TIỂU LUẬN:
Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty Giấy Bãi Bằng trong quá trình chuyển
sang cơ chế thị trường và hội nhập
Mở đầu * Tính cấp thiết của đề tài
Khác với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trước đây, trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, cạnh tranh vừa là một trong những đặc
trưng cơ bản, vừa luôn là vấn đề thời sự nóng bỏng của các doanh nghiệp phải chấp nhận
cạnh tranh. Do vậy, nâng cao khả năng cạnh tranh luôn là một trong những vấn đề quan
trọng hàng đầu của các doanh nghiệp.
nghiên cứu ở phạm vi ngành giấy và chủ yếu tại Công ty giấy Bãi Bằng.
Mục đích, nhiệm vụ của đề tài:
Góp phần tìm kiếm giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty giấy Bãi Bằng.
Nhiệm vụ đề tài cần giải quyết gồm:
- Hệ thống hoá vấn đề cơ bản về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
- Phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh của Công ty giấy Bãi Bằng.
- Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty giấy Bãi Bằng.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp
phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra xã hội học, so sánh và mô hình hoá.
Kết cấu luận văn:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn chia thành 3
chương.
Yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển doanh nghiệp trong cơ chế
thị trường và hội nhập.
1.1 Những nội dung cơ bản về cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
1.1.1 Nhận thức chung về thị trường - Cơ chế thị trường:
+ Khái niệm thị trường:
Thị trường xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hoá và được
hình thành trong lĩnh vực lưu thông. Người có hàng hoá, dịch vụ đem ra trao đổi gọi là
người bán, người có nhu cầu và khả năng thanh toán gọi là người mua. Trong quá trình
trao đổi, giữa người mua và ngưới bán hình thành những mối quan hệ. Vì vậy, xét theo
vi của người tiêu dùng và nhà sản xuất. Sở dĩ thị trường có vai trò to lớn vì nó có những
chức năng cơ bản sau đây:
- Chức năng thừa nhận: Thông qua quá trình trao đổi giữa người mua và người bán, tính
hàng hoá của sản phẩm có thể được thừa nhận hoặc không được thừa nhận. Nếu được
thừa nhận thì quá trình mua bán được giải quyết, sản phẩm trở thành hàng hoá. Nếu
không được thừa nhận thì quá trình mua bán không được giải quyết, sản phẩm không trở
thành hàng hoá.
- Chức năng thực hiện: Sự thực hiện giá trị chỉ xảy ra khi quá trình trao đổi hàng hoá được
thực hiện. Thông qua chức năng thực hiện các hàng hoá, dịch vụ mà hình thành nên giá
cả hàng hoá, dịch vụ.
- Chức năng điều tiết: Thông qua việc hình thành giá cả dưới tác động của quy luật giá trị,
quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh, nguồn lực xã hội được điều tiết một cách tự
động từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp sang nơi hiệu quả cao.
Ngoài ra, thị trường còn kiểm tra, đánh giá trình độ, năng lực tổ chức, quản lý của các
nhà sản xuất kinh doanh và cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản lý.
+ Cơ chế thị trường: Là cơ chế vận hành khách quan của nền kinh tế thị trường. ở đó, các
quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường phát huy tác dụng. Ban đầu, cơ chế thị
trường được Adam Smith khái quát và mô tả trong học thuyết của ông. Ông cho rằng,
nếu bảo đảm quyền tự do kinh doanh, tự do tiêu dùng, nhà nước không can thiệp vào
kinh tế mà chỉ cần bảo đảm dịch vụ an ninh xã hội thì sẽ có một cơ chế tự nhiên, như một
"Bàn tay vô hình", điều tiết cung - cầu, điều tiết sản xuất tiêu dùng và cuối cùng giúp
cho việc phân phối các tài nguyên khan hiếm của xã hội một cách hiệu quả nhất. Đó là thị
trường thuần tuý thị trường tự do cạnh tranh không có sự can thiệp của Nhà nước.
hoá. Quy luật này tác động trực tiếp đến giá cả hàng hoá và phương hướng sản xuất, tiêu
dùng của xã hội.
- Quy luật canh tranh: Yêu cầu hàng hoá sản xuất ra phải có chất lượng tốt hơn, chi phí
thấp hơn, thái độ phục vụ văn minh hơn để nâng cao khả năng cạnh tranh với các hàng
hoá khác cùng loại.
Như vậy có thể hiểu: Giá cả thị trường, cung - cầu hàng hoá và cạnh tranh là các bộ phận
hợp thành chủ yếu của cơ chế thị trường. Các bộ phận này có quan hệ mật thiết với nhau.
Trong đó, giá cả là cá nhân của thị trường , cung cầu là trung tâm và cạnh tranh là linh
hồn, là sức sống của thị trường.
1.1.2 Khái niệm cơ bản cạnh tranh: Cạnh tranh (tiếng Anh là Competion) về mặt thuật ngữ được hiểu như là sự cố gắng giành
thắng lợi, phần thắng về mình giữa những người những tổ chức hoạt động có những mục
tiêu và lợi ích giống nhau trong kinh doanh, cạnh tranh được định nghĩa như là sự đua
tranh giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm dành ưu thế trên cùng một tài
nguyên, sản phẩm hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình.
Cạnh tranh: Là một trong những đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường, không có cạnh
tranh thì không có nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường khi vận hành phải tuân
theo những quy luật khách quan riêng của nó, trong đó có quy luật cạnh tranh. Theo quy
luật này các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc, thiết bị, công nghệ, nâng
cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm để dành ưu thế so với đối thủ của mình.
Kết quả là kẻ mạnh về khả năng vật chất và trình độ kinh doanh sẽ là người chiến thắng.
Cạnh tranh là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển. Nếu lợi nhuận thúc
đẩy các cá nhân tiến hành sản xuất - kinh doanh thì cạnh tranh lại bắt buộc và thôi thúc
họ phải điều hành các hoạt động sản xuất - kinh doanh một cách có hiệu quả nhất:
Cạnh tranh hoàn hảo xẩy ra khi không một người sản xuất nào có thể tác động đến giá cả
trên thị trường. Mỗi người sản xuất đều phải bán sản phẩm của mình theo giá thịnh hành
mà thị trường đã chấp nhận thông qua quan hệ cung - cầu. Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra
khi có một số lớn doanh nghiệp nhỏ sản xuất một mặt hàng y hệt nhau và sản lượng từng
doanh nghiệp quá nhỏ không thể tác động đến giá cả thị trường. Cạnh tranh hoàn hảo
muốn tồn tại phải có các điều kiện.
- Tất cả các hàng kinh doanh trong ngành đó có quy mô tương đối nhỏ.
- Số lượng các hàng kinh doanh trong các ngành đó phải rất nhiều trong điều kiện như vậy
không có Công ty nào đủ sức mạnh để có thể cos ảnh hưởng đến giá cả của các sản phẩm
của mình trên thị trường. Sản phẩm của các hẵng đưa ra trên thị trường giống nhau tới
mức cả người sản xuất và người tiêu dùng rất khó phân biệt.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo: (Imperfect Competition) là hình thức cạnh tranh mà ở đó
các cá nhân, người bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thể lực có thể chi
phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường.
Cạnh tranh không hoàn hảo có 2 loại: Độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc
quyền.
+ Độc quyền nhóm (Oligopoly): tồn tại trong những ngành sản xuất mà ở đó chỉ cơ một số
ít người sản xuất hoặc một số ít người bán sản phẩm. Sự thay đổi về giá của một doanh
nghiệp, gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu đối với sản phẩm của doanh nghiệp
khác và ngược lại. ở các nước phát triển các ngành công nghiệp có độc quyền nhóm là
những ngành như sản xuất ô tô, cao su, chế biến thép v.v.
+ Cạnh tranh mang tính độc quyền (Mono Polistics Competition): Là hình thức cạnh tranh
bé" (như bán phá giá chẳng hạn).
+ Cạnh tranh bất hợp pháp (Fraudulent Competition): Là những hành vi của các nhà kinh
doanh thực hiện cạnh tranh trái với quy định của pháp luật đi ngược lại các nguyên tắc xã
hội, tập quán truyền thống của kinh doanh lành mạnh, xâm phạm lợi ích của xã hội, của
Nhà nước, của người tiêu dùng và của các nhà kinh doanh khác.
+ Có 2 loại cạnh tranh kinh tế: Là cạnh tranh trong sản xuất và cạnh tranh trong lưu thông.
- Cạnh tranh trong sản xuất: Là cạnh tranh diễn ra trong lĩnh vực sản xuất - nó bao gồm
cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành cạnh tranh trong nội bộ
ngành là cạnh tranh giữa các xí nghiệp cùng sản xuất một loại hàng hoá nhằm thu được
lợi nhuận siêu ngạch.
Để có siêu lợi nhuận các doanh nghiệp ra sức cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng
năng suất lao động, làm cho chi phí sản xuất nhỏ hơn so với doanh nghiệp khác - Như
vậy cạnh tranh trong nội bộ ngành chính là động lực cho sự phát triển tiến bộ kỹ thuật.
Khác với cạnh tranh trong nội bộ ngành, cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp sản xuất ở những ngành khác nhau nhằm mục tiêu tìm nơi đầu tư có lợi, là
những nơi có tỷ suất lợi nhuận cao - Điều này đảm bảo cho việc đầu tư vốn bình đẳng
giữa các ngành tạo nhân tố cho sự phát triển.
- Cạnh tranh trong lưu thông Là cạnh tranh trên lĩnh vực trao đổi, mua bán hàng hoá, cạnh
tranh trong lưu thông gồm có cạnh tranh giữa người bán và người mua, người bán với
người bán, người mua với người mua.
Cạnh tranh giữa người bán với người mua chính là sự tác động qua lại giữa sức cung và
Tóm lại cạnh tranh là môi trường tồn tại và phát triển của kinh tế thị trường, không có
cạnh tranh sẽ không có tính năng động và sáng tạo trong hoạt động sản xuát - kinh doanh.
Song xã hội dần dần sẽ chấp nhận hành vi cạnh tranh lành mạnh bằng các phương thức
sản xuất và vận chuyển hàng hoá một cách khoa học hiệu quả chứ không thừa nhận hành
vi cạnh tranh bằng cách dựa vào các thủ đoạn lừa đảo, không trong sáng. 1.1.4 Tiêu chí xác định sức mạnh cạnh tranh:
Sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá của một doanh nghiệp có thể biểu thị dưới dạng
quan hệ theo tương quan tỷ lệ thuận nghịch sau đây:
L
K = + M + F
P
Trong đó: K: Là năng lực cạnh tranh
L: Là chất lượng sản phẩm
P: Giá cả hàng hoá, sản phẩm
M: Các tác nhân trong thị trường
F: Các chính sách tác động vào thị trường và tiếp thị.
Chúng ta lần lượt xét các yếu tố sau:
1.1.5 Các yếu tố tác động cạnh tranh:
Thứ 1: Chất lượng hàng hoá (L) quyết định và tỷ lệ thuận với sức cạnh tranh.
Thứ 2: Giá cả (P) : Theo quy luật cung - cầu thị trường được hình thành từ các hệ thống
ngân sách cho tiêu dùng hay tiết kiệm đến giá cả hàng hoá. Từ đó đến sức mua, đến quan
hệ cung - cầu trên thị trường.
- Các cơ quan Quốc tế có ảnh hưởng rất lớn tới điều kiện hoạt động của các doanh nghiệp.
Các cơ quan này gồm các cơ quan Liên hiệp quốc (UMCERP, UNFPA, UNDP, FAO )
và các cơ quan tài chính Quốc tế (IMF, WB, ADB ). Các tổ chức kinh tế thế giới và khu
vực. Ví dụ: Các dự án của ADB cho Việt nam vay tiền làm đường sẽ tăng cầu về vật liệu
xây dựng và về ôtô, xe máy v.v.
- Các tổ chức tư nhân như nghiệp đoàn, các hội.
Thứ 4:
(F): Các chính sách thị trường và tiếp thị bao gồm:
+ Xác định thị trường mà doanh nghiệp hướng tới: Có những hoàn cảnh khó khăn xảy ra
cho doanh nghiệp thị trường co hẹp lại, cạnh tranh gay gắt, cần biến đổi, trong tình hình
đó mục tiêu của doanh nghiệp chỉ là tồn tại được trên thị trường hay là duy trì cho doanh
số hay thị phần không giảm đi. Ngoài những trường hợp này đòi hỏi doanh nghiệp phải
thực hiện một chính sách phòng ngự để bảo về thị trường đã có, và nếu muốn phát triển,
doanh nghiệp phải xác định thị trường mà doanh nghiệp muốn xâm nhập.
- Xâm nhập vào thị trường của các giới cạnh tranh: Với các mục tiêu này doanh nghiệp thu
hút các khách hàng hiện đang tiêu thụ sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, chính sách
này hợp với các doanh nghiệp có ưu thế mạnh đối với các đối thủ cạnh tranh: Như chất
lượng, giá cả, thị hiếu tiêu dùng v.v.
- Phát triển thị trường với các khách hàng tiêu dùng mới. Trong trường hợp này doanh
nghiệp tìm trong thị trường những vị trí chưa có các đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh hoặc vì
Để nâng cao hệ số biểu thị sức cạnh tranh (K) hiện nay trong cơ chế thị trường các doanh
nghiệp thường sử dụng những công cụ sau đây:
Một là + Chất lượng hàng hoá: Đây là công cụ đầu tiên và quan trọng mà các doanh
nghiệp sử dụng để thắng các đối thủ cạnh tranh.
Hai là + Giá cả hàng hoá: Giá cả hàng hoá được quyết định bởi giá trị hàng hoá song
sự vận động của giá cả còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán của người tiêu dùng.
Mức sống còn thấp, người tiêu dùng tìm mua những hàng hoá có giá rẻ, ngược lại khi mức sống cao hơn người tiêu dùng sẽ quan tâm nhiều đến hàng hoá có chất lượng tốt,
chấp nhận mức giá cao.
Ba là + áp dụng khoa học kỹ thuật và quản lý hiện đại: Thực tiễn đã chứng minh các
doanh nghiệp tồn tại và phát triển được cần có dây chuyền công nghệ mới, hiện đại, có
phương pháp quản lý khoa học.
Bốn là + Thông tin: Thông tin về thị trường mua bán, thông tin về tâm lý thị hiếu khách
hàng, về giá cả, đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quyết định kinh doanh của doanh nghiệp.
Năm là: Phương thức phục vụ và thanh toán trong sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp: Đây là công cụ rất quan trọng để chiến thắng trong cạnh tranh. Đây chính là khâu
phục vụ trước, trong và sau khi bán hàng : Bao gồm tiếp thị, quảng cáo, mời khách, thanh
toán linh hoạt v.v.
Sáu là: Tính độc đoán sản phẩm: Sự thay đổi thường xuyên về mẫu mã, nhãn hiệu hàng
hoá cũng như việc không ngừng nâng cao chất lượng tính năng hàng hoá sẽ tạo điều kiện
cho sự tồn tại và phát triển hiện nay.
1.2 Quan điểm của Nhà nước ta về cạnh tranh chuẩn bị cho hội nhập
Quốc tế:
Đánh giá về tình hình nền kinh tế nước ta, bên cạnh những thành tựu đạt được, nghị
quyết đại hội IX nêu rõ những yếu kém như sau: "Nền kinh tế phát triển chưa vững
chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá thành cao.
Nhiều sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp thiếu thị trường tiêu thụ
cả trong nước và nước ngoài, một phần do thiếu sức cạnh tranh". Trên cơ sở đánh giá tình hình, Nghị quyết đại hội Đảng IX cũng đã nêu rõ định hướng phát triển của nền kinh
tế trong đó nhấn mạnh việc nâng cao sức cạnh tranh như sau: "Kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 là bước rất quan trọng trong việc thực hiện chiến lược
10 năm 2001 - 2010 nhằm: Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, ổn định và cải
thiện đời sống nhân dân. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của
nền kinh tế".
Để chuẩn bị cho hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập AFTA, trong các giải pháp chủ
yếu thực hiện kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, Nghị quyết đại hội Đảng IX nhấn mạnh "Tiếp
tục chính sách mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển từng
ngành, từng doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch, giải pháp để thực hiện các cam
kết quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, mở
rộng thị phần trên những thị trường truyền thống, khai thông và mở rộng thị trường
mới".
Tóm lại: Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta rất quan tâm và đã
có những định hướng cho cả nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng về
nâng cao năng lực cạnh tranh để hội nhập thành công nền kinh tế thế giới mà trước mắt là
AFTA.
Tổng năng lực sản xuất theo thiết kế của các đơn vị thành viên Tổng Công ty Giấy Việt
nam như sau:
- Bột giấy: 120.000 tấn/năm
- Giấy: 183.000 tấn/năm
Sản phẩm bao gồm một số chủng loại chủ yếu: - Giấy viết, vở học sinh
- Giấy in, giấy in báo
- Giấy vệ sinh, khăn ăn
- Giấy xi măng, bao gói và các tông các loại.
Sự tăng trưởng về sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty Giấy Việt nam trong 5 năm gần
đây như sau:
ch
ỉ tiêu
đơn v
ị
tính
1997
1998
1999
2000
2.246.400
2.322.600Ta thấy những năm gần đây Tổng Công ty Giấy đã đạt được những thành tưu đáng kể
trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm của Tổng Công ty đã góp phần quan trọng
nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước, hạn chế một phần lượng bột giấy và giấy
nhập khẩu. Tuy nhiên sản lượng quá thấp so với các Công ty bột và giấy trong khu vực và
trên thế giới. Công nghệ, kỹ thuật lạc hậu, thiết bị cũ, năng suất sản xuất trên đầu người
quá thấp, trình độ quản lý yếu kém dẫn đến. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp
đang là những thách thức gay gắt đối với Tổng Công ty Giấy trên đường hội nhập vào
khu vực và thế giới.
Trước tình hình đó Tổng Công ty Giấy đề ra chiến lược phát triển ngành giấy từ nay đến
2010, trong đó chú trọng đến các mục tiêu là tập trung đầu tư phát triển công nghiệp sản
xuất bột giâý và giấy gắn liền với việc đầu tư phát triển các vùng nguyên liệu.
Đầu tư nâng cấp các nhà máy hiện có để đến 2010 đạt sản lượng 600.000 tấn - Trong đó
Bãi Bằng đạt 200.000 tấn giấy và 300.000 tấn bột (kế cả đầu tư mới).
2.1.2 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Giấy Bãi Bằng:
- Công trình nhà máy Giấy Bãi Bằng là món quà hữu nghị của Chính phủ và nhân dân
Thuỵ Điển giành cho Việt nam trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ trên cơ sở hiệp định
ký kết giữa hai Chính phủ Việt nam - Thuỵ Điển năm 1972.
- Dây chuyền được thiết kế và lắp đặt khá hoàn chỉnh với công nghệ khép kín được xếp
Kết quả sản xuất kinh doanh của Bãi Bằng 5 năm qua:
năm
s
ản l
ư
ợng
(tấn)
Doanh thu
(triệu đồng)
N
ộp ngân sách
(triệu đồng)
thu nh
ập bình
quân (triệu đ)
1997
53.000
585.013
53.179
1.032
2001
72.000
763.640
70.340
1.800
Hệ thống bộ máy tổ chức Công ty:
Tổ chức Công ty theo sơ đồ khái quát dưới đây:
nhà
máy
giấy
nhà
máy
điện
nhà
máy
hoá
chất
xí
nghiệ
p
bảo
dưỡn
g
nhà
máy
gỗ
cầu
đuốn
g khác
h