Phân tích bài thơ đi thi tự vịnh của nguyễn công trứ - Pdf 30

Phân tích bài thơ Đi thi tự vịnh của Nguyễn Công
Trứ
November 12, 2014 - Chuyên mục: Văn mẫu THCS - Tác giả: Thu Huyền
Đề bài: Phân tích bài thơ “Đi thi tự vịnh” của Nguyễn
Công Trứ
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) và Cao Bá Quát (1808-1855) là hai nhà thơ lớn nhất trên thi đàn Việt
Nam trong nửa đầu thế kỉ XIX. Nguyễn Công Trứ có tài kinh bang tế thế, lập nên bao công nghiệp hiển
hách, khi về trí sĩ đã sống một đời tài tử thanh cao:
Đường mây rộng thênh thênh cử bộ,
Nợ tang bồng trang trắng vổ tay reo
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu” .
(Chí anh hùng)
Ông để lại một số bài thơ chữ Hán, trên 50 bài thơ Nôm, trên 60 bài hát nói và bài phú “Hàn nho phong
vị phú” bằng chữ Nôm. Thơ văn Nguyễn Công Trứ “ý tứ mạnh mẽ, từ điệu rắn rỏi, khiến cho người
đọc cũng thấy phấn khởi, hăng hái lên” (Dương Quảng Hàm).
Thời trai trẻ, chật vật trong cảnh nghèo, lận đận mãi trong thi cử, nhưng lúc nào ông cũng hăm hở công
danh sự nghiệp, mãi đến năm 41 tuổi mới đỗ giải nguyên. “Đi thi tụ vịnh” là một bài thơ ứng tác được
Nguyễn Công Trứ viết vào thuở hàn vi, trước lúc bước vào khoa thi Hương trường Nghệ An.
“Đi thi tự vịnh” là một trong nhiều bài thơ nói về chí nam nhi và niềm hăm hở lập công danh của
Nguyễn Công Trứ.
Hai câu đề thể hiện một quyết tâm, một niềm tin của kẻ sĩ trước lúc bước vào hội công danh, đua tài:
“Đi không há lẽ trở về không,
Cái nợ cầm thư phải trả xong.”
“Đi không”’ – lúc lên đường ứng thí, “không” công danh. Vào trường thi chỉ có một văn tài, một bản
lĩnh đua tranh, như cá chép vượt Vũ Môn, tác giả tự tin khẳng định: “há lẽ trở về không”. Chữ “không”
thứ 2 là không công danh, không sự nghiệp. Chữ “không” thứ 7 là trắng tay, chẳng đỗ đạt gì! Hai chữ
“há lẽ” vang lên như một thách thức. “Nợ cầm thi” là nợ đàn sách của sĩ tử ngày xưa. Nợ cầm thư cũng
như nợ bút nghiên, nợ đèn sách. “Cầm thư “ đã trở thành “cái nợ” vì thế có nghĩa vụ phải trả, phài hoàn
thành xong xuôi, sòng phẳng. Tiếng “cái” trong “cái nợ cầm thư” nói lên sức nặng, cái giá ghê gớm của
nợ đèn sách, nợ công danh. Càu thơ thứ 2 “Cái nợ câm thư phải trả xong” với 4 thanh trắc (cái, nợ,
phải, trả) làm cho thanh điệu của câu thơ trĩu xuống, 3 thanh bằng (cầm, thư, xong) đã nâng giọng điệu

bái tổ “võng anh đi trước, võng nàng theo sau”. “Phải có danh gì với núi sông” là có tài năng đích thực,
giúp vua, giúp nước, cứu đời, cứu dân. Có danh là có tài kinh bang tế thế, trị loạn, an dân, làm cho dân
giàu nước mạnh. Kẻ tầm thường không có danh mà chỉ có lợi. Kẻ sĩ chàn chính, có tài năng, có lẽ sống,
có hoài bão trang trải nợ cầm thư, nợ tang bồng… mới có đanh tiếng, danh vọng, để lại tiếng thơm cho
đời, lưu danh trong sử sách, làm rạng rỡ mẹ cha, dòng họ và quê hương. Trong xã hội phóng kiến, có đi
thi đỗ đạt, đổ cử nhân, tiến sĩ mới được ra làm quan để giúp nước, cứu đời, để “có danh” với thiên hạ: ,
“Nhân sinh thế thượng thùy vô nghệ,
Lưn đắc đan tâm chiếu hãn thanh”
(Chí anh hùng)
Với Nguyễn CôngTrứ, công danh luôn luôn gắn liền với đạo làm con, đạo làm tôi:
“Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái — Cái công danh là cái nợ nần — Nặng nề thay hai chữ: quân thân —
Đạo vi tử, vi thần đâu có nhẹ! “ (Trên vì nước, dưới vì nhà). Với Nguyễn Công Trứ, người quân tử,
đấng trượng phu, trang nam nhi là phải “có danh”, bởi lẽ:
“Chẳng công danh chi đứng giữa trần hoàn…
Trong vũ trụ đã đành phận sự
Phải có danh mà đối với núi sông…
Có trung hiếu nên đứng trong trời đất,
Không công danh thời nát với cỏ cây…”
Nguyễn Công Trứ là một tài năng đích thực: “Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông – …
Lúc Bình Tây, cờ Đại tướng – Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên…”
Chính ông đã di dân, khẩn hoang, lập ra 2 huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình). Như
vậy, Nguyễn Công Trứ là một con người có công danh: ông đã sống một đời sống phong phú, mãnh liệt
như câu thơ ông đã viết. Chẳng thế mà năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược nước ta đánh vào bán đảo
Sơn Trà, Đà Nẵng, lúc bấy giờ Nguyễn Công Trứ đã 80 tuổi vẫn xin vuạ Tự Đức cho cầm quân ra trận
đánh giặc. Mặc dù chữ “danh” trong quan niệm của Nguyễn Công Trứ mang ý thức hệ phong kiến
nhưng khá tích cực, còn có nhiều ý nghĩa đối với chúng ta trong việc nỗ lực học tập thành tài để phục
vụ sự nghiệp đổi mới, phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hai câu kết thể hiện khẩu khí của một con người giàu tài năng, rất tự tin, luôn luôn hướng về phía trước
với tất cả tinh thần lạc quan mà lý tưởng cuộc đời đã lựa chọn:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status