Mở đầu
--------
* Tính cấp thiết của đề tài
Khác với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trớc đây, trong nền kinh tế thị tr-
ờng định hớng xã hội chủ nghĩa hiện nay, cạnh tranh vừa là một trong những đặc trng
cơ bản, vừa luôn là vấn đề thời sự nóng bỏng của các doanh nghiệp phải chấp nhận
cạnh tranh. Do vậy, nâng cao khả năng cạnh tranh luôn là một trong những vấn đề
quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp.
Công ty Giấy Bãi Bằng, trong quá trình hình thành và phát triển của mình, đã dần
dần thích ứng với môi trờng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng, Với những cố
gắng của Lãnh đạo Công ty cũng nh của tập thể cán bộ công nhân viên, Công ty đã
duy trì đợc hoạt động sản xuất kinh doanh, hoàn thành vợt mức kế hoạch đề ra hàng
năm, doanh thu và lợi nhuận năm sau cao hơn năm trớc, đảm bảo nộp ngân sách và
nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên.
Tuy nhiên, trong một tơng lai không xa, nền kinh tế thị trờng nớc ta tất yếu sẽ phải
phát triển ngày càng hoàn thiện hơn, hội nhập ngày càng nhiều hơn, sâu sắc hơn với
kinh tế khu vực và thế giới ... Liệu Công ty Giấy Bãi Bằng còn có thể duy trì hoạt động
nh hiện nay, liệu công ty có thể đứng vững trớc sự canh tranh ngày càng khốc liệt hơn
của các doanh nghiệp khác, cả trong nớc lẫn ngoài nớc.
Để tồn tại và phát triển vững mạnh trong môi trờng mới đó, Công ty Giấy Bãi Bằng
phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Vì vậy, nghiên cứu để
nắm rõ thực trạng, nhận diện chính xác những mặt mạnh, mặt yếu về năng lực cạnh
tranh hiện nay của Công ty, tìm ra những giải pháp đúng đắn nhằm nâng cao nhanh
chóng năng lực cạnh tranh là một vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách của Công ty.
Đề tài luận văn: "Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Giấy Bãi Bằng trong
quá trình chuyển sang cơ chế thị trờng và hội nhập" đợc thực hiện nhằm mục đích
góp phần nhỏ vào việc nghiên cứu ấy.
1
Đối tợng, phạm vi đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cớu chủ yếu về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh. Đề tài đợc
nghiên cứu ở phạm vi ngành giấy và chủ yếu tại Công ty giấy Bãi Bằng.
trao đổi là hàng hoá, dịch vụ: đối tợng tham gia trao đổi là ngời mua, ngời bán:
điều kiện thực hiện trao đổi là khả năng thanh toán, địa điểm trao đổi: Các thể chế
hoặc tập tục (luật chơi) để đảm bảo hoạt động mua bán an toàn, nhanh chóng.
Trong lịch sử nhân loại, thị trờng đã phát triển qua những nấc thang khác nhau:
- Thị trờng cổ điển: Là thị trờng có đầy đủ các yếu tố hàng hoá, dịch vụ, ngời
mua, ngời bán, gắn với tính chất hoặc đặc điểm nào đó.
- Thị trờng phát triển: Là thị trờng mà ngời mua, ngời bán có thể cam kết, thực hiện
mua bán nhng không cần phải trực tiếp trao đổi hàng hoá. Đây là thị trờng văn
minh, khi ngời mua, ngời bán đã đạt tới độ tín nhiệm, quy mô mua bán lớn.
3
- Thị trờng hiện đại: Là thị trờng có ngời mua, ngời bán hàng hoá, dịch vụ (hữu
hình, vô hình) ngời môi giới và các phơng tiện kỹ thuật hiện đại. Vì đối tợng mua
bán khá phức tạp, do đó rất cần ngời môi giới, t vấn, nhất là môi giới t vấn tài
chính. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, đặc biệt là
công nghệ thông tin, ngời ta mua bán hết sức thuận lợi. Mặc dù ở cách xa nhau về
mặt địa lý, ngời ta vẫn có thể giao dịch, mua bán một cách mau lẹ thông qua các
phơng tiện thông tin hiện đại.
Thị trờng có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ thị trờng
mà giá cả đợc hình thành nh thớc đo chung, là căn cứ khách quan để điều chỉnh
hành vi của ngời tiêu dùng và nhà sản xuất. Sở dĩ thị trờng có vai trò to lớn vì nó có
những chức năng cơ bản sau đây:
- Chức năng thừa nhận: Thông qua quá trình trao đổi giữa ngời mua và ngời bán,
tính hàng hoá của sản phẩm có thể đợc thừa nhận hoặc không đợc thừa nhận. Nếu
đợc thừa nhận thì quá trình mua bán đợc giải quyết, sản phẩm trở thành hàng hoá.
Nếu không đợc thừa nhận thì quá trình mua bán không đợc giải quyết, sản phẩm
không trở thành hàng hoá.
- Chức năng thực hiện: Sự thực hiện giá trị chỉ xảy ra khi quá trình trao đổi hàng hoá đ-
ợc thực hiện. Thông qua chức năng thực hiện các hàng hoá, dịch vụ mà hình thành nên
giá cả hàng hoá, dịch vụ.
- Chức năng điều tiết: Thông qua việc hình thành giá cả dới tác động của quy luật giá
của Nhà nớc. Cơ chế thị trờng hoạt động theo các quy luật khách quan của thị trờng,
bao gồm:
- Quy luật giá trị: Việc sản xuất hàng hoá phải trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần
thiết, trao đổi phải bình đẳng, ngang giá. Mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh phải
tuân thủ quy luật này mới có thể tồn tại và phát triển.
5
- Quy luật cung - cầu: Biểu hiện quan hệ giữa cung và cầu hàng hoá thông qua
giá cả hàng hoá. Quy luật này tác động trực tiếp đến giá cả hàng hoá và phơng h-
ớng sản xuất, tiêu dùng của xã hội.
- Quy luật canh tranh: Yêu cầu hàng hoá sản xuất ra phải có chất lợng tốt hơn, chi
phí thấp hơn, thái độ phục vụ văn minh hơn để nâng cao khả năng cạnh tranh với
các hàng hoá khác cùng loại.
Nh vậy có thể hiểu: Giá cả thị trờng, cung - cầu hàng hoá và cạnh tranh là các bộ
phận hợp thành chủ yếu của cơ chế thị trờng. Các bộ phận này có quan hệ mật
thiết với nhau. Trong đó, giá cả là cá nhân của thị trờng , cung cầu là trung tâm và
cạnh tranh là linh hồn, là sức sống của thị trờng.
1.1.2 Khái niệm cơ bản cạnh tranh:
Cạnh tranh (tiếng Anh là Competion) về mặt thuật ngữ đợc hiểu nh là sự cố gắng giành
thắng lợi, phần thắng về mình giữa những ngời những tổ chức hoạt động có những
mục tiêu và lợi ích giống nhau trong kinh doanh, cạnh tranh đợc định nghĩa nh là sự
đua tranh giữa các nhà kinh doanh trên thị trờng nhằm dành u thế trên cùng một tài
nguyên, sản phẩm hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình.
Cạnh tranh: Là một trong những đặc trng cơ bản của cơ chế thị trờng, không có
cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị trờng. Nền kinh tế thị trờng khi vận hành phải
tuân theo những quy luật khách quan riêng của nó, trong đó có quy luật cạnh tranh.
Theo quy luật này các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc, thiết bị,
công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lợng sản phẩm để dành u thế so với
đối thủ của mình. Kết quả là kẻ mạnh về khả năng vật chất và trình độ kinh doanh sẽ
là ngời chiến thắng. Cạnh tranh là động lực thúc đẩy lực lợng sản xuất xã hội phát
triển. Nếu lợi nhuận thúc đẩy các cá nhân tiến hành sản xuất - kinh doanh thì cạnh
nhau và sản lợng từng doanh nghiệp quá nhỏ không thể tác động đến giá cả thị tr-
ờng. Cạnh tranh hoàn hảo muốn tồn tại phải có các điều kiện.
- Tất cả các hàng kinh doanh trong ngành đó có quy mô tơng đối nhỏ.
7
- Số lợng các hàng kinh doanh trong các ngành đó phải rất nhiều trong điều
kiện nh vậy không có Công ty nào đủ sức mạnh để có thể cos ảnh hởng đến giá cả
của các sản phẩm của mình trên thị trờng. Sản phẩm của các hẵng đa ra trên thị tr-
ờng giống nhau tới mức cả ngời sản xuất và ngời tiêu dùng rất khó phân biệt.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo: (Imperfect Competition) là hình thức cạnh tranh mà
ở đó các cá nhân, ngời bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thể lực
có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trờng.
Cạnh tranh không hoàn hảo có 2 loại: Độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính
độc quyền.
+ Độc quyền nhóm (Oligopoly): tồn tại trong những ngành sản xuất mà ở đó chỉ cơ
một số ít ngời sản xuất hoặc một số ít ngời bán sản phẩm. Sự thay đổi về giá của
một doanh nghiệp, gây ra những ảnh hởng đáng kể đến nhu cầu đối với sản phẩm
của doanh nghiệp khác và ngợc lại. ở các nớc phát triển các ngành công nghiệp có
độc quyền nhóm là những ngành nh sản xuất ô tô, cao su, chế biến thép v.v.
+ Cạnh tranh mang tính độc quyền (Mono Polistics Competition): Là hình thức
cạnh tranh mà ở đó những ngời bán có thể ảnh hởng đến những ngời mua bằng sự
khác nhau của các sản phẩm mà mình sản xuất ra về hình dáng, kích thớc, chất l-
ợng và nhãn hiệu. Trong nhiều trờng hợp ngời bán có thể bắt ngời mua chấp nhận
giá sản phẩm do họ định ra. Trong hình thức cạnh tranh này có nhiều ngời bán và
có nhiều ngời mua. Các sản phẩm của ngời bán về cơ bản là giống nhau song khác
nhau về mẫu mã, chất lợng, màu sắc v.v. Các hãng kinh doanh thờng có cố gắng
tạo ra các sản phẩm của họ phong phú, có nhiều điểm khác biệt so với các sản
phẩm của đối thủ cạnh tranh. Trong ngành công nghiệp cạnh tranh kiểu này, quy
mô của các doanh nghiệp có thể là lớn, vừa, nhỏ vì vậy nhập và bỏ ngành hàng dễ
dàng hơn.
+ Cạnh tranh lành mạnh (Healthy Competition): Là hình thức cạnh tranh lý tởng,
xuất, tăng năng suất lao động, làm cho chi phí sản xuất nhỏ hơn so với doanh
9
nghiệp khác - Nh vậy cạnh tranh trong nội bộ ngành chính là động lực cho sự
phát triển tiến bộ kỹ thuật.
Khác với cạnh tranh trong nội bộ ngành, cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp sản xuất ở những ngành khác nhau nhằm mục tiêu tìm nơi
đầu t có lợi, là những nơi có tỷ suất lợi nhuận cao - Điều này đảm bảo cho việc
đầu t vốn bình đẳng giữa các ngành tạo nhân tố cho sự phát triển.
- Cạnh tranh trong l u thông Là cạnh tranh trên lĩnh vực trao đổi, mua bán hàng
hoá, cạnh tranh trong lu thông gồm có cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua, ngời
bán với ngời bán, ngời mua với ngời mua.
Cạnh tranh giữa ngời bán với ngời mua chính là sự tác động qua lại giữa sức cung
và sức cầu trên thị trờng. Sự cạnh tranh này dẫn đến hình thành giá cả cân bằng
trên thị trờng.
Cạnh tranh giữa ngời bán với ngời bán là cạnh tranh để làm cho giá cả hàng hoá có
xu hớng giảm, còn cạnh tranh giữa ngời mua với ngời mua lại có tác động ngợc lại
thờng làm cho giá cả tăng lên.
+ Cạnh tranh đ ợc coi nh là một cuộc cạnh tranh kinh tế: Trong điều kiện đó doanh
nghiệp muốn chiến thắng phải tìm ra các kỹ thuật tiến công phù hợp - Với một
cách khác là phải có các biện pháp cạnh tranh. Ngày nay, ngời ta thừa nhận trong
điều kiện kinh tế thị trờng phải dựa vào cạnh tranh giá cả, chất lợng và điều kiện
giao nhận.
- Có thể hiểu cạnh tranh giá cả dới hai giác độ: Giác độ tích cực là nhờ áp dụng tiến
bộ kỹ thuật nên tăng năng suất lao động, giảm chi phí và giảm giá cả xuống, do
vậy hàng hoá đợc chấp nhận trên thị trờng và doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh
trạnh đó là cạnh tranh lành mạnh; Giác độ thứ hai của cạnh tranh giả cả là tìm
cách bán phá giá thậm chí còn thấp hơn cả chi phí để đối thủ phải bỏ thị trờng sau
đó chiếm lại toàn thị phần và tự do lên giá đó là cạnh tranh không lành mạnh.
10
- Trong nền kinh tế hiện đại, cạnh tranh bằng chất lợng trở thành then chốt, chất
Thứ 3: Các tác nhân trong thị trờng (M) bao gồm:
+ Ng ời mua: Là tác nhân chủ yếu trên thị trờng và họ là khách hàng tiêu thụ sản
phẩm cho các doanh nghiệp. Họ có thể là cá nhân hay là các tổ chức tập thể. Thoả
mãn tốt nhất mọi nhu cầu của họ luôn là mục tiêu hoạt động của các tác nhân khác
(nhà cung cấp, nhà phân phối) trên thị trờng.
+ Ng ời cung cấp: Đây là khởi nguồn của dòng vận động hàng hoá đa ra thị trờng để
thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Họ là nguồn cung sản phẩm và là những ngời
sản xuất (hàng nội) hay là các nhà nhập khẩu (hàng ngoại).
+ Ng ời phân phối: Đây là khâu trung gian giữa ngời cung cấp và ngời mua. Họ có
vai trò chủ yếu trong thị trờng vì nhờ có họ mà cung gặp đợc cầu. Hoạt động chủ
yếu của họ là kinh doanh thơng mại và bao gồm: Nhà bán buôn, nhà bán lẻ, đại lý.
+ Các tác nhân khác: Đây là những tác nhân quan trọng có ảnh hởng tới môi trờng
hoạt động của doanh nghiệp bao gồm:
- Nhà nớc có ảnh hởng cực kỳ quan trọng thông qua việc ban hành hệ thống văn bản
pháp quy chính sách nhằm tạo ra môi trờng chính trị, pháp luật và kinh tế vĩ mô
cho hoạt động của các doanh nghiệp. Đặc biệt chính sách tài khoá của Chính phủ
ảnh hởng tới cung - cầu hàng hoá hoặc là chính sách đầu t cũng vậy.
- Các cơ quan tài chính nh ngân hàng, bảo hiểm thông qua các quy định về tín dụng,
lãi suất, tỷ lệ bồi thờng thiệt hại v.v. Các cơ quan này có thể ảnh hởng đến sự phân
bổ ngân sách cho tiêu dùng hay tiết kiệm đến giá cả hàng hoá. Từ đó đến sức mua,
đến quan hệ cung - cầu trên thị trờng.
12
- Các cơ quan Quốc tế có ảnh hởng rất lớn tới điều kiện hoạt động của các doanh
nghiệp. Các cơ quan này gồm các cơ quan Liên hiệp quốc (UMCERP, UNFPA,
UNDP, FAO ...) và các cơ quan tài chính Quốc tế (IMF, WB, ADB ...). Các tổ chức
kinh tế thế giới và khu vực. Ví dụ: Các dự án của ADB cho Việt nam vay tiền làm đ-
ờng sẽ tăng cầu về vật liệu xây dựng và về ôtô, xe máy v.v.
- Các tổ chức t nhân nh nghiệp đoàn, các hội.
Thứ 4:
(F): Các chính sách thị trờng và tiếp thị bao gồm:
gây ảnh hởng đến khách hàng của doanh nghiệp: Quảng cáo, xúc tiến bán, giao
tiếp, lựa chọn bán hàng.
- Chính sách phân phối: Cách giao hàng, kỹ thuật bày bán hàng, kho hàng, tổ chức
kho tàng, chu trình phân phối v.v.
1.1.6 Các công cụ cạnh tranh chủ yếu đ ợc sử dụng trong nền kinh tế thị tr ờng:
Để nâng cao hệ số biểu thị sức cạnh tranh (K) hiện nay trong cơ chế thị trờng các
doanh nghiệp thờng sử dụng những công cụ sau đây:
Một là + Chất l ợng hàng hoá: Đây là công cụ đầu tiên và quan trọng mà các doanh
nghiệp sử dụng để thắng các đối thủ cạnh tranh.
Hai là + Giá cả hàng hoá: Giá cả hàng hoá đợc quyết định bởi giá trị hàng hoá
song sự vận động của giá cả còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán của ngời tiêu
dùng. Mức sống còn thấp, ngời tiêu dùng tìm mua những hàng hoá có giá rẻ, ngợc
lại khi mức sống cao hơn ngời tiêu dùng sẽ quan tâm nhiều đến hàng hoá có chất l-
ợng tốt, chấp nhận mức giá cao.
14
Ba là + áp dụng khoa học kỹ thuật và quản lý hiện đại: Thực tiễn đã chứng minh
các doanh nghiệp tồn tại và phát triển đợc cần có dây chuyền công nghệ mới, hiện
đại, có phơng pháp quản lý khoa học.
Bốn là + Thông tin: Thông tin về thị trờng mua bán, thông tin về tâm lý thị hiếu
khách hàng, về giá cả, đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quyết định kinh doanh của
doanh nghiệp.
Năm là: Ph ơng thức phục vụ và thanh toán trong sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp: Đây là công cụ rất quan trọng để chiến thắng trong cạnh tranh. Đây chính là
khâu phục vụ trớc, trong và sau khi bán hàng : Bao gồm tiếp thị, quảng cáo, mời
khách, thanh toán linh hoạt v.v.
Sáu là: Tính độc đoán sản phẩm: Sự thay đổi thờng xuyên về mẫu mã, nhãn hiệu
hàng hoá cũng nh việc không ngừng nâng cao chất lợng tính năng hàng hoá sẽ tạo
điều kiện cho sự tồn tại và phát triển hiện nay.
Bảy là: Chữ tín là công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp: Trong quá trình kinh
doanh các doanh nghiệp sử dụng nhiều biện pháp nhằm dành dật khách hàng về phía
đánh giá tình hình, Nghị quyết đại hội Đảng IX cũng đã nêu rõ định hớng phát triển
của nền kinh tế trong đó nhấn mạnh việc nâng cao sức cạnh tranh nh sau: "Kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 là bớc rất quan trọng trong việc thực
hiện chiến lợc 10 năm 2001 - 2010 nhằm: Tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững,
ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu
lao động theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao rõ rệt hiệu quả và
sức cạnh tranh của nền kinh tế".
Để chuẩn bị cho hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập AFTA, trong các giải pháp
chủ yếu thực hiện kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, Nghị quyết đại hội Đảng IX nhấn
mạnh "Tiếp tục chính sách mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát
triển ... từng ngành, từng doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch, giải pháp để
thực hiện các cam kết quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trờng trong
16
nớc và quốc tế, mở rộng thị phần trên những thị trờng truyền thống, khai
thông và mở rộng thị trờng mới".
Tóm lại: Con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, Đảng ta rất quan tâm và
đã có những định hớng cho cả nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng
về nâng cao năng lực cạnh tranh để hội nhập thành công nền kinh tế thế giới mà trớc
mắt là AFTA.
Trọng tâm của AFTA là giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0 ữ 5 % và triệt tiêu từng b-
ớc hàng rào phi thuế quan cản trở thơng mại trong vòng 15 năm kể từ 1-1-1993 cho 2
loại mặt hàng chính là hàng công nghệ và nông sản chế biến với 15 nhóm mặt hàng
cụ thể là: Dầu thực vật, xi măng, dợc phẩm, phân bón, chất dẻo, sản phẩm cao su, đồ
da, bột giấy v.v.
Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là một tất yếu khách quan trong điều kiện khu
vực hoá và toàn cầu hoá phát triển nhanh chóng tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các
quốc gia, các nền kinh tế ngày một gia tăng. Trên cơ sở đờng lối đối ngoại độc lập tự
chủ, đa dạng hoá, đa phơng hoá quan hệ Quốc tế. Đảng ta đã sớm nhận thức đợc xu
thế tất yếu của quá trình hội nhập Quốc tế và có chủ trơng hội nhập với các nền kinh
tế thế giới, cũng nh hình thành một số quan điểm và luận điểm cơ bản về mặt lý luận
1997 1998 1999 2000 2001
Tổng sản phẩm Tấn 127.400 162.300 169.200 173.300 187.500
Doanh thu Tr. đ 1.646.700 2.269.400 2.247.300 2.246.400 2.322.600
Ta thấy những năm gần đây Tổng Công ty Giấy đã đạt đợc những thành tu đáng kể
trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm của Tổng Công ty đã góp phần quan
trọng nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nớc, hạn chế một phần lợng bột giấy và
giấy nhập khẩu. Tuy nhiên sản lợng quá thấp so với các Công ty bột và giấy trong khu
vực và trên thế giới. Công nghệ, kỹ thuật lạc hậu, thiết bị cũ, năng suất sản xuất trên
đầu ngời quá thấp, trình độ quản lý yếu kém dẫn đến. Khả năng cạnh tranh của sản
phẩm thấp đang là những thách thức gay gắt đối với Tổng Công ty Giấy trên đờng hội
nhập vào khu vực và thế giới.
Trớc tình hình đó Tổng Công ty Giấy đề ra chiến lợc phát triển ngành giấy từ nay
đến 2010, trong đó chú trọng đến các mục tiêu là tập trung đầu t phát triển công
nghiệp sản xuất bột giâý và giấy gắn liền với việc đầu t phát triển các vùng nguyên
liệu.
18
Đầu t nâng cấp các nhà máy hiện có để đến 2010 đạt sản lợng 600.000 tấn - Trong
đó Bãi Bằng đạt 200.000 tấn giấy và 300.000 tấn bột (kế cả đầu t mới).
2.1.2 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Giấy Bãi Bằng:
- Công trình nhà máy Giấy Bãi Bằng là món quà hữu nghị của Chính phủ và nhân dân
Thuỵ Điển giành cho Việt nam trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ trên cơ sở hiệp
định ký kết giữa hai Chính phủ Việt nam - Thuỵ Điển năm 1972.
- Dây chuyền đợc thiết kế và lắp đặt khá hoàn chỉnh với công nghệ khép kín đợc
xếp vào hàng công nghệ tiên tiến ở thập niên 70. Năng lực sản xuất là 48.000 tấn
bột và 55.000 tấn giấy mỗi năm.
- Từ sau khi khánht hành vào năm 1982 cho tới đầu những năm 90, mặc dù đợc các
chuyên gia Thuỵ Điển giúp đỡ điều hành nhng do cơ chế kìm hãm nên công suất
của nhà máy không nâng đợc lên trên 70% công suất thiết kế (là điểm hoà vốn).
Chỉ từ sau khi Nhà nớc đổi mới cơ chế, đặc biệt từ sau năm 1995 Công ty mạnh
dạn đổi mới về quản lý, tổ chức ... sản xuất kinh doanh phát triển, sản xuất vợt
20
Hệ thống bộ máy tổ chức Công ty:
Tổ chức Công ty theo sơ đồ khái quát dới đây:
Trong đó:
- Tổng công ty Giấy Việt nam là Tổng công ty Nhà nớc thành lập theo quyết định số
91/TTg ngày 7/3/1994.
- Công ty Giấy Bãi Bằng trực thuộc Tổng công ty Giấy Việt nam là doanh nghiệp
Nhà nớc thành lập theo quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tớng Chính
phủ.
21
Tổng công ty
giấy việt nam
công ty giấy
bãi bằng
các phòng ban chức
năng: TCHC, KTCN, thị tr-
ờng, vật t, TCKT ...
Các
chi
nhánh
- Hà
Nội
- Đà
Nẵng
- HCM
nhà
máy
giấy
nhà
máy
Giấy do ngời Trung quốc phát minh ra cách đây 3 000 năm, nhng phải đến thế kỷ
thứ 20 loài ngời mới sản xuất giấy bằng dây chuyền công nghệ công nghiệp hiện
đại. Hiện nay giấy là tên gọi chung của rât nhiều sản phẩm, làm từ bột sợi
Xenlulô nh là: Giấy in, giấy viết, giấy in báo, giấy Tissue ( giấy khăn ăn, vệ
sinh), giấy thành phẩm, giấy bao gói, giấy telex vv... Hiện tại các sản phẩm giấy
sản xuất tại Bãi Bằng bao gồm: Giấy in, giấy viết, giấy coppy, giấy telex, vở học
sinh các loại, và giấy Tissue.
Do khuôn khổ của luận văn nên tôi chỉ đề cập đến 2 loại sản phẩm chính của
công ty là giấy in và giấy viết dới dạng lô.
Sau khi đợc đầu t chiều sâu một số hạng mục và cải tiến công nghệ sản xuất giấy
từ môi trờng axít sang môi trờng kiềm có gia keo bề mặt. Giấy Bãi Bằng đã đạt t-
ơng đơng các sản phẩm trong khu vực. Giấy Bãi Bằng đã đạt đợc nhiều giải th-
ởng trong nớc và quốc tế nh: Huy chơng Vàng sản phẩm, xếp hạng sản phẩm đợc
nhiều ngời tiêu dùng a chuộng, đạt giải Vàng hàng Việt nam chất lợng cao, giải
qủa cầu Vàng, giải gold star do tổ chức quốc tế trao tặng.
2.2.2 Đặc điểm thị tr ờng tiêu thụ và thị hiếu của khách hàng :
Thị trờng tiêu thụ giấy viết, giấy in Bãi Bằng chủ yếu là trong nớc. Giấy Bãi Bằng
cũng đã từng xuất khẩu đi các nớc nh Singapore, Malaysia, Hồng Kông, Sirilanca
và irắc. Do thị trờng trong nớc lớn và đợc Nhà nớc bảo hộ bằng hàng rào thuế
quan nên giấy Bãi Bằng chủ yếu đợc tiêu thụ nội địa. Khách hàng tiêu thụ giấy
viết, giấy in trong nớc chủ yếu là các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh
ngành in và sản xuất vở tập học sinh. Do vậy mục tiêu chính của họ tìm kiểm lợi
22
nhuận. Để có lợi nhuận cao khách hàng yêu cầu rất khắt khe về chất lợng
sản phẩm độ trắng, độ nhám, độ dai phải đảm bảo nhng định lợng lại thấp.
2.2.3 Các đối thủ cạnh tranh trong n ớc và khu vực ASEAN :
Hiện nay trong 10 nớc ASEAN chỉ có 5 nớc là: Indonesia, ThaiLand, Malaysia,
Philipin và Việt nam là có sản xuất giấy ở mức thành ngành công nghiệp.
Singapore là nớc tiêu thụ giấy ở mức cao nhng hầu hết là nhập khẩu. Lào, Miama
mới có vài cơ sở sản xuất nhỏ còn Campuchia và Brunei thì cha sản xuất giấy.
Đồng nai....
So với giấy của các nớc có công nghệ sản xuất giấy tiên tiến trong khu vực, nh đã
phân tích ở trên ta thấy hầu hết công nghệ sản xuất của họ tiên tiến hơn của ta từ
1 ữ 2 thế hệ nên chất lợng cao hơn.
Tuy nhiên sau đầu t giai đoạn 1 sẽ hoàn thành vào cuối năm 2003, chất lợng giấy
Bãi Bằng sẽ tăng lên ngang bằng và vợt mặt bằng chất lợng trong khu vực. Do
vậy giấy Bãi Bằng có khả năng cạnh tranh.
Biểu chất lợng đợc thể hiện:
Tên chỉ tiêu Đơn vị Giấy viết Giấy in
Hiện tại
Sau
Hiện tại
Sau đầu t
Định lợng g/m
2
58 2 58 1 50 ữ80 2 50ữ801
Độ trắng %
80 ữ 85 85 ữ 90 80 ữ85 85 ữ90
Độ nhám Ml/ph 400 250 350 250
Độ chặt Kg/m
3
640 700 640 700
Độ hút nớc g/m
2
24 2 24 2 28 2 28 2
Độ ẩm %
5,5 ữ 6,5 6 ữ 7 5,5 ữ 6.5 6 ữ 7
Độ tro %
10 1 12 1 10 1 12 1
Về mẫu mã, bao gói: Do nhu cầu giấy nội địa lớn, nhãn hiệu giấy Bãi Bằng có u
- Giá bán: 10.500.000 đ/tấn 686 USD/tấn.
- Giá cùng loại giấy từ các nớc ASEAN nhập về Việt nam cha có thuế: 500
USD/tấn 7 650.000 đ
- Sau khi có thuế nhập 50% ( 2002 ) 750 USD/tấn 11.500.000 đ
- Sau khi có thuế 20% ( 2003 ) 600 USD /tấn 9.180.000 d.
25