Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học toán lớp 3 theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh - Pdf 30



TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN THỊ HẢI HẬU SỬ DỤNG PHƢƠNG TIỆN TRỰC QUAN
TRONG DẠY HỌC TOÁN LỚP 3 THEO HƢỚNG
PHÁT HUY TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH

, 2014 TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

của quá trình học tập, nghiên cứu nghiêm túc và tâm huyết của người thực
hiện, là công trình ghi nhận nỗ lực của tác giả, sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt
tình của quý thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và các học sinh. Qua đây, tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới TS. Trần Trung, người đã tận
tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành
luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn Phòng Sau đại học cùng các thầy cô giáo, các
nhà khoa học thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã rất quan tâm và tạo
mọi điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu.
Kính cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh
Trường Tiểu học Minh Trí thuộc huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội đã có
những giúp đỡ nhiệt tình trong việc triển khai thực nghiệm sư phạm những
kết quả nghiên cứu của luận văn.
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Nguyễn Thị Hải Hậu

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Viết tắt
Viết đầy đủ
DH
Dạy học
GV

Số
hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
1.1.
Mức độ nhận thức, quan tâm tới sử dụng phương tiện
trực quan trong giảng dạy ở học sinh tiểu học
33
1.2.
Mức độ sử dụng phương tiện trực quan trong giảng dạy
ở học sinh tiểu học
35
2.1.
Về bảng số liệu đơn giản
45
3.1.
Kết quả phân bổ điểm kiểm tra của học sinh
77
54
2.6.
Hình tròn trong cảnh quan thiên nhiên
55
2.7.
Tâm hình tròn là thác nước
55
2.8
Các ô vuông
57
2.9.
Hoàn thiện
57
2.10.
PTTQ qua cắt ghép hình tam giác
58
2.11.
PTTQ là các tấm bìa có chấm tròn
59
2.12.
PTTQ là hình tam giác lồng ghép hình chữ nhật
60
2.13.
Hình ảnh cho tâm hình tròn
61
2.14.
Ê ke để vẽ, kiểm tra góc vuông
63
2.15.
Các hình sau khi dùng Ê ke để thực hiện

8. Cấu trúc của luận văn 5
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1. Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học 6
1.1.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học 6
1.1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 8
1.1.3. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 9
1.2. Tích cực nhận thức của học sinh 10
1.2.1. Tích cực học tập và tích cực nhận thức 10
1.2.2. Các biểu hiện và mức độ của tích cực nhận thức. 11
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tích cực nhận thức 12
1.3. Phương tiện trực quan trong dạy học 13
1.3.1. Khái niệm 13
1.3.2. Vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học. 14
1.3.3. Phân loại phương tiện trực quan trong dạy học. 16
1.4. Khai thác phương tiện trực quan trong dạy học toán 24
1.4.1. Quy trình khai thác phương tiện trực quan trong dạy học toán 24
1.4.2. Kỹ năng khai thác phương tiện trực quan trong dạy học toán. 25
1.5. Thực trạng khai thác phương tiện trực quan trong dạy học Toán ở trường
Tiểu học 32
1.5.1. Về nhận thức của giáo viên và mức độ sử dụng phương tiện trực quan
trong dạy và học ở học sinh tiểu học 32
1.5.2. Một số vấn đề bất cập trong việc sử dụng phương tiện trực quan trong
giảng dạy toán ở tiểu học 36
1.6. Kết luận chương 1 39
Chƣơng 2. SỬ DỤNG PHƢƠNG TIỆN TRỰC QUAN TRONG DẠY
HỌC TOÁN LỚP 3 THEO HƢỚNG PHÁT HUY TÍCH CỰC NHẬN
THỨC CỦA HỌC SINH 41
2.1. Khái quát chương trình Toán lớp 3 ở trường Tiểu học 41
2.1.1. Nội dung chương trình Toán lớp 3 ở trường Tiểu học 41
2.1.2. Một số lưu ý khi sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học Toán

đã khẳng định: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của
Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát
triển” [34; tr19]. Nghị quyết nhấn mạnh đến việc đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, trong đó có đổi mới phương pháp dạy và học, “học đi đôi
với hành, lý luận gắn với thực tiễn…Đổi mới giáo dục theo hướng mở, linh
hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ, giữa các phương thức giáo dục,
đào tạo” [34; tr20]
Việc tạo cho học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học một môi trường cởi
mở, thân thiện sẽ cung cấp tối đa khả năng tự học, tìm kiếm thông tin cho mỗi
học sinh. Theo phương pháp dạy và học hiện nay, cần áp dụng giữa lý luận và
thực tiễn, giữa lý thuyết và thực hành, vận dụng nhiều phương pháp khác
nhau để học sinh có thể tiếp thu bài một cách hiệu quả nhất. Một trong những
yếu tố quan trong trong phương pháp giáo dục, đặc biệt đối với giáo dục tiểu
học cần có phương pháp dạy và các công cụ kèm theo. Một trong những công
cụ, phương tiện dạy học nâng cao chất lượng, hiệu quả môn học đó là phương
tiện trực quan.

2

Bậc tiểu học là bậc cơ bản, đặt nền tảng cần thiết, vững chắc cho sự
phát triển nhân cách, trí tuệ của trẻ em, đồng thời đây cũng là bậc học được
xác định có nhiều khó khăn trong công tác giảng dạy và đòi hỏi có nhiều
phương tiện hỗ trợ để các em có thể phát huy được nhận thức của mình ở tuổi
còn rất nhỏ. Toán tiểu học, đặc biệt là Toán lớp 3 được xây dựng dưới các
dạng toán cơ bản, cung cấp các kiến thức cơ bản nhất về toán học như các số
tự nhiên, các đại lượng cơ bản, các kỹ năng thực hành cơ bản như đo lường,
ứng dụng thiết thực trong đời sống như xem lịch, biết lịch thứ, ngày, tháng,
năm; xem giờ, biết chính xác giờ đến từng phút…
Với phương châm đổi mới trong phương pháp dạy học hiện nay là lấy
học sinh làm trung tâm thì sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phương pháp dạy

Nghiên cứu các loại hình phương tiện trực quan và đề xuất việc khai
thác phù hợp trong dạy học Toán lớp 3, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
môn Toán ở trường Tiểu học, phát huy tích cực nhận thức của học sinh.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Toán cho học sinh Tiểu
học với sự hỗ trợ của phương tiện trực quan.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Dạy học Toán lớp 3 ở trường Tiểu học với
sự hỗ trợ của phương tiện trực quan.
4. Giả thuyết khoa học.
Nếu giáo viên sử dụng các dạng phương tiện trực quan một cách hợp lý
trong tổ chức các hoạt động dạy học toán ở tiểu học thì sẽ phát huy tích cực
học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán ở trường
Tiểu học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1. Tổng hợp cơ sở lý luận về vai trò, chức năng của phương tiện trực
quan trong dạy học Toán.

4

5.2. Khảo sát thực trạng sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học
Toán lớp 3 ở trường Tiểu học hiện nay thông qua phiếu điều tra.
5.3. Đề xuất sử dụng các dạng phương tiện trực quan trong dạy học
toán lớp 3 theo hướng phát huy tích cực nhận thức của học sinh
5.4. Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính cần thiết và khả thi của các
nội dung đã đề xuất.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu tài liệu về phương
tiện trực quan, phương pháp dạy học, tâm lý học về đối tượng học sinh Tiểu
học của Việt Nam.
6.2. Phương pháp điều tra và quan sát: Sử dụng phiếu điều tra để khảo

Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học
1.1.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Hiện nay, sự phát triển của xã hội đã làm thay đổi nhận thức của con
người và con người cũng thay đổi cho phù hợp với sự phát triển ấy. Trong bất
kì lĩnh vực nào, mọi sự vật hiện tượng nếu muốn tồn tại và phát triển thì phải
đổi mới. Đổi mới ở đây là đổi mới một cách toàn điện trên tất cả lĩnh vực, đặc
biệt là lĩnh vực giáo dục.
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII xác định và Trung ương 8 khóa XI
đã tiếp tục khẳng định: "Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của học
sinh. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại
vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu
cho học sinh " [35; tr32]
Luật Giáo dục năm 2005 đã ghi:"Phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh; bồi duỡng năng
lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê và ý chí vươn lên” [30; tr8]
Sự phát triển xã hội và đổi mới đất nước trong thời kỳ hội nhập đang
đòi hỏi cấp bách nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Mục tiêu giáo dục
trong thời đại mới là không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức, kỹ
năng có sẵn cho học sinh mà điều đặc biệt quan trọng là phải bồi duỡng cho
học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Có những cách dạy và
phương pháp cũ, học sinh không thể tiếp thu hết kiến thức. Mục đích của giáo
viên khi tiến hành dạy học cần truyền đạt cho học sinh lượng kiến thức phù
hợp và sử dụng thêm các công cụ hỗ trợ làm sao để học sinh có thể tư duy tốt,
phù hợp với trình độ nhận thức và tư duy của hệ tiểu học. Trong quá trình dạy

7


mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo con người lao động
sáng tạo phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
1.1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Từ nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học, nhiều nhà khoa học giáo
dục nước ta đã khẳng định: “Hướng đổi mới phương pháp dạy học trong giai
đoạn hiện nay là phương pháp dạy và học cần hướng vào việc tổ chức cho học
sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo và
thực hiện độc lập” [22; tr112]
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo Nguyễn Bá Kim
[22, tr.15] bao gồm: Xác lập vị trí chủ thể của học sinh, đảm bảo tính tự giác,
tích cực và sáng tạo của học sinh; Dạy việc học, dạy tự học thông qua toàn bộ
quá trình dạy học; Chế tạo và khai thác những phương tiện phục vụ quá trình
dạy học; Tạo sự lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của học sinh;
Xác định vai trò mới của giáo viên với tư cách người thiết kế, uỷ thác, điều
khiển và thể chế hoá.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học cũng có nghĩa là đổi mới
với phương pháp lấy học sinh làm trung tâm. Theo nhiều nhà nghiên cứu và
Trần Kiều [26] việc lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy là việc
thừa nhận, tôn trọng, hiểu, đồng cảm với nhu cầu, lợi ích, mục đích cá nhân
của học sinh để đạt được độ tin cậy, tạo sức thu hút, thuyết phục, kích thích
động cơ bên trong của học sinh. Dựa vào kinh nghiệm của học sinh, khai thác
kinh nghiệm đó, dồn thành sức mạnh trong quá trình tự khám phá. Chống gò
ép, ban phát, giáo điều, nuôi dưỡng tính sẵn sàng, tính tích cực ý chí của học
sinh để đạt được mục đích học tập và phát triển cá nhân. Phương thức hoạt
động chủ đạo là tự nhận thức, tự phát triển, tự thực hiện, tự kiểm tra, đánh giá,
tự hoàn thiện trong môi trường được đảm bảo quyền lựa chọn tối đa của học
sinh. Tối đa hoá sự tham gia của học sinh, tối thiểu hoá sự áp đặt, can thiệp

9


giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy
và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở,
xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng,
tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu
rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt
động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.
1.2. Tích cực nhận thức của học sinh
1.2.1. Tích cực học tập và tích cực nhận thức
Tích cực là sự chủ động của con người trước một sự việc, một công
việc hoặc một tình huống cần giải quyết. Tích cực học tập là việc học sinh
nhận thức đúng trong học tập, liên quan đến động cơ trong học tập và có hứng
thú, tự giác trong học tập. Theo Nguyễn Kỳ [25] Tích cực học tập đặc trưng ở
điều là học sinh cố gắng trí lực, có nghị lực, hăng hái trả lời các câu hỏi, có tư
duy, suy nghĩ độc lập. Tích cực học tập biểu hiện ở các dấu hiệu như mong
muốn phát biểu ý kiến, chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được học để
nhận thức vấn đề mới, vận dụng các kiến thức đã học để hoàn thành bài tập và
không nản chí trước những tình huống khó khăn. Tích cực học tập còn biểu
hiện ở khía cạnh, trong quá trình học tập, học sinh đặt ra cho mình mục đích
học tập, tích cực tìm ra các biện pháp tối ưu để vận dụng trong học tập, có
hứng thú, say mê với việc học và xem việc học là một nhiệm vụ của mình
phải hoàn thành.
Như vậy, tính tích cực học tập được hiểu như là sự linh hoạt thay đổi
phương hướng giải quyết vấn đề cho phù hợp với sự thay đổi các điều kiện.
Học sinh tích cực học tập biết tìm ra phương pháp mới để giải quyết vấn đề,
khắc phục được lối suy nghĩ máy móc, rập khuôn, theo đường mòn và luôn có
ước vọng khát khao giải quyết một vấn đề bằng nhiều con đường khác nhau
để qua đó chọn con đường ngắn nhất có lợi nhất cho việc giải quyết vấn đề.

11


nhiệm vụ nhận thức.
- Chú ý: biểu hiện ở việc lắng nghe, theo dõi hành động của giáo viên,
thực hiện đầy đủ, chu đáo các yêu cầu.
- Bắt chước: gắng sức làm theo các mẫu hành động, làm theo hướng
dẫn của thầy và của bạn.
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải
quyết khác nhau cho cùng một vấn đề.
- Tính hướng đích của hành động.
- Sự nỗ lực của ý chí.
- Kết quả lĩnh hội: nhanh, đúng và sáng tạo.
Đặc biệt, tính tích cực còn có mối quan hệ nhân quả với nhiều phẩm
chất, nhân cách của người học như: Tính tự giác: đó là sự nhận thức được nhu
cầu học tập của mình, tự giác tiếp nhận và tìm hiểu các nhiệm vụ học tập.
Tính độc lập: thể hiện trong kĩ năng hoàn thành các nhiệm vụ nhận thức dựa
vào sức mình là chính. Như vậy, trong tính độc lập nhận thức đã chứa đựng
tính tích cực nhận thức đồng thời sự thể hiện tính tích cực đó lại có tác dụng
hướng cá nhân đến tính độc lập nhận thức ở mức độ cao hơn. Tính sáng tạo:
thể hiện khi chủ thể tìm ra cách giải quyết mới, tìm ra cái mới độc đáo và có
hiệu quả.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tích cực nhận thức
Tích cực nhận thức của học sinh không chỉ phụ thuộc vào bản thân mỗi
học sinh đó, có nhiều yếu tố tác động đến việc tích cực nhận thức, theo
Nguyễn Kỳ trong công trình nghiên cứu “Phương pháp dạy học tích cực” [25]
thì có các yếu tố ảnh hưởng như sau:
Thứ nhất, phương pháp dạy học tích cực là một trong những yếu tố
quan trọng tác động tới việc nhận thức tích cực của học sinh. Đặc trưng của

13

yếu tố này là học sinh vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình dạy học.

Phương tiện trực quan là khái niệm được dùng khá lâu trong giới toán
học và các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên cho đến nay chưa có một khái niệm
được cho là thống nhất chung nhất cho các quốc gia khác nhau trên thế giới
về vấn đề này. Nhìn chung, phương tiện trực quan được hiểu là tất cả những
gì có thể nhìn thấy được, có tác dụng phục vụ cho những mục đích khác nhau
của người sử dụng phương tiện đó.
Theo Trần Trung [40]: Phương tiện trực quan trong dạy học là những
phương tiện được sử dụng trong hoạt động dạy học, có vai trò là công cụ để
giáo viên và học sinh tác động vào đối tượng; có chức năng khơi dậy, dẫn
truyền, tăng cường khả năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên
những biểu tượng của sự vật, hiện tượng nhằm đạt được các mục đích dạy học
cụ thể. Phương tiện trực quan là toàn bộ các yếu tố vật chất và phi vật chất
tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để giáo
viên sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học.
1.3.2. Vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học.
Theo Trần Trung [40], trong dạy học toán việc sử dụng hợp lý các
phương tiện trực quan đóng một vai trò rất quan trọng. Phương tiện trực quan
không chỉ giúp cho việc minh họa và tập trung sự chú ý của học sinh vào
những thuộc tính và đặc điểm bên ngoài của đối tượng mà còn giúp học sinh
nhanh chóng phát hiện những thuộc tính bên trong, những mối quan hệ bản
chất của đối tượng, cho phép nhận ra nó như một cái toàn bộ thống nhất.
Phương tiện trực quan không chỉ tham gia vào quá trình hình thành khái niệm
mà còn hỗ trợ đắc lực cho dạy học định lý, dạy giải bài tập toán… Phương
tiện trực quan là cầu nối, là khâu trung gian trong giai đoạn trừu tượng hóa (từ
cụ thể trừu tượng lên khái niệm lý thuyết) và cả trong giai đoạn cụ thể hóa (tái
tạo ra cái cụ thể trong tư duy). Mối quan hệ đó được thể hiện ở mối quan hệ
biện chứng của nhận thức. Nhận thức phát triển là do sự tác động lẫn nhau

15


sinh sẽ có cách nhìn khái quát, học tập hứng thú hơn, tăng cường sức chú ý
đối với các hiện tượng nghiên cứu, dễ dàng tiến hành các quá trình phân tích,
tổng hợp các hiện tượng để rút ra kết luận đúng đắn.
1.3.3. Phân loại phương tiện trực quan trong dạy học.
Thực tế cho thấy việc phân loại bất kỳ một phương tiện nào cũng rất
phức tạp. Phương tiện trực quan trong dạy học khá phong phú nên cũng như
vậy [39]:
- Phân loại phương tiện dạy học theo dạng vật thể:
Cách phân loại này đã được đề cập đến ở trên. Sau đây ta chỉ nhắc lại
để bảo đảm tính hệ thống. Tuy nhiên, có thể nói rằng, sự phân chia phương
tiện dạy học ra hai loại: loại vật thể và loại phi vật thể cũng chỉ có tính chất
tương đối. Chẳng hạn chương trình bộ môn, các văn bản giáo khoa phải in
và đóng thành quyển, phần mềm dạy học lưu trên đĩa CD-ROM Khi đó,
quyển sách, đĩa CD-ROM cũng có thể coi như những vật thể.
- Phân loại các phương tiện dạy học theo lý thuyết thông tin:
Theo lý thuyết thông tin, hoạt động dạy học là hoạt động thu phát thông
tin. Muốn thực hiện hoạt động này phải có phương tiện chứa đựng thông tin
và phương tiện truyền thông tin đến nơi thu nhận. Thông tin ở đây là nội dung
dạy học. Học sinh là nguồn thu nhận thông tin - thu nhận nội dung dạy học.
Như vậy, theo lý thuyết thông tin có thể phân chia các phương tiện dạy học
thành hai nhóm: Nhóm phương tiện mang thông tin (hay mang nội dung dạy
học) và nhóm phương tiện truyền thông tin (hay truyền nội dung dạy học)
Nhóm phương tiện mang thông tin: Đây là những phương tiện mà bản
thân chúng đã chứa đựng một lượng kiến thức môn học. Lượng kiến thức này
được mang bởi một dạng vật chất nào đó và được bố trí dưới một hình thức
nhất định. Nhờ đó khi được truyền đi, hình thức mang thông tin này sẽ có khả
năng tác động lên một cơ quan hay nhóm cơ quan thu nhận thông tin của học

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status