Chứng minh thơ lãng mạn 1930 1945 thường thấm đượm nỗi buồn - Pdf 30

Chứng minh thơ lãng mạn 1930 1945 thường thấm đượm nỗi
buồn
September 13, 2014 - Chuyên mục: Văn mẫu THPT - Tác giả: qt
Đề bài: Thơ lãng mạn 1930 – 1945 thường thấm đượm nỗi buồn. Hãy gỉảỉ thích vì sao như vậy và chứng minh qua các bài
thơ Tràng giang (Huy Cận); Đây mùa thu tới (Xuân Diệu); Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mạc Tử); Tống biệt hành (Thâm Tâm).
Nêu rõ những nét riêng và nét chung trong những bài thơ đó.
Lãng mạn là gì? Khái niệm ấy cho đến nay vẫn còn nhiều cách phát biểu khác nhau. Tuy khái niệm chưa nhất trí nhưng văn học
lãng mạn vẫn là hiện tượng vĩ đại trong lịch sử, nó xuất hiện như một cuộc cách mạng trong nghệ thuật ở bất cứ nước nào. Chủ
nghĩa lãng mạn gắn với phái Ao hồ ở Anh, Quách Mạc Nhược ở Trung Quốc, với trào lưu Thơ mới ở Việt Nam; nó gắn liền với
các tên tuổi vĩ đại như V. Huy-gô, A.X. Pu-skin, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu Người ta không thể nói đến thi ca mà không nói về
thơ lãng mạn và cũng không thể đề cập đến thơ lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945 lại không nói tới nỗi buồn của nó. Nỗi buồn da
diết, thấm đượm lòng người.
Thơ lãng mạn từ khi sinh ra đã buồn ngay trong bản chất, bởi nó đồng sinh với thời kì của những cuộc cách mạng tư sản và là
con đẻ của chế độ tư sản. Chế độ mà trong thời gian đầu đã làm được rất nhiều cho con người, đặc biệt là việc mang lại tự do.
Tuy nhiên, nhân loại cũng sớm nhận ra rằng chế độ tư sản không tháo bỏ gông cùm xiềng xích đế nhằm cùm gông con người, siết
chặt sinh mệnh của con người.
Lẽ vậy mà thời đại lãng mạn chính là thời đại cách mạng, thời đại của những hi vọng và thất vọng lớn, thời đại của những rung
chuyển toàn xã hội, trong đó con người bị hất ra ngoài các quan hệ cố định, nhưng chưa tìm thấy vị trí của mình trong cuộc đời.
Thời đại mà mỗi con người tự cảm thấy mình là những cá nhân cô đơn, lạc lõng, bơ vơ đang đi tìm vị trí. Đó là thời đại buồn rầu
chán nản, mộng mơ chờ đợi, mong mỏi vô định. Thật sâu sắc khi Xuân Diệu dẫn lời Bi-ê-lin-xki để cắt nghĩa Tản Đà: “Mọi cái
cũ đã phá đi và chưa có chút gì mới để thay thế, con người chỉ là cái khả năng của một cải gì sẽ có thật trong tương lai và là một
ảo ảnh trong hiện tại”. Đó là lúc con người cảm thấy rõ nhất cái cá nhân của mình và muốn khám phá, thổ lộ mình mong tìm thấy
sự đồng cảm ở những cá nhân khác; Girmunxki từng nói: “Nhà thơ lãng mạn muốn bày tỏ cho chúng ta trước hết về chính họ, là
phơi bày tâm hồn, cõi lòng họ”. Bởi thế thơ lãng mạn ra đời mang theo cái tôi cá nhân, cá thể. Hoài Thanh đã rất chính xác khi
gọi thời đại Thơ mới là thời đại chữ Tôi trong thơ; tôi – một cây kim bé nhỏ, tôi – một con chim đến từ núi lạ, một khách tình si,
con nai bị chiều đánh lưới…. Khác hẳn cái tôi trong thơ cổ, một cái tôi cao cả, tính lặng, tự đắc, tự tại dù trong nghịch cảnh vẫn
luôn gắn bó với một cái gì thiêng liêng, bền chặt không di dịch; cái tôi trong thơ lãng mạn ở chừng mực nào đó đã nói lên được
một nhu cầu lớn về giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã, tự do cá nhân, làm thế giới tâm hồn con người được mờ rộng, ngày
càng phong phú; tuy nhiên, cái tôi trong Thơ mới vừa ra đời đã hóa thành con bướm trắng. Một mặt nó không chấp nhận cái xã
hội kim tiền ô trọc, mặt khác nó lại xa rời cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân. Vì thế nó rơi vào ngay cô đơn, lạc
lõng, bơ vơ. Cái tôi trong Thơ mới do vậy nó trộn vào nhiều nẻo khác nhau với nhiều màu sắc phức tạp, nhưng ở đâu nó cũng

Tiếng làng xa
Bèo dạt
Không đò
Không cầu
Cánh chim nhỏ
Chỉ để mong không gian ơi xin hẹp bớt mênh mông nhưng tất cả đều gợi về cô đơn, mong manh, bé nhỏ, lạc loài, trôi nổi, gợi sự
tử biệt phân li. Cô độc quá trước không gian, khắc khoải quá bởi không gian, những mong không gian kia hẹp bớt để nỗi sầu kia
vợi đi nhưng không đạt được. Thế nên đành từ biệt không gian ngoài vũ trụ, ngoài cuộc đời lạnh lẽo để trốn vào, thu mình vào
cõi lòng, khoảng không trong tâm hồn của chính bản thân.
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Nhưng tâm hồn mình lại cũng đang trào dâng nỗi nhớ nhà đến cồn cào. Về ngữ nghĩa: dợn dợn có nghĩa gợn lên, vời – xa, con
nước – con sóng, những từ ấy hợp lại gợi hình ảnh về những đợt sóng của vù trụ như ban đầu, mà nó khởi phát từ chính nỗi lòng
của tác giả – nỗi buồn xa xứ. Chỉ vài nét chấm phá, Huy Cận đã khơi dậy nỗi buồn của kẻ xa xứ. Người lữ thứ đã mang sẵn nỗi
buồn bởi đơn lẻ, cô đơn trước vũ trụ nay lại càng buồn hơn, cảm giác lạc lõng hơn khi phải đối mặt với khoảng trông nơi tâm hồn
khi nhận thấy sự bé nhỏ, hữu hạn của mình trước vũ trụ rộng lớn, vĩnh hằng. Bởi lẽ đó có người nói về Tràng giang quả thật
không sai:
Là Tràng giang, khổ nào cũng dập dềnh sóng nước
Là tâm trạng, khổ nào cũng lặng lẽ u buồn.
Nếu Tràng giang là nỗi khắc khoải trước không gian rộng lớn của trụ thường của Huy Cận thì Đây mùa thu tới lại là nỗi ám ảnh
về thời gian của nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới – Xuân Diệu.
Thơ ca Việt Nam không phải đến Xuân Diệu mới có bàn đến thời gian. Nguyễn Du từng than: Ngày vui ngắn chẳng tày gang,
Tản Đà đã phải tặc lưỡi Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê, nhưng phải đến Xuân Diệu, thời gian mới thành nỗi ám ảnh khổng
lồ. Nhà thơ coi thời gian cũng giống như đời người, một đi không trở lại, thời gian mang lại bao phôi pha, úa tàn:
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới, mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.

trần gian, một nỗi đau đời bắt nguồn từ khát vọng sống. Đây thôn Vĩ Dạ là niềm lo âu cho hạnh phúc thể hiện niềm đau tình
người, tình đời của Hàn Mạc Tử.
Bài thơ mở đầu bằng câu hỏi nhưng không chỉ là hỏi: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Có người cho đây là lời trách cứ nhẹ
nhàng, vương chút dỗi hờn rất đáng yêu của Hoàng Cúc. Nếu hiểu thế về sau sẽ có sự mâu thuẫn trong hai chủ thể của bài thơ.
Chỉ có thể hiểu đó là lời tự vấn và tự trách mình của nhà thơ. Huế đẹp là vậy, thôn Vĩ tươi xạnh, chuốt ngọc đến thế:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.
Có gương mặt chất phác, hồn hậu của người thương:
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Sao ta lại không về thăm? Hỏi để mà nhớ mà thương, chứ sao ta có thể về được – dù ta rất muốn về lại chốn xưa. Căn bệnh
phong hiểm nghèo này đã tách rời, lôi anh ra xa khỏi tất cả, lấy đi của anh tất cả mọi niềm hạnh phúc trong đời.
Vĩ Dạ thân thương đẹp tuyệt ấy chỉ còn là một cõi đi về, hoài niệm trong tâm tưởng, trong hoài vọng nhớ thương của anh mà
thôi. Vì thế trong nội bộ tứ thơ dường như có sự đứt gãy về cảnh nhưng mạch tâm trạng vẫn chảy trôi. Cảnh Vĩ Dạ đẹp hạnh phúc
đã nhuốm màu sinh li tử biệt.
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.
Nếu như xưa nay gió và mây vốn là hai vật hữu tình quấn quýt, quyện hòa trong nhau:
Mây bay gió quyến mây bay.
(Thế Lữ)
thì lúc này trên bầu trời Vĩ Dạ nó như tan ra bời sự vây phủ của nỗi buồn li biệt. Nỗi buồn nhè nhẹ trôi nhưng ngấm dần vào
người khiến cái nhìn bắt đầu xô vào địa hạt huyền ảo chiêm bao, không còn là lí trí nữa, tình cảm đã trực tiếp bộc lộ. Dòng
Hương giang biến thành sông trăng, thuyền đậu nơi bến sông thành thuyền chở trăng và trong tâm não nhà thơ lúc này Hoàng
Cúc đã thành người bạn trăng tri âm tri kỉ, người mà thi si suốt đời thủy chung: liệu bạn có trở về kịp không? Liệu Hoàng Cúc có
đến kịp để cứu rỗi linh hồn đau khổ, tội nghiệp này chông? Cảnh thực đan cài trong thế giới huyền ảo của tâm tưởng khiến tất cả
như chơi vơi, bay trong khoảng không trời đất. Những câu hỏi cứ xoáy sâu trong con người bệnh tật này sao thấy xót xa, đau đớn
quá thế. Hỏi để mà ước mơ, để mà hi vọng:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra

Ba năm mẹ già cũng đừng mong.
Li khách, hai từ HánViệt này đã gợi lên không khí trang trọng của những giáp trụ, yên cương trong buổi lên đường. Thế nhưng
con đường của người đi là con đường nhỏ, ra đi chưa thấy chút gì của sự nghiệp lớn mà chỉ có sự hăng hái của tinh thần. Chỉ có
thể nhưng vẫn lên đường quyết ra đi bỏ lại mẹ già, chị lỡ thì, em thơ dại. Là trụ cột của gia đinh, anh đi gia cảnh níu kéo sao mà
thương xót, gợi cảm thông hơn một niềm tin vào cuộc ra đi ấy để dấn thân vào cát bụi. Trên dòng mạch ấy, bài thơ kết thúc trong
suy tưởng, sững sờ, thảng thốt:
Người đi: ừ nhỉ, người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.
Lá, bụi, rượu là những thứ vô tri, tầm thường kiếp phù du, dễ trôi đi và tan biến. Điệp từ thà coi thể hiện thái độ buông xuôi, phó
mặc tất cả, ta cứ đi dù biết sẽ vô nghĩa. Bởi thế buổi tiễn đưa có sự bi phẫn của hào kiệt trong thời Thơ mới, những người như
hào kiệt này, chưa dám tin để bước lên đường. Họ dấn thân vì bế tắc. Nguyên nhân ấy khiến Tống biệt hành mang nỗi buồn u uất,
có gì như nghẽn lại trong con người.
Thơ lãng mạn là một dàn đồng ca đa điệu sầu: một Huy Cận khắc khoải không gian, một Xuân Diệu ám ảnh thời gian, một Hàn
Mạc Tử đau đời, một Thâm Tâm ấp ủ mộng li khách một đỉ không trở lại Tất cả làm nên giọng buồn rầu, một đặc điểm rất đặc
trưng không thể bỏ qua khi nóí đến thơ lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945.
Read more: />buon/#ixzz3me03cxxY


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status