤN DÈ
Sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đất nước ta thực sự đã có
bước chuyển mình rõ rệt và đạt được những thành tựu hết sức to lớn trên mọi
mặt của đời sống kinh tế xã hội. Chất lượng cuộc sống không ngừng được
nâng cao, những nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi phải được đáp ứng ngày càng
ở mức cao hơn đặc biệt là nhu cầu về thuốc để chăm sóc sức khoẻ và chăm sóc
thuốc cho nhân dân.
Với xu hướng phát triển chung của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, ngành công nghiệp Dược của Việt Nam cũng có những bước
tiến quan trọng, bước đầu đã thể hiện được là một ngành có sức sống mới, có
hướng đi lên và khả năng hội nhập khu vực, không những đáp ứng ngày càng
tốt hơn nhu cầu trong nước mà đã bắt đầu hướng tới các thị trường ngoài nước.
Với việc thực hiện các chính sách đổi mới eủa Đảng và Nhà nước, ngành
Dược đã có những bước phát triển rất cơ bản về tổ chức, quản lý, sản xuất và
cung ứng thuốc và đã tạo dựng được một nguồn thuốc phong phú về chủng
loại, đa dạng về hoạt chất nhằm phục vụ nhu cầu về thuốc cho công tác khám
chữa bệnh cho người dân và góp phần đảm bảo sử dụng thuốc một cách hợp
lý, an toàn và hiệu quả. Nguồn thuốc cơ bản đó chủ yếu do hai nguồn là thuốc
sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu. Đồng thời thuốc còn được xuất khẩu
tạo nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu.
Do cùng chung một mục đích nên hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất

1.1. LĨNH Vực SẢN XUẤT THUỐC TẠI VIỆT NAM:
Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước những cơ
hội và thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu.
Một trong những yếu tố quyết định cho sự sống còn của doanh nghiệp
trong nước là khả năng cạnh tranh và hiệu quả.
Các doanh nghiệp phải tuân thủ lộ trình hội nhập, chủ động trong đầu
tư, phát huy tối đa các lợi thế so sánh, tăng cường đầu tư đổi mới trang thiết
bị và công nghệ, đổi mới quản lý để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản
phẩm nội địa[20].
Công nghiệp Dược Việt Nam cũng như ngành công nghiệp nội địa khác
không thể đứng ngoài tiến trình vận động của nền kinh tế đất nước. Khi đề cập
đến công nghiệp Dược, Chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam được Thủ
tướng Chính Phủ phê duyệt đã xác định: “Phải phát triển, hoàn thiện, hiện đại
hoá ngành công nghiệp Dược Việt Nam và màng ỉưói cung ứng thuốc, để đáp
ứng nhu cầu thuốc cho người dân một cách thuận lợi, kịp thời, có chất lượng,
giá cả hợp lý ” và “Chỉ đạo và hỗ trợ các cssx thuốc phấn đấu đạt tiêu
chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc .”[5].
1.1.1. Các cơ sở tham gia sản xuất thuốc:
#
Phân bố các
cssx
theo khu vưc và loai hình sở hữu:\2ì],
[23]
Nếu tính từ Quảng Bình trở ra thuộc khu vực phía bắc (KVPB), từ Quảng
trị trở vào thuộc khu vực phía nam (KVPN), hai khu vực này tuy có tỷ lệ về số
dân và số đơn vị hành chính gần tương đương nhau [19], nhưng số lượng và
phân bố các cssx dược phẩm không đồng đều.
Bảng 1.1 : Phân bố các cssx thuốc theo khu vực và loại hình sở hữu.
Tổng
Khu vực phía bắc

chiếm 25,26%.
Nếu tính riêng khối DNNN sản xuất thuốc, KVPN có số doanh nghiệp là
66 chiếm 17,01% cao hơn KVPB với 48 doanh nghiệp chiếm tỷ lệ 12,37%.
Về khối c s s x thuốc ngoài quốc doanh (CSNQD), KVPN có số cơ sở
tham gia sản xuất nhiều hơn, chiếm 57,73% (224 cơ sở), KVPB chỉ chiếm
12,89% (50 cơ sở). Như vậy, KVPN các cơ sở sản xuất phát triển mạnh hơn
hẳn KVPB, nhưng chỉ thể hiện rất rõ ở khối ngoài quốc doanh. Nếu tính riêng
khối cơ sở ngoài quốc doanh thì KVPN chiếm tới 81,75% còn KVPB chỉ
chiếm 18,25%.
Vậy yếu tố nào tác động đến sự khác biệt này? Có lẽ cách giải thích
tương đối hợp lý đó là các địa phương ở KVPN đã có tham gia hoạt động
trong cơ chế thị trường từ trước năm 1975, do đó con người dễ thích ứng hơn
với hoạt động của cơ chế mở; các cơ quan quản lý nhà nước và quản lý nhà
nước về Dược vận dụng các chính sách có thể đã linh hoạt hơn ở KVPB, vì vậy
số người thành lập và tham gia lĩnh vực sản xuất Dược phẩm cao hơn.
# SỐCSSX đang có thuốc đăng ký. lưu hành hàns nãm:\2ỉ]. [23]
Bảng 1.2 : Số các cơ sở đang có thuốc đăng ký, lưu hành.
Năm
Chỉ tiêu —
1997
1998
1999 2000 2001
Sô cơ sở có thuốc đăng
ký lưu hành
192
224 298
348 388
Sô cơ sở mới có thuốc đăng
ký lưu hành
32 74 50

với mục đích sử dụng đã được xác định. Thực hành tốt sản xuất thuốc đã đề
cập toàn diện đến mọi khía cạnh liên quan của quá trình sản xuất và kiểm tra
chất lượng thuốc bao gồm: nhà xưởng, dây chuyền thiết bị, chất lượng, nhân
sự, vệ sinh môi trường [21]
Có thể nói, đầu tư để đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc là một
trong những biện pháp quan trọng để hiện đại hoá, công nghiệp hoá nền sản
xuất dược phẩm của nước ta; để nâng cao chất lượng thuốc, phục vụ tốt hơn
công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân và đồng thời cũng là để nâng
cao khả năng cạnh tranh của Dược phẩm Việt Nam trong khu vực ASEAN và
tiến tới hội nhập toàn cầu. Nhận thức được điều đó, chỉ trong hơn 6 năm kể từ
khi Bộ Y Tế ban hành QĐ 1516/BYT- QĐ ngày 9/9/1996 về việc “Triển khai
áp dụng các nguyên tắc, tiêu chuẩn về thực hành tốt sản xuất thuốc của khối
ASEAN” thì số lượng các cssx đạt GMP không ngừng tăng lên qua các
năm[20]. Kết quả cụ thể như sau: [8]
Bảng 1.3: Sô CSSX đạt tiêu chuẩn GMP.
Năm
Sô cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP
1 1996
3
1668 8
2000 18
2001
26
2002
31
2003 41
Nhân xét:
Nếu năm 1996 mới chỉ có 3 cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP thì năm
2001 đã tăng lên đạt 26 cơ sở. Đến cuối năm 2003 cả nước có 41 cơ sở đạt
GMP (tăng 10 cơ sở so với năm 2002), trong đó miền Bắc có 10 cơ sở (năm

sản xuất đến giai đoạn sau sản xuất, đến hết 31/12/2003 đã có 41 cssx đạt
GMP, 11 c ssx đạt GSP và 27 cssx đạt GLP.
Do được tăng cường về nguồn nhân lực và nhiều máy móc, thiết bị phân
tích hiện đại như máy sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), máy quang phổ
(UV/VTS), máy xét nghiệm sinh hoá nên hệ thống đảm bảo chất lượng thuốc
trong nước đã được công nhận đạt được các tiêu chuẩn:
- Viện Kiểm Nghiệm đã áp dụng hệ thống chất lượng ISO và cuối năm
2001 đã được VILAS cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025
về năng lực phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn.
- Phân Viện Kiểm Nghiệm đã được Bộ Y tế cấp chứng nhận đạt tiêu
chuẩn GLP và cuối năm 2002 được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO/IEC
17025.
- Có 15 phòng kiểm tra chất lượng thuốc của các cssx thuốc đã được
cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn GLP, phòng đảm bảo chất lượng thuốc của Xí
nghiệp liên hợp Dược Hậu Giang được cấp chứng chỉ ISO/ IEC 17025 .
- Tất cả các thuốc và nguyên liệu làm thuốc phải được kiểm tra đạt theo
các tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký tại cơ quan quản lý về thuốc trước khi
được đưa vào lưu thông. Hiện nay, các nhà sản xuất có thể căn cứ vào các cấp
tiêu chuẩn chất lượng sau: tiêu chuẩn cơ sở (TC), tiêu chuẩn nhà nước
(DĐVN), tiêu chuẩn ngành (TCN), các tiêu chuẩn khác [Dược Điển Anh (BP),
Dược Điển Mỹ (USP), Dược Điển Pháp, Dược Điển Trung Quốc ].
- Hệ thống đảm bảo chất lượng thuốc thực hiện quá trình lấy mẫu, phân
tích, kiểm tra chất lượng thuốc, từ đó phát hiện ra các thuốc giả, thuốc kém
chất lượng lưu hành trên thị trường và đảm bảo cho quá trình sản xuất tạo ra
các sản phẩm đạt theo tiêu chuẩn chất lượng quy định .
Chính hệ thống đảm bảo chất lượng mang tiêu chuẩn quốc tế, đồng bộ và
thống nhất là yếu tố tạo uy tín và niềm tin nơi người sử dụng thuốc. Do đó,
chúng ta phải xây dựng được một hệ thống đảm bảo chất lượng thuốc theo tiêu
chuẩn quốc tế thực thụ.
1.2. LĨNH Vực XUẤT NHẬP KHAU thuốc tại việt NAM:

Nhà nước khuyến khích việc liên doanh sản xuất thuốc, đến nay đã có 15
dự án liên doanh sản xuất được cấp giấy phép hoạt động. Việc liên doanh sản
xuất giúp cho các xí nghiệp có được cơ sở sản xuất hiện đại, góp phần nâng
cao chất lượng thuốc sản xuất.
*** Đối với doanh nshiêp-MU. [22]
+ Trước hết có thể thấy xuất nhập khẩu sẽ mang lại nguồn thu nhập ngoại
tệ lớn cho công ty, góp phần quan trọng trong việc tạo khả năng cho hoạt động
xuất nhập khẩu. Xuất nhập khẩu phát triển đạt hiệu quả cao sẽ có tác dụng
thúc đẩy nhập khẩu có hiệu quả.
+ Không chỉ đóng vai trò tạo nguồn thu ngoại tệ cho công ty, hoạt
động xuất khẩu còn tạo ra thu nhập phục vụ cho các khoản chi tiêu khác
của công ty, đồng thời làm tăng khả năng tích luỹ về vốn, về công nghệ và
kinh nghiệm hoạt động.
+ Thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu tạo điều kiện cho các công ty
có cơ hội tiếp xũc và tham gia vào thị trường quốc tế, qua đó học hỏi được
cách thức và nghệ thuật kinh doanh hiện đại mang lại hiệu quả kinh tế
cao. Ngoài ra, xuất khẩu còn giúp cho các công ty có điều kiện tìm hiểu
về thị trường tốt hơn, tạo khả năng mở rộng kinh doanh về thị trường, về
mặt hàng hoặc về quy mô
+ Xuất nhập khẩu tạo việc làm cho cán bộ công nhân viên trong công ty,
do việc xuất nhập khẩu là sự sống còn của một công ty xét theo khía cạnh này.
1.2.2. Các hình thức XNK:[16], [17]
Hình thức XNK trực tiếp: các nhà sản xuất ký hợp đồng trực tiếp bán
hàng cho doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài với sự cho phép của nhà nước và
Bộ Thương Mại thông qua Luật Thương Mại.
Hình thức XNK qua trung gian thương mại: nhà sản xuất ký hợp đồng
XNK qua trung gian thương mại chuyên kinh doanh XNK.
'M Hình thức tái xuất: là xuất trở ra nước ngoài những hàng hoá trước đây
đã nhập khẩu mà không qua chế biến thêm. Tái xuất được thực hiện bằng một
trong hai phương thức là tạm nhập tái xuất hoặc chuyển khẩu.

38
2003 57 18 39
-11 -
Bảng 1.5 : Số lượng các doanh nghiệp tham gia XNK thuốc trực tiếp.
■——
_
_____
Năm
Chỉ tiêu - —
1996 1999
2002 2003
Tổng số
35
47 54 57
DN được XNK NLLT và thành phẩm
25
31 37 40
DNSX được NK NLLT và XK thành phẩm
8
8 8
8
DN có vốn đầu tư nước ngoài NK NLLT và
XK thành phẩm
2
8 9
9
Nhân xét:
Qua bảng 1.4, ta thấy số lượng các DNĐP tham gia XNK trực tiếp luôn
nhiều hơn các DNTW. Số lượng các DNĐP tham gia XNK trực tiếp từ 24
doanh nghiệp năm 1996 tăng lên 38 doanh nghiệp năm 2002 và đạt 39 doanh

sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành cơ khí sản xuất thiết bị chế biến.
Ngoài ra, Chính phủ còn dùng nguồn thu nhập từ xuất nhập khẩu (thuế hay
lợi nhuận) để tài trợ cho sự phát triển các ngành khác.
1.4. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH DƯỢC GIAI ĐOẠN 2000-2010:
Phát triển toàn diện ngành dược theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại
hoá nhằm đảm bảo cung ứng đủ và công bằng thuốc có chất lượng đến tận tay
người dân, đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả phục vụ sự
nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, chủ động hội nhập khu vực
và thế giới. Mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn:[10], [21], [22]
* Giai đoan từ 2001 đến 2005:
Tiền thuốc bình quân đầu người tương đương 8-10 USD/năm vào năm
2005.
Phấn đấu đến năm 2005 thuốc sản xuất trong nước đáp ứng 40% nhu cầu
phòng bệnh và chữa bệnh, sản xuất một số nguyên liệu làm thuốc có thế mạnh
đặc biệt từ dược liệu.
Tăng cường đầu tư công nghiệp hoá hiện đại, đổi mới trang thiết bị và đổi
mới quản lý để 100% xí nghiệp trung ương và các khu vực kinh tế trọng điểm,
100% nhà máy mới xây dựng thuộc các thành phần kinh tế, 50% công ty xuất
nhập khẩu, bán buôn trung ương, và các cơ sở kiểm nghiệm của các xí nghiệp,
công ty bán buôn xuất nhập khẩu các tỉnh, thành phố trọng điểm đạt tiêu
chuẩn thực hành tốt (GP) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân, thực
hiện công bằng trong cung ứng thuốc giữa các đối tượng và các vùng địa lý.
Nhà nước có chính sách hỗ trợ thuốc thiết yếu miễn phí cho nhân dân các
vùng khó khăn tương ứng 1 USD/ năm.
Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả, đặc biệt là thuốc
kháng sinh.
* Giai đoan 2006-2010:
Tiền thuốc bình quân đầu người tăng lên 12-15 USD/ năm vào năm 2010.
Thuốc sản xuất trong nước đáp ứng 60% nhu cầu chữa bệnh, xây dựng

và nguyên liệu làm thuốc của Việt Nam”.
Ngày 18/7/2001 Bộ Y Tế ban hành “Quy chế Đăng ký thuốc để thống
nhất quản lý nhà nước về sản xuất và lưu hành thuốc, để đảm bảo tính an toàn,
ì hiệu lực và chất lượng thuốc.
Ngày 7/6/2001 Bộ trưởng Bộ Y Tế ban hành Quyết định số
2160/2000/QĐ- BYT về việc Bổ sung các chất vào các danh mục hoạt chất,
dạng bào chế không nhận hồ sơ đăng ký đối với thuốc trong nước và thuốc
nước ngoài kèm theo Quyết định số 4341/2000/QĐ- BYT ra ngày 17/1/2000.
Ngày 24/3/1994 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 111/TTg
về việc Quản lý thuốc chữa bệnh cho người theo đường nhập khẩu phi mậu
dịch : “Nguồn thuốc chữa bệnh cho người do người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, đi hợp tác lao động, hợp tác chuyên gia, công tác và học tập ở nước
ngoài mang theo khi về nước hoặc gửi về nước chỉ được phép nhập khẩu để sử
dụng cho bản thân và gia đình”.
Nghị quyết của Chính phủ số 37/CP ngày 20/6/1996 về “Định hướng
chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời gian
1996-2000 và Chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam”.
Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y Tế số 2285/1999/QĐ-BYT ngày
- 1 5-
28/7/1999 về việc ban hành danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam lần thứ IV
năm 1999.
Thông tư của Bộ Y Tế số 19/2001/ TT-BYT ngày 28/8/2001 Hướng dẫn
đăng ký nhập khẩu trực tiếp thuốc phòng và chữa bệnh cho người.
Nghị định của Chính phủ số 57/1998/NĐ- CP ngày 31/7/1998 quy định
chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia
công và đại lý mua bán hàng hoá vói nước ngoài.
Thông tư của Bộ Y Tế số 06/2001/TT- BYT ngày 23/4/2001 Hướng dẫn
việc xuất, nhập khẩu thuốc và NLLT tại Việt Nam.
Thông tư của Bộ Y Tế số 17/01/BYT- TT ngày 1/8/2001 Hướng dẫn
doanh nghiệp nước ngoài đăng ký hoạt động về thuốc và NLLT tại Việt Nam.

XI X2 X3 X4 X5
Nhịp cơ
SỞX(%)
Xl=100% (X2/Xl)xl00 (X3/Xl)xl00
j£4/X-l-)xl0p
(X5/Xl)xl00
T
ậ Nhịp mắt xích: (so sánh liên hoàn) lấy chỉ tiêu thực hiện năm sau so
sánh với chỉ tiêu thực hiện năm ngay trước đó. Phương pháp này cho biết tốc
độ phát triển của những năm sau so với năm ngay trước đó.
Ví dụ:
Năm
1990 1991
1992 1993
1994
Chỉ tiêu
thực
hiện
Y1
Y2
Y3
Y4 Y5
Nhịp
mắt
xích
Y(%)
Yl=100%
(Y2/Yl)xl00
(Y3/Y2)xl00
(Y4/Y3)xl00

cao nên giá thành thường đắt.
Bảng 3.1 : Doanh số bán thuốc trên thế giới qua các năm.
Năm
Chỉ tiêu
2000 2001
2002
2003
Doanh sô (tỷ USD)
364,5 371,9
400,6
466,3
Tỷ lệ % gia tăng 100 102
108 116
(Nguồn: Tổng hợp IMS Health 3/2004)
Tỷ USD
2000 2001 2002 2003 Năm
Biểu đồ 3.1: Biểu diễn doanh sô bán dược phẩm toàn cầu từ năm 2000-2003.
c
- 1 9-
Nhân xét:
Doanh số bán thuốc toàn cầu luôn có xu hướng gia tăng, đặc biệt năm
2002 tăng 108% so với năm 2001 và năm 2003 có tốc độ tăng trưởng cao nhất
tăng 116% so với năm 2002. Theo dự kiến sự tăng trưởng mạnh sẽ còn tiếp tục
trong những năm tới đây.
Trong năm 2003, doanh số bán dược phẩm toàn cầu là 466,3 tỷ USD
trong đó dẫn đầu vẫn là thị trường Bắc Mỹ (Mỹ + Canada) là 229,5 tỷ USD
chiếm 49% doanh số bán toàn cầu, tiếp đó là thị trường EU với 115,4 tỷ USD
chiếm 25% doanh số bán toàn cầu.
Bảng 3.2 : Doanh số bán dược phẩm thế giới năm 2003 theo khu vực.
Khu yực

Nhân xét:
Như vậy, thị trường dược phẩm thế giới chủ yếu tập trung vào các nước
phát triển như Mỹ, Canada, Nhật Bản, Pháp, Anh, Đức. Thị trường các nước
đang phát triển còn quá nhỏ bé trong đó có Việt Nam.
Trong 10 nhóm thuốc có doanh số bán cao nhất phân loại theo tác dụng
- 2 0 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status