Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mía đường Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế: Thực trạng và giải pháp - Pdf 10

Mở đầu
Trong thời đại mà công nghệ thông tin và giao thông khiến cho thế giới có vẻ nhỏ
đi, các doanh nghiệp, các ngành công nghiệp và thậm chí các Chính phủ cũng phải
học để có thể cạnh tranh và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Việt Nam là một
quốc gia còn nhiều hạn chế về tiềm lực kinh tế song Việt Nam xác định không thể
đứng ngoài xu thế tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Vấn đề đặt ra là
hội nhập với lộ trình nh thế nào và mức độ ra sao để các ngành có quy mô, trình
độ khác nhau, có năng lực cạnh tranh và lợi thế so sánh khác nhau vẫn có thể vợt
qua những thách thức và tận dụng đợc những cơ hội do hội nhập đem lại.
Ngành mía đờng Việt Nam đã thực sự phát triển sau khi Chơng trình mía đờng ra
đời vào năm 1995 với mục tiêu sản xuất 1 triệu tấn đờng thay thế nhập khẩu. Từ
đó tới nay, mục tiêu về sản lợng đã hoàn thành. Song một nghịch lý đang tồn tại là
ngành mía đờng tuy có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu, nguồn lực vậy mà giá đ-
ờng sản xuất trong nớc vẫn quá cao, năng suất công nghiệp thấp, chất lợng hạn
chế, mía nguyên liệu lúc thiếu lúc thừa, các nhà máy lỗ nhiều hơn lãi, đờng nhập
lậu tràn lan trên thị trờng Trong khi đó, lộ trình cắt giảm thuế quan và hàng rào
phi thuế quan theo cam kết hội nhập AFTA đang đến rất gần. Nguy cơ bị cạnh
tranh gay gắt từ các đối thủ trong khu vực và thế giới đã hiển hiện. Vậy thực trạng
năng lực cạnh tranh của ngành mía đờng Việt Nam hiện nay ra sao? Ngành mía đ-
ờng cần làm gì để có thể tự cứu sống mình và vơn lên cạnh tranh thắng lợi trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ?
Trớc những câu hỏi bức súc đó, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài khóa luận của
mình là: Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mía đ ờng Việt Nam trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế: Thực trạng và giải pháp
Kết cấu khóa luận đợc chia thành 3 phần lớn:
1
Chơng 1: Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và mô hình đánh
giá năng lực cạnh tranh của ngành mía đờng
Chơng 2: Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành mía đờng Việt
Nam bằng mô hình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mía đờng Việt

là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, các nền kinh tế cũng ngày càng tăng.
Thứ hai, sự lớn mạnh của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình
chuyên môn hóa, hợp tác và liên kết kinh tế giữa các quốc gia, dẫn đến phân công
lao động quốc tế ngày càng sâu sắc.
Thứ ba, nhiều vấn nạn mang tính toàn cầu nh suy thoái môi trờng, bùng nổ dân
số, khủng bố, bệnh tật đã và đang buộc cộng đồng thế giới phải đối mặt với
những khó khăn mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết.
Hơn thế, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra với quy mô rộng lớn, tốc
độ ngày càng cao và chi phối tất cả hoạt động của đời sống con ngời. Vòng đàm
phán U-ru-goay kết thúc, Hiệp định Ma-ra-két đợc ký kết, Tổ chức thơng mại thế
giới (WTO) ra đời từ 01/01/1995 đã thu hút sự tham gia của 136 và tới nay là 148
3
quốc gia và lãnh thổ, chiếm gần 100% kim ngạch buôn bán quốc tế. Bên cạnh sự
ra đời của WTO, nhiều mối liên kết toàn châu lục và liên châu lục đã đợc hình
thành: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á-Thái Bình Dơng (APEC), Chơng trình
phát triển xuyên Đại Tây Dơng, Hội nghị á-Âu (ASEM), Tổ chức hợp tác và phát
triển 14 nớc ven ấn Độ Dơng ở cấp độ thấp hơn, các tổ chức tiểu vùng, khu vực
và liên khu vực, các mối liên kết tay đôi, tay ba, các tam, tứ giác phát triển, các
khu vực mậu dịch tự do nh AFTA, NAFTA, MERCOSUR... cũng đang gắn kết
nhau lại để cùng phát triển.
Nh vậy, xu hớng hội nhập đã cuốn theo tất cả các nền kinh tế, hoặc là chủ động
tham gia hoặc là bị động lôi cuốn. Không một quốc gia nào có thể phát triển mà đi
theo chủ nghĩa biệt lập, dù là những nớc giàu có nh Hoa Kỳ hay đông dân nh
Trung Quốc. Thế giới đã chứng minh sự thất bại của các chiến lợc phát triển kinh
tế theo hớng đóng cửa, khép kín và thế giới cũng đã chứng kiến sự thành công
ngoạn mục của những nền kinh tế mở cửa, hớng về xuất khẩu. Trớc làn sóng phát
triển mạnh mẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam không thể đứng ngoài
cuộc!
Việt Nam với hội nhập
Trong bối cảnh trên, việc Việt Nam chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới là

thời điểm các quốc gia cần có một cái nhìn khách quan và công bằng về tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó đa ra những quyết định sáng suốt cho sự phát triển
của chính mình. Một trong những yếu tố hàng đầu các quốc gia cần nhận thức đợc
là những đặc trng cơ bản của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.2.1 Sự tự do lu chuyển các nguồn lực
Sự tự do lu chuyển các nguồn lực diễn ra một cách nhanh chóng với quy mô lớn
trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Nguồn lực ở đây chủ yếu bao gồm các luồng
vốn và lao động, hai yếu tố cơ bản của nền kinh tế. Hai yếu tố này tạo nên cung và
cầu, là lý do và phơng tiện để cho các hoạt động kinh tế có thể tồn tại và phát
triển. Sự di chuyển của hai nguồn lực này thờng ngợc chiều nhau: các luồng vốn đi
5
từ các nớc phát triển đến các nớc đang phát triển và thị trờng mới nổi, trong khi
các nguồn nhân lực lại di chuyển từ các nớc đang phát triển đến các nớc phát triển.
Tuy nhiên, dòng lu chuyển nhân lực theo hớng này đã dần chậm lại do nguồn nhân
lực của các nớc đang phát triển đa phần là trình độ thấp, kỹ năng lao động cha cao.
1.1.2.2 Tính cạnh tranh cao
Cạnh tranh là một quy luật thị trờng, nó tồn tại trớc khi các nền kinh tế biết đến
tiến trình hội nhập. Tuy nhiên, trớc xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, đặc tính
cạnh tranh trở nên rõ rệt và quyết liệt hơn bao giờ hết. Những hiệp định, những
thỏa thuận hợp tác khiến cho đờng biên giới quốc gia trong các giao dịch thơng
mại, tài chính, ngân hàng hầu nh không còn tồn tại. Các doanh nghiệp có cơ hội
ngang nhau trong việc tiếp cận các thị trờng hàng hóa và thị trờng vốn mà trớc đây
họ cha thể xâm nhập. Những lợi ích thu đợc từ tiến trình hội nhập khiến cho các
doanh nghiệp cần cạnh tranh với nhau một cách gay gắt hơn để tồn tại và phát
triển. Sự cạnh tranh không còn giới hạn trong thị trờng nội địa nữa mà ngày càng
đợc quốc tế hóa. Cũng từ nhận thức này mà trong Quan điểm chỉ đạo hội nhập
kinh tế quốc tế, Đảng ta đã chỉ rõ: hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp
tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do
đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập
tùy theo đối tợng, vấn đề, trờng hợp, thời điểm cụ thể

USD. Vấn đề đặt ra trớc những quốc gia muốn tham gia vào quá trình hội nhập là
làm thế nào để tận dụng một cách thành công những lợi ích của các luồng vốn
trong khi vẫn kiểm soát đợc các rủi ro kèm theo.
Tóm lại, những đặc trng trên là điều kiện đầu tiên mà các quốc gia cần ghi nhớ khi
bớc chân vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Có nh vậy từng quốc gia khác
nhau mới có thể thiết lập một chiến lợc hội nhập thích hợp nhất, đem lại hiệu quả
kinh tế tối u.
7
1.1.3 Những kết quả ban đầu của Việt Nam trong tiến trình hội nhập vào khu
vực và thế giới.
Với đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phơng hóa các quan hệ
quốc tế, Việt Nam đã đạt đợc những bớc tiến quan trọng và cần thiết trong tiến
trình hội nhập vào khu vực và thế giới.
Sau gần 18 năm đổi mới, phát huy nội lực và hội nhập với nền kinh tế thế giới, nền
kinh tế nớc ta đã đạt đợc một tốc độ tăng trởng khá nhanh và ổn định, tạo ra nhiều
công ăn việc làm cho ngời lao động và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nớc.
Chúng ta không những đã khắc phục và thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội
mà còn mở rộng đợc thị trờng xuất nhập khẩu. Trong giai đoạn 1990-2002, kim
ngạch xuất khẩu đã tăng trung bình trên 20% mỗi năm. Bên cạnh đó, sự ra đời của
Luật đầu t trực tiếp nớc ngoài (vào tháng 12/1987) đã tạo ra một động lực lớn cho
sự phát triển của nền kinh tế. Cho đến nay, các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài đã đóng góp đợc 12-13% GDP, 20% kim ngạch xuất khẩu, 30% giá trị sản l-
ợng công nghiệp, 7-8% thu nhập của ngân sách và giải quyết việc làm cho khoảng
40 vạn lao động trực tiếp cùng hàng chục vạn lao động gián tiếp. Ngoài ra, Việt
Nam cũng tranh thủ đợc nguồn viện trợ phát triển không chính thức (ODA) ngày
càng lớn. Tính đến năm 2002, các nhà tài trợ (gồm một số nớc và một số định chế
tài chính) đã cam kết dành cho Việt Nam gần 20 tỷ USD, chủ yếu là cho vay u đãi
với lãi suất từ 0,75% -2,5% và một phần là viện trợ không hoàn lại.
Bên cạnh những kết quả về mặt vật chất, trong những năm thực hiện đờng lối đổi
mới, chúng ta cũng đã tạo ra đợc thế và lực mới. Hiện nay, Việt Nam đã

APEC
Trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á-Thái Bình Dơng
(APEC) là bớc nhảy vọt thứ hai của ngoại giao Việt Nam, mở ra những hớng phát
triển mới trong tiến trình hội nhập. Việt Nam nộp đơn gia nhập APEC vào tháng
6/1996 và đợc kết nạp làm thành viên chính thức của Diễn đàn vào tháng 11/1998.
Từ một môi trờng ASEAN chỉ có 10 nớc thành viên sang môi trờng gồm 21 nớc
của khu vực Châu á-Thái Bình Dơng, Việt Nam đã có một bớc chuyển mình đáng
kể. Vị trí của Việt Nam ở Châu á-Thái Bình Dơng và trên trờng quốc tế đợc nâng
cao. Hơn thế, hoạt động trong APEC cũng tạo tiền đề thuận lợi và là một bớc
chuẩn bị cho Việt Nam tham gia Tổ chức thơng mại thế giới (WTO). Mục tiêu của
APEC là tự do mậu dịch và đầu t vào năm 2010 và 2020, bởi vậy diễn đàn khu vực
này cam kết mọi hoạt động sẽ phù hợp với các quy định và nguyên tắc của WTO.
Tuy tham gia APEC với thời gian cha dài và nền kinh tế còn nhiều khó khăn song
Việt Nam luôn cho thấy một ý thức, nỗ lực cao trong việc thực hiện và tham gia
các chơng trình hoạt động của diễn đàn. Việc thực hiện Kế hoạch hành động quốc
gia (IAP) của Việt Nam đợc đánh giá là nghiêm túc nhất trong số các thành viên
mới gia nhập, củng cố thêm sự tin tởng của các quốc gia trên thế giới vào chính
sách mở cửa và hội nhập của nớc ta.
9
ASEM
Tháng 3/1996, Việt Nam tham gia Diễn đàn hợp tác á-âu với t cách là một trong
những thành viên sáng lập. Khi ASEM ra đời, lần đầu tiên thế giới đã chứng kiến
một cơ chế hợp tác liên châu lục: châu á-châu âu. Diễn đàn ASEM 1 tại Băngcốc
đã đánh dấu sự gặp gỡ giữa các nguyên thủ quốc gia của 7 nớc ASEAN, 15 nớc
EU và ba cờng quốc Mỹ, Nhật, Trung Quốc, khép kín cạnh thứ ba trong tam giác
Bắc MỹEUChâu á. Mục tiêu chung của ASEM là thúc đẩy đối thoại chính
trị, xây dựng quan hệ hợp tác sâu rộng và toàn diện giữa hai châu lục, tăng cờng
hợp tác trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, môi trờng, phát triển nguồn nhân lực. Và
mục tiêu chính của Việt Nam trong tổ chức này là xúc tiến mở rộng thị trờng th-
ơng mại, đầu t, hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật trên cơ sở cùng có lợi. Tại hội

định này là các bên dành cho nhau Quy chế tối huệ quốc (MNF), từng bớc giảm
thuế nhập khẩu, mở cửa thị trờng cho nhau, từng bớc tạo sự bình đẳng giữa các
công ty trong và ngoài nớc, phù hợp với yêu cầu của Chế độ đãi ngộ quốc gia
(NT), bảo vệ quyền tác giả, sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu trí tuệ. Vì Việt Nam
là nớc đang phát triển ở trình độ thấp, lại đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế
kinh tế nên lộ trình thực hiện các cam kết là từ 3-10 năm sau khi Hiệp định có
hiệu lực. Nói cách khác, Hoa Kỳ chấp nhận Việt Nam có một lộ trình mở cửa
thích hợp cho từng lĩnh vực.
Tóm lại, hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan và hội nhập mang lại
cho mỗi nớc tham gia những lợi ích to lớn. Vấn đề đặt ra là Việt Nam phải lựa
chọn cho mình một lộ trình hội nhập thế nào và mức độ hội nhập ra sao để có thể
mang lại lợi ích tối đa với cái giá phải trả là tối thiểu. Điều này đòi hỏi nhận thức
rõ ràng về những đặc trng cơ bản của tiến trình hội nhập, kết hợp với hoàn cảnh
kinh tế, chính trị, xã hội của đất nớc. Quan trọng nhất là Việt Nam cần nỗ lực hết
sức để có thể nhanh chóng hòa nhập và phát triển cùng nền kinh tế thế giới song
vẫn bảo vệ đợc độc lập, chủ quyền và định hớng xã hội chủ nghĩa của mình.
11
1.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến ngành mía đ-
ờng
1.2.1 Lộ trình cam kết:
Trong khuôn khổ mậu dịch tự do AFTA, Việt Nam cam kết tới năm 2003, thuế
suất nhập khẩu đối với tất cả các mặt hàng không vợt quá 20%, đồng thời các hạn
chế định lợng phải bị loại bỏ. Tuy nhiên, 51 nông sản thuộc Danh mục nông sản
cha chế biến nhạy cảm (SEL) nh gạo, cam, quýt, bởi có thời hạn cắt giảm thuế
quan và hàng rào phi thuế quan chậm hơn. Đờng là mặt hàng nằm trong danh mục
SEL nên hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ cắt giảm từ năm 2006. Nh vậy, từ
năm 2006, thuế suất đối với các sản phẩm đờng sẽ không vợt quá 5%. Mức thuế
suất này sẽ giảm dần trong các năm tiếp theo và đến năm 2010 sẽ đạt mức 0%,
đồng thời mọi hàng rào phi thuế quan đều phải bãi bỏ. Từ thời điểm đó, các thành
viên AFTA có thể tiếp cận thị trờng mía đờng Việt Nam một cách dễ dàng mà

Đầu t nớc ngoài tăng
Ngành công nghiệp mía đờng Việt Nam mới đợc chính thức xây dựng và phát
triển từ năm 1995, khi có Chơng trình mía đờng quốc gia. Từ đó đến nay, việc thu
hút đầu t trong nớc và quốc tế vẫn còn nhiều hạn chế. Quá trình thực hiện lộ trình
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sẽ tạo ra một môi trờng hấp dẫn thúc đẩy
đầu t nớc ngoài vào ngành. Ngoài ra, đây cũng là cơ hội để ngành mía đờng áp
dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới vào sản xuất kinh doanh và học
hỏi các kinh nghiệm quản lý tổ chức tiên tiến của các nớc.
1.2.2.2. Tác động theo hớng tiêu cực
Tạo áp lực về năng lực cạnh tranh
Ngành mía đờng hiện đang đứng trong nhóm có năng lực cạnh tranh thấp của quốc
gia, đặc biệt là Năng lực cạnh tranh về giá cả. Trong khi đó, những đối thủ của
ngành ở hiện tại và trong tơng lai vừa có quy mô lớn, kinh nghiệm lâu năm lại vừa
đợc sự bảo hộ mạnh từ phía chính phủ. Sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng đối
13
với ngành mía đờng Việt Nam trong quá trình hội nhập là điều không thể tránh
khỏi và là một thách thức lớn phải vợt qua.
Nhận thức về hội nhập cha đầy đủ, sâu sắc
Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp trong ngành đều thiếu một chiến lợc sản xuất
kinh doanh dài hạn và ổn định. Bản thân ngành mía đờng cũng cha xây dựng đợc
một chiến lợc cụ thể về hội nhập hay cạnh tranh trong khi lộ trình thực hiện AFTA
đang đến quá gần. Điều này cho thấy sự thiếu nhạy bén về thị trờng và nhận thức
còn cha đầy đủ về quá trình hội nhập. Đây là một hạn chế lớn gây cản trở đến khả
năng nắm bắt các cơ hội cũng nh đối phó với các thách thức mà hội nhập đa lại.
Thay đổi cách thức sản xuất đã tồn tại lâu nay
Một điều dễ nhận thấy là các cam kết quốc tế sẽ không chỉ tác động trực tiếp và
mạnh mẽ đến ngành chế biến đờng và các sản phẩm sau đờng mà tới cả những ng-
ời nông dân xa nay chỉ sống nhờ vào việc cung cấp đầu vào cho các ngành sản
xuất này. Đơn cử nh chỉ sau vài năm nữa, nông dân trồng mía, các lò đờng thủ
công sẽ phải đối mặt với đờng nhập khẩu chất lợng cao mà giá lại thấp. Ngời nông

Trên bình diện toàn nền kinh tế, cạnh tranh có vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển.
Cạnh tranh khiến cho các nguồn lực đợc phân bổ một cách hiệu quả nhất thông
qua việc kích thích các doanh nghiệp sử dụng tối u các nguồn lực, hạn chế các
méo mó của thị trờng, góp phần phân phối lại thu nhập và nâng cao phúc lợi xã
hội.
Trên bình diện doanh nghiệp, bằng sự hấp dẫn của lợi nhuận từ việc đi đầu về
chất lợng, mẫu mã cũng nh áp lực phá sản, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp luôn
cải tiến phơng thức sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới tổ chức, quản
lý để thích ứng với những biến động của thị trờng. Nâng cao năng lực cạnh tranh
đã trở thành tiền đề, động lực và mục tiêu theo đuổi liên tục trong suốt quá trình
phát triển doanh nghiệp.
Trên bình diện ngời tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn về
chủng loại, chất lợng, giá cả, mẫu mã của hàng hóa và dịch vụ. Cạnh tranh bảo
đảm rằng cả ngời sản xuất lẫn ngời tiêu dùng không thể áp đặt giá cả một cách tùy
15
tiện. Với khía cạnh đó, cạnh tranh là yếu tố điều tiết thị trờng và lành mạnh hóa
các mối quan hệ xã hội.
Trên bình diện quốc tế, cạnh tranh thúc ép các doanh nghiệp mở rộng, tìm kiếm
thị trờng với mục đích nh tiêu thụ, đầu t, huy động vốn, lao động, công nghệ, quản
lý trên thị tr ờng thế giới. Thông qua cạnh tranh quốc tế, các doanh nghiệp thấy
đợc những lợi thế so sánh cùng những yếu kém của mình để hoàn thiện và phát
triển.

Nh vậy, cạnh tranh cũng nh các quy luật, hiện tợng kinh tế, xã hội khác chỉ xuất
hiện và phát triển khi có các điều kiện nh nhu cầu cạnh tranh, môi trờng cạnh
tranh và vận hành tốt khi có môi trờng cạnh tranh hiệu quả.
1.3.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Theo Đề án quốc gia về Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ
Việt Nam (do Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế của Việt Nam thực
hiện) thì năng lực cạnh tranh (hay Khả năng cạnh tranh, Tính cạnh tranh

dịch vụ thể hiện tập trung ở 4 yếu tố Giá cả, chất lợng, tổ chức tiêu thụ và uy tín
của doanh nghiệp. Trên thực tế, cấp độ cạnh tranh này thờng đợc phân tích lồng
ghép với phân tích cạnh tranh của ngành/doanh nghiệp.
Ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ mật thiết với nhau. Năng lực cạnh
tranh quốc gia là tổng hợp năng lực cạnh tranh của các ngành/doanh nghiệp trong
khi năng lực cạnh tranh của ngành/doanh nghiệp lại đợc phản ánh qua năng lực
cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ. Đồng thời, năng lực cạnh tranh quốc gia có
tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp/ngành. Còn năng lực
cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ chịu tác động của cả năng lực cạnh tranh cấp
doanh nghiệp/ngành và năng lực cạnh tranh quốc gia.
17
Tóm lại, hiểu đợc mối quan hệ chặt chẽ giữa ba cấp độ này để thấy đợc sự khác
biệt trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh ở từng cấp độ cũng nh sự tác động
qua lại giữa năng lực cạnh tranh ở một cấp với năng lực cạnh tranh ở hai cấp độ
còn lại. Đối tợng của khóa luận là Năng lực cạnh tranh ở cấp độ ngành. Do vậy, nó
sẽ chịu tác động qua lại của cả năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và
năng lực cạnh tranh của các sản phẩm trong chính ngành mía đờng.
1.4 Xây dựng mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của
ngành mía đờng Việt Nam
1.4.1 Các phơng pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngành
Mặc dù thuật ngữ năng lực cạnh tranh đợc sử dụng rất rộng rãi trong trong thời
gian gần đây song cho đến nay vẫn cha có sự nhất trí cao về cách thức đo lờng,
phân tích. Theo Đề án quốc gia về Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa và
dịch vụ Việt Nam, có ba phơng pháp phân tích năng lực cạnh tranh của
ngành/doanh nghiệp thờng đợc sử dụng.
Phơng pháp 1: Phân tích lợi thế cạnh tranh trên cơ sở đánh giá lợi thế so sánh
về chi phí hay khả năng sinh lời trên một đơn vị sản phẩm.
Đây là phơng pháp phân tích năng lực cạnh tranh trong trạng thái động dựa trên hệ
thống các chỉ số. Các chỉ số này cho phép xác định đợc mức độ đóng góp của
ngành/doanh nghiệp vào nền kinh tế. Khi phân tích năng lực cạnh tranh theo ph-

Đây là một phơng pháp phân tích sâu những nhân tố chính tác động đến lợi thế
cạnh tranh của ngành. Tuy nhiên, phơng pháp này khi áp dụng lại khó có thể thu
thập đợc những thông tin cần thiết, đặc biệt khi cạnh tranh diễn ra trên quy mô
quốc tế.
Tóm lại, cả ba phơng pháp trên đều có những thế mạnh và các hạn chế nhất định
khi phân tích năng lực cạnh tranh. Xét về mặt lý thuyết, phơng pháp 3 là thích hợp
nhất để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành. Tuy nhiên, cả 5 nhân tố mà ph-
19
ơng pháp đa ra đều mang tính chất ngoại vi. Nói cách khác, đây là những áp lực
bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành. Trong khi đó, sẽ là thiếu
xót khi đánh giá năng lực cạnh tranh mà không xem xét yếu tố nội lực cùng những
lợi thế so sánh của bản thân ngành đó.
1.4.2 Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành mía đờng Việt Nam
Xuất phát từ kết luận trên, tác giả xin tự xây dựng một mô hình đánh giá năng lực
cạnh tranh của ngành mía đờng Việt Nam. Mô hình này về nguyên lý sẽ dựa trên
phơng pháp 3 của Michael Porter song đợc điều chỉnh cho phù hợp với thực tế
nghiên cứu ngành mía đờng. Mô hình này xem xét năng lực cạnh tranh của ngành
dới 5 tác động
Năng lực sản xuất
Thị trờng tiêu thụ
Đối thủ cạnh tranh và các sản phẩm bổ sung thay thế
Các ngành hỗ trợ liên quan
Môi trờng cơ chế, chính sách
Trong đó, nhân tố đầu tiên sẽ đánh giá các yếu tố thuộc về nội lực của ngành cùng
các lợi thế cạnh tranh. Bốn nhân tố còn lại là những tác nhân bên ngoài có tác
động qua lại đến năng lực cạnh tranh của ngành.
1.4.2.1 Năng lực sản xuất
Năng lực sản xuất là nhân tố nội lực quan trọng nhất đánh giá tổng quan khả năng
cạnh tranh của ngành. Nhân tố này đợc phân tích tập trung qua 7 yếu tố về nguyên
liệu, nhân lực, công nghệ, quy mô các nhà máy, sản lợng, giá cả và chất lợng.

và tính năng của sản phẩm. Việc sử dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất giúp
doanh nghiệp có thể tạo ra những sản phẩm có tính năng u việt, chất lợng cao, giá
thành hạ, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng khả năng tiêu thụ sản phẩm
của ngành trớc các đối thủ.
Quy mô các nhà máy
Quy mô các nhà máy sẽ quyết định tính kinh tế theo quy mô của nhà máy và của
toàn ngành. Quy mô các nhà máy mà lớn thì khả năng đầu t về công nghệ, quản
21
lý, vốn sẽ đủ lớn để tạo ra hiệu quả kinh tế theo quy mô. Nếu các nhà máy trong
ngành có quy mô tơng đối đồng đều thì sẽ có sự cạnh tranh tích cực về nguồn
nguyên liệu, lao động và sẽ kích thích sự tăng tr ởng chung nhằm phát huy nội
lực của ngành trong cạnh tranh quốc tế.
Sản lợng, giá cả và chất lợng
Đây là các nhân tố định tính và định lợng đo lờng năng lực sản xuất của ngành.
Sản lợng lớn, giá cả thấp và chất lợng sản phẩm cao thì năng lực sản xuất của
ngành lớn, tạo ra những lợi thế cạnh tranh cao. Đặc biệt, khi chất lợng và chủng
loại sản phẩm của các nhà sản xuất đờng trên thế giới không có sự khác biệt rõ rệt
thì giá cả là một yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh.
1.4.2.2 Thị trờng tiêu thụ
Thị trờng tiêu thụ quyết định mức cầu của ngành và tạo ra áp lực cạnh tranh giữa
các nhà sản xuất. Thị trờng tiêu thụ ở đây đợc xét đến dới tác động của quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế, bởi vậy nó bao gồm cả thị trờng trong nớc và thị trờng
thế giới. Trong đó, thị trờng trong nớc đợc chia thành 2 mảng lớn, thị trờng tiêu
dùng đờng trực tiếp và thị trờng các ngành công nghiệp chế biến sử dụng đờng làm
nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất.
1.4.2.3 Đối thủ cạnh tranh và các sản phẩm bổ sung, thay thế
Đối thủ cạnh tranh là những ngời đã, đang hoặc sẽ sản xuất kinh doanh những mặt
hàng tơng tự với các sản phẩm hiện có của ngành và đe dọa giành giật khách hàng,
thị phần và lợi nhuận của ngành. Mức độ cạnh tranh sẽ trở nên gay gắt nếu có các
yếu tố nh ngành có mức tăng trởng chậm, sản phẩm thiếu sự khác biệt, xuất hiện

lợi thế cạnh tranh của các nhà sản xuất đờng khác nhau trên thế giới.
Nh vậy, mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành mía đờng Việt Nam đợc
xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa các nhóm yếu tố bên trong tạo nên năng lực cạnh
tranh của ngành với các nhóm nhân tố bên ngoài tác động, chi phối đến năng lực
23
cạnh tranh. Mỗi nhóm nhân tố này có một tầm quan trọng và sự ảnh hởng nhất
định đến năng lực cạnh tranh và mối quan hệ giữa chúng đợc thể hiện khái quát
trong mô hình sau:
24
Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành mía đờng Việt
Nam
25
Các ngành
liên quan và
Môi trường
cơ chế, chính
sách
Thị trường
tiêu thụ
Năng lực sản
xuất
Sản phẩm bổ
sung thay
thế
Đối thủ cạnh
tranh
Các ngành
liên quan,
Môi trường
chính sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status