Phân tích bài thơ "Độc Tiểu Thanh ký" của Nguyễn Du - Bài làm 2 - Pdf 11

Phân tích bài thơ "Độc Tiểu Thanh
ký" của Nguyễn Du - Bài làm 2

Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
( Kiều )
Nguyễn Du có mối đồng cảm đặc biệt đối với những người phụ nữ tài hoa bạc
mệnh. Một Đạm Tiên, một Thúy Kiều, một “ Long thành cầm giả ca”…đã làm xác
động trái tim của nhân loại. Và đây là những giọt nước mắt của thi nhân nhỏ xuống số
phận bi thảm của một cô gái tài hoa sống cách nhà thơ ba trăm năm, trong một bài thơ
chữ Hán nổi tiếng “ Độc Tiểu Thanh kí”. Ông có nỗi ám ảnh về những kiếp hồng nhan
bạc mệnh , về những kiếp nghệ sĩ tài hoa và ông cũng muốn người đời sẻ chia với
những kiếp hồng nhan bạc mệnh:
Hồ Tây cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có thần chôn vẫn hận.
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Có thể là bài thơ được Nguyễn Du viết vào thời gian đi sứ Trung Quốc, nhận
đọc được một tập thơ của Tiểu Thanh ( có ý kiến cho rằng không phải là tập thơ mà là
một tập truyện viết về Tiểu Thanh ), một người con gái tài sắc mà bất hạnh sống vào
đầu đời Minh ( Trung Quốc ). Tiểu Thanh làm lẽ, bị vợ cả ghen bắt ở ngôi nhà riêng
trên núi Cô Sơn, cạnh Tây Hồ. Nàng buồn mà chết lúc mới mười tám tuổi. Nàng có
tập thơ bị vợ cả ghen đem đốt. Tập thơ còn lại một phần và được người đời chép lại.
Tập thơ cháy dở ( hay là đọc truyện mà biết được chi tiết này) của một người con gái

người đời xưa nay không thể hỏi trời được:
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
( Cổ kim hận sự thiên nan vấn)
Câu thơ nguyên tác, với những thanh trắc : ( cổ, hận, sự , vấn ) diễn tả một cách
bi phẫn nỗi đau của những kiếp người thấp cổ bé họng. Nguyễn Du đau đớn, căm giận
trước sự thất bại của cái THIỆN, cái MĨ trước cái ác. Nhà thơ tự thấy là người cùng
hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã:
Cái án phong lưu khách tự mang
( Phong vận kì oan ngã tự cư)
Chữ “ ngã” rất lạ. Nhà thơ đã tự xưng “ ngã” ( tôi) để nhập thân vào với Tiểu
Thanh như trong “ Truyện Kiều” để gợi lên những điều nhức nhối của nhân thế.
Đau đớn trước nỗi oan kì lạ của Tiểu Thanh, xót xa trước sự lãng quên của
người đời , nhà thơ khóc cho Tiểu Thanh, một co gái tài hoa bạc mệnh hơn ba trăm
năm và đặt câu hỏi lớn cho ba trăm năm sau:
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Tại sao lại là “ ba trăm năm lẻ” mà không là con số khác? Là vì nhà thơ đang
thổn thức với tập thơ cháy dở của Tiểu Thanh, một nữ sĩ tài hoa cách đó hơn ba trăm
năm. Tiểu Thanh bất hạnh, nhưng hơn ba trăm năm sau đã có người chia sẻ. Liệu hơn
ba trăm năm sau “ người đời ai khóc Tố Như”? Ai sẽ là người khóc cho con người
đang khóc Tiểu Thanh hôm nay? Một lời tự vấn xót xa. Một câu hỏi cho ba trăm năm
sau như vậy là vì những điều trông thấy bấy giờ. Cuộc đời đen bạc, quyền sống của
con người bị chà đạp. Đâu là người tri âm, tri kỉ? Cô đơn đến tột cùng. Khi thì nhà thơ
nhập thân vào với Thúy Kiều “ xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”, khi thì nhà
thơ nhập thân với Tiểu Thanh để kêu lên một tiếng xé lòng:
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.
Hiểu như vậy rồi, tôi lại tự hoài nghi về sự hiểu biết của mình vì vừa rồi trên
báo Giáo dục và Thời đại, giáo sư Bùi Văn Nguyên có cho biết hai câu kết trong bài “
Dộc Tiểu Thanh kí” không phải của bài thơ này. Đây là hai câu thơ khẩu chiếm, là lời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status