CƠ SỞ LÝ LUẬN TRIẾT HỌC DÙNG LÀM TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO ĐỀ TÀI - Pdf 30

Mục lục
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
I- Cơ sở lý luận triết học dùng làm tiền đề lý luận cho đề tài.
1. Nguyên tắc phơng pháp luận của qui luật lợng- chất.
2. Nguyên tắc phơng pháp luận của mối quan hệ nguyên nhân- kết quả.
II- Vận dụng nguyên lý triết học để phân tích, làm rõ thực trạng của nền
kinh tế Việt Nam trớc xu thế toàn cầu hoá.
III- Những giải pháp và kiến nghị.
- Phần kết luận

Lời mở đầu
Kinh tế là ngành không thể thiếu đợc của mọi quốc gia trên thế giới. Chính vì
thế, nó chiếm một vai trò quan trọng trong hệ thống nhà nớc của mỗi quốc gia.
Không chỉ có vậy, lĩnh vực kinh tế còn ảnh hởng đến mọi mặt của đời sống xã hội
nh: chính trị, văn hoá, môi trờng... Do có vai trò quan trọng nh vậy nên mỗi một
thay đổi dù lớn hay nhỏ của ngành kinh tế đều ảnh hởng đến sự phát triển chung
của một quốc gia.
Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá đang là một đề tài thu hút nhiều sự chú ý và gần
đây hiệp định thơng mại Việt - Mỹ đã đợc thông qua tạo thêm nhiều cơ hội cho
sự phát triển kinh tế ở nớc ta nhng đồng thời đây cũng là một thách thức lớn đối
với nền kinh tế còn đang trong giai đoạn phát triển nh nớc ta ,vì hiện nay có thể
nói công nghệ và kỹ thuật của ta còn đi chậm hơn so với thế giới và chúng ta buộc
phải có những đổi mới trong cung cách sản xuất, quản lý , đầu t đúng hớng ...
Bài tiểu luận này đã giúp em học hỏi đợc rất nhiều trong việc rèn luyện cách
viết, cách diễn giải một vấn đề và trau dồi khả năng t duy. Song do đây là bài tiểu
luận đầu tiên cho nên không thể tránh khỏi những sai sót về nội dung cũng nh hình
thức. Kính mong các thầy cô giáo sửa chữa và góp ý để tiểu luận có thể hoàn thiện
hơn.

Em xin chân thành cám ơn !

Nói cách khác, bớc nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển
hoá về chất của sự vật do những thay đổi về chất trớc đó gây ra.
Sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lợng khi đạt tới điểm nút. Sau
khi ra đời, chất mới có thể tác động trở lại sự thay đổi của lợng. Chất mới có thể
làm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật, làm thay đổi nhịp điệu của sự vận động và
phát triển của sự vật đó.
Bởi vì chất và lợng là hai mạt đối lập vốn có trong lòng sự vật hiện tợng. Chất thì
tơng đối ổn định còn lợng thì thờng xuyên biến đổi. Sự thay đổi của lợng đến một
lúc nào đó thì đối lập với chất cũ, bị chất cũ kìm hãm, nó đòi hỏi phải phá bỏ độ
cũ mở ra một độ mới để mở đờng cho lợng thay đổi. Khi chất cũ bị phá bỏ, chất
mới đợc thiết lập lại tạo ra sự thống nhất giữa chất và lợng.
Quy luật lợng chất đợc phát biểu nh sau: Bất kì sự vật nào cũng là sự thống nhất
giữa chất và lợng, sự thay đổi dần dần về lợng vợt quá giới hạn của độ sẽ dẫn tới
thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bớc nhảy; chất mới ra đời sẽ tác
động trở lại sự thay đổi của lợng.
Xuất phát từ những điều trên, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
đòi hỏi phải quan tâm đến quá trình tích luỹ về lợng bởi vì không có quá trình này
thì không có sự thay đổi căn bản về chất. Sự vật cũng không thể mất đi, cái mới
tiến bộ hơn không thể ra đời thay thế.
Khi chất mới ra đời thì phải biết xác định quy mô tốc độ phát triển mới về lợng
cho phù hợp, không đợc thoả mãn dừng lại.
Phải chống lại quan điểm tả khuynh và hữu khuynh. Tả khuynh là quan điểm
coi thờng tích luỹ về lợng. Còn hữu khuynh là khi lợng thay đổi đã chín muồi cần
phải có sự thay đổi về chất lại không dám thực hiện bớc thay đôỉ về chất. Cả hai
quan điểm đó đều là quan điểm sai lầm.
2. Nguyên tắc phơng pháp luận của mối quan hệ nguyên nhân- Kết quả.
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả. Do đó, nguyên nhân bao giờ cũng có trớc kết
quả. Còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện Song
không phải mọi sự việc nối tiếp trong thời gian của các hiện tợng đều là biều hiện
của mối quan hệ nhân quả.

trị là nền tảng của t tởng của nó. Về mặt thực tiễn, rõ ràng ở quốc gia nào cũng
vậy , ngời ta chỉ chấp nhận hội nhập kinh tế quốc tế một khi lợi ích của quốc gia
đó đợc bảo đảm- Các lợi ích này không chỉ đơn thuần là lợi ích kinh tế. Nó luôn đ-
ợc xác định gồm cả lợi ích chính trị của mỗi quốc gia. Cho nên, bất cứ hiệp định
song phơng giữa hai quốc gia nào cũng luôn có điều khoản loại trừ các yếu tố gây
hại đến an ninh quốc gia mỗi nớc. Với cách tiếp cận trên, có thể hiểu hội nhập
kinh tế quốc tế, của nớc ta hiện nay không chỉ là quá trình gia nhập các tổ chức
kinh tế quốc tế mà còn đợc thể hiện trong bản thân hệ thống chính các thơng mại,
chính sách phát triển kinh tế đã và đang đợc Đảng, Nhà nớc định hớng.
Những phát kiến về địa lý, những cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa, sự
phát triển đại công nghiệp, sự phát triển sản xuất nhờ áp dụng các thành tựu khoa
học và công nghệ, sự mở rộng thị trờng quốc tế, mở rộng giao lu quốc tế đã phá vỡ
tính biệt lập, khép kín trong phạm vi quốc gia, mở rộng không gian hoạt động của
các quốc gia. Đây chính là tiền đề cho quá trình tích luỹ về lợng để chuẩn bị cho
sự thay đổi về chất tới một giới hạn nào đó(độ) thì dẫn đến một bớc nhảy về kinh
tế là xu thế toàn cầu hoá ra đời.
Có nhiều nguyên nhân tác động dẫn tới sự hình thành và phát triển xu thế toàn
cầu hoá kinh tế, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu là:
-Xu thế toàn cầu hoá kinh tế trớc hết bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của lực
lợng sản xuất, từ tính chất xã hội hoá của lực lợng sản xuất trên phạm vi quốc gia
và quốc tế.
-Xu thế toàn cầu hoá kinh tế chịu sự tác động trực tiếp rất mạnh mẽ của cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Sự phát triển của các công nghệ
cao( công nghệ sinh học, công nghệ viễn thông...) đã làm thay đổi về chất lực lợng
sản xuất của loài ngời, đã đa loài ngời từ văn minh công nghiệp lên văn minh tin
học, đã tạo thành kinh tế tri thức, kĩ thuật số, hình thành mạng máy tính toàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status