Lời mở đầu
rong thời đại ngày nay, bất cứ một doanh nghiệp nào khi bắt tay
vào kinh doanh đều muốn gắn kinh doanh của mình vào thị trờng
và họ hiểu rằng: Thơng trờng chính là chiến trờng, mặc dù nơi đó
không có tiếng bom, tiếng súng nhng để tồn tại cần phấn đấu vợt qua
mọi trở ngại là hết sức khó khăn, phức tạp. Nơi đó cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp là vô cùng khốc liệt, một mất một còn. Nếu ai tuân theo
quy luật của thị trờng thì sẽ tồn tại và ngợc lại, bất chấp quy luật của thị
trờng thì sẽ thất bại. Nh vậy, để tồn tại, để là ngời chiến thắng trong
cuộc đua đầy khó khăn, thử thách thì buộc các doanh nghiệp phải cạnh
tranh. Cạnh tranh không chỉ diễn ra trong phạm vi nhỏ hẹp ở một quốc
gia mà còn diễn ra giữa các tập đoàn với nhau, giữa các quốc gia với
nhau, thậm chí cả giữa các Châu lục với nhau.
T
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế tăng trởng nhanh đã tạo
nên động lực thu hút mạnh mẽ đầu t từ phía nớc ngoài, từ đó tạo điều
kiện cho sản phẩm của Việt Nam có mặt trên thị trờng quốc tế thông
qua con đờng xuất khẩu. Tuy nhiên, sức cạnh tranh trên thị trờng quốc
tế vô cùng mạnh mẽ và các doanh nghiệp Việt Nam thờng bị chèn ép
bởi nhiều lý do khác nhau. Vì thế, các doanh nghiệp phải tăng cờng khả
năng cạnh tranh. Nhờ có cạnh tranh mà doanh nghiệp sẽ tự tìm cho
mình một hớng đi đúng để giữ vững đợc chỗ đứng trên thị trờng quốc tế,
giữ đợc chữ tín với khách hàng và từ đó mới có thể đạt đợc thành công
trong kinh doanh.
Từ những nhận thức cơ bản về vấn đề cạnh tranh và thực tiễn cạnh
tranh của xí nghiệp TOCAN, đề tài luận văn là: Một số biện pháp
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của xí nghiệp TOCAN
trên thị trờng quốc tế.
Luận văn sẽ đi vào nghiên cứu vấn đề cạnh tranh, một trong những
vấn đề quyết định sự thành bại của doanh nghiệp hiện nay.
1
biểu hiện cuối cùng của cạnh tranh đợc bộc lộ ra bên ngoài. Do đó trong phần
này, từ những khái quát chung về cạnh tranh, chúng ta sẽ đề cập tới những
vấn đề về cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp, một trong những vấn đề quyết định sự thành bại của doanh
nghiệp hiện nay.
I. Thị trờng quốc tế và cạnh tranh trên thị trờng quốc tế của doanh
nghiệp.
1. Thị trờng và thị trờng quốc tế của doanh nghiệp.
1.1. Các quan niệm về thị trờng dới các góc độ khác nhau.
Chúng ta biết rằng thị trờng ra đời, tồn tại và phát triển khi có đầy đủ 3
yếu tố cơ bản sau:
- Phải có khách hàng và ngời bán.
- Khách hàng phải có nhu cầu cha đợc thoả mãn. Đây chính là động lực
chủ yếu thúc đẩy khách hàng mua hàng hoá và dịch vụ.
- Khách hàng phải có sức mua, tức là phải có tiền để mua hàng. Nếu chỉ
có nhu cầu mà không có tiền thì quá trình mua bán, trao đổi không thực hiện
đợc.
Trên cơ sở đó, các quan niệm về thị trờng nói chung và thị trờng quốc tế
nói riêng có thể xét theo nhiều góc độ khác nhau và từ đó có những quan
niệm khác nhau.
3
- Theo quan niệm của kinh tế học: Thị trờng là tổng thể của cung và cầu
đối với một loại hàng hoá nhất định trong một không gian và thời gian cụ thể
.
- Theo quan niệm của Marketing: Thị trờng bao gồm tất cả những
khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có
khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu mong muốn đó.
Nh vậy, thị trờng chính là nơi diễn ra quá trình trao đổi mua bán hàng
hoá, là nơi gặp gỡ giữa ngời mua và ngời bán. Số lợng ngời mua và ngời bán
tham gia nhiều hay ít phản ánh quy mô của thị trờng là lớn hay nhỏ. Số lợng
Từ đó ta có khái niệm về thị trờng quốc tế của doanh nghiệp : Thị trờng
quốc tế của doanh nghiệp là tập hợp những khách hàng nớc ngoài tiềm năng
của doanh nghiệp đó.
Theo quan niệm trên thì số lợng và cơ cấu nhu cầu của khách hàng nớc
ngoài đối với sản phẩm của doanh nghiệp cũng nh sự biến động của các yếu
tố đó theo không gian và thời gian là đặc trng cơ bản của thị trờng quốc tế của
doanh nghiệp. Số lợng và cơ cấu nhu cầu chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố
khách quan và chủ quan, vĩ mô và vi mô, vì thế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
phải nghiên cứu một cách tỉ mỉ, chính xác.
1.2. Cấu trúc của thị trờng quốc tế.
Thị trờng quốc tế của doanh nghiệp là tập hợp khách hàng nớc ngoài
hiện tại và tơng lai của doanh nghiệp. Do đó ta có thể phân tích cấu trúc của
tập hợp khách hàng này để phân chia thành từng những nhóm khách hàng t-
ơng đối thuần nhất, theo cấu trúc sẽ giúp doanh nghiệp xác định đợc mục tiêu
cần chiếm lĩnh trong tơng lai và các biện pháp thực hiện mục tiêu đó. Cấu trúc
của tập hợp khách hàng này có thể phân tích theo mức độ tiêu dùng sản phẩm
của doanh nghiệp và khi đó thị trờng bao gồm các bộ phận hợp thành sau:
1.2.1. Thị trờng sản phẩm.
5
Sản phẩm ở đây đợc hiểu là một hay một nhóm sản phẩm cùng loại.
- Nếu sản phẩm là vật phẩm tiêu dùng, hàng hoá dịch vụ thì phải bắt đầu
xét từ tổng thể dân c của vùng lãnh thổ đang xét.
- Nếu sản phẩm là t liệu sản xuất (các yếu tố sản xuất) thì phải bắt đầu
xét từ tổng thể các doanh nghiệp trong vùng đó có sử dụng các t liệu đó.
Để xác định đợc thị trờng hiện tại của sản phẩm đang xét cần:
- Xác định thị trờng không tiêu dùng tuyệt đối: Đây là những khách
hàng mà trong mọi trờng hợp đều không quan tâm tới sản phẩm của doanh
nghiệp vì nhiều lý do khác nhau nh: giới tính, lứa tuổi, môi trờng văn hoá - xã
hội...
- Xác định thị trờng không tiêu dùng tơng đối: Đó là tập hợp những ng-
2.1. Cạnh tranh là gì ?
Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế tham gia
vào thị trờng nhằm giành giật những lợi ích kinh tế về mình để thu đợc lợi
nhuận cao.
Các chủ thể ở đây là ngời bán, ngời mua các loại hàng hoá, dịch vụ. Đối
với ngời bán: Bao giờ họ cũng hớng tối đa hoá lợi nhuận bằng cách bán đợc
càng nhiều hàng càng tốt với giá cao. Ngợc lại, đối với ngời mua, họ muốn tối
đa hoá lợi ích những hàng hoá mà họ mua đợc, tức là họ muốn mua hàng hoá
có chất lợng cao, mẫu mã đẹp, thoả mãn tiêu dùng nhng giá lại rẻ. Do đó hai
bên cạnh tranh nhau để dành những phần có lợi tốt nhất cho mình.
Các yếu tố cấu thành sự cạnh tranh:
- Các chủ thể kinh tế tham gia cạnh tranh: đó là những ngời có cung và
cầu về sản phẩm hàng hoá và dịch vụ.
- Đối tợng tham gia sự cạnh tranh: là các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
7
- Môi trờng cạnh tranh: là thị trờng cạnh tranh.
Chính 3 yếu tố này làm cho thị trờng trở nên sôi động và đầy tính chiến
thắng.
2.2. Phân loại cạnh tranh.
2.2.1. Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trờng, ta có:
- Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo:
Là thị trờng có rất nhiều ngời bán, ngời mua, song không một ai có u thế
trong việc cung ứng và mua sản phẩm để có thể thay đổi đợc giá cả. Mỗi ngời
sản xuất là một ngời nhận giá, tức là ngời đó phải bán ra theo giá thịnh
hành trên thị trờng. Các sản phẩm đợc bày bán trên thị trờng này đợc xem là
đồng nhất. Tức là, sản phẩm đều không có sự khác biệt lớn về chủng loại, mẫu
mã thậm chí còn giống nhau y hệt và chúng nhỏ quá không thể tác động
đến giá cả trên thị trờng.
- Thị trờng cạnh tranh độc quyền.
Thị trờng cạnh tranh độc quyền là thị trờng chỉ có duy nhất một ngời sản
cùng là những ngời mua thì tự làm hại mình vì để có đợc hàng thì họ phải bỏ
ra một khoản tiền, còn phần béo bở thì lại thuộc về ngời bán, mặc dù họ
đứng ngoài cuộc.
- Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau.
Đây là cuộc cạnh tranh chính trên vũ đài thị trờng, đồng thời cũng là
cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất. Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau thực
chất là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhằm dành điều kiện sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm có lợi hơn. Do đó nó có ý nghĩa sống còn đối với mỗi
doanh nghiệp.
Trong thị trờng, cạnh tranh là một quy luật tất yếu. Sản xuất hàng hoá
càng phát triển, số lợng hàng hoá bán ra ngày càng tăng thì cạnh tranh càng
9
quyết liệt. Đã có ngời nói rằng: Thị trờng và cạnh tranh là con dao hai lỡi.
Thị trờng đối với doanh nghiệp này là cái nôi, nhng đối với doanh nghiệp kia
là nghĩa địa. Cạnh tranh với doanh nghiệp này là động lực để phát triển, trong
khi đối với doanh nghiệp khác lại nh một hành động tự sát, là con đờng dẫn
đến diệt vong. Do đó phần tiếp theo sẽ trình bầy rõ hơn một số vấn đề về cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp với nhau.
II. Các hình thức cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện nay trên thị
trờng quốc tế.
1. Tổng quan về doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế tham gia các hoạt động sản xuất
kinh doanh nhằm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn nhu cầu của tiêu
thụ và thu về cho mình một khoản lợi nhuận nhất định.
Mỗi doanh nghiệp là một hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ với môi tr-
ờng bên ngoài và có cấu trúc bên trong gồm nhiều phân hệ khác nhau. Vì thế
doanh nghiệp có thể coi là một cơ thể sống của đời sống kinh tế. Cơ thể đó
cần có sự trao đổi chất với môi trờng bên ngoài (tức là thị trờng). Quá trình
trao đổi chất mà diễn ra thờng xuyên, liên tục thì cơ thể đó khoẻ mạnh. Ngợc
lại, sự trao đổi đó diễn ra yêú ớt thì cơ thể đó sẽ quặt quẹo và ốm yếu.
Do vậy để thực hiện đợc 2 đối sách trên thì buộc doanh nghiệp phải tính
toán kỹ lỡng, cẩn thận. Đồng thời cũng cần phải đa ra đợc các chiến lợc cạnh
tranh để tránh thất bại trên thơng trờng.
2.2. Phân loại cạnh tranh của các doanh nghiệp.
2.2.1. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành (nội bộ ngành).
11
Cạnh tranh nội bộ ngành là cuộc đấu tranh giữa những nhà doanh nghiệp
cùng kinh doanh một loại hàng hoá hay dịch vụ nhằm dành lấy những điều
kiện có lợi nhất trong việc sản xuất, tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ ấy và thu đợc
lợi nhuận cao so với vốn đã bỏ ra. Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự
hình thành giá cả thị trờng đồng nhất đối với hàng hoá, dịch vụ cùng loại trên
cơ sở giá trị xã hội của hàng hoá và dịch vụ đó. Thực chất trong cuộc cạnh
tranh này, các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách tiêu diệt, thôn tính lẫn nhau.
2.2.2. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác ngành.
Là cuộc cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp sản xuất, mua bán hàng
hoá, dịch vụ khác ngành với nhau, nhằm thu đợc lợi nhuận và có tỉ suất lợi
nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra. Trong quá trình này, các doanh nghiệp
luôn quan tâm đến những ngành có lợi nhất nên đã chuyển vốn từ ngành có tỉ
suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỉ suất lợi nhuận cao hơn. Vì vậy việc các
doanh nghiệp thờng xuyên chuyển từ ngành này sang ngành khác để tìm
kiếm cơ hội đầu t vốn có nhiều lợi nhuận hơn đã vô hình chung hình thành
nên sự phân phối vốn hợp lý giữa các nhà sản xuất, từ đó cũng dẫn đến sự
hình thành tỉ suất lợi nhuận bình quân và sự cạnh tranh trong nội bộ ngành lại
tăng lên.
2.3. Vai trò và ảnh hởng của cạnh tranh tới doanh nghiệp và nền kinh
tế quốc dân.
2.3.1. Đối với doanh nghiệp.
- Trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Bởi vì yếu tố cạnh tranh xuyên xuốt từ quá trình sản
xuất đến tiêu thụ của doanh nghiệp. Trong đó tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn
triển bằng việc sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm mới để đáp ứng những
13
nhu cầu đó. Góp phần nâng cao chất lợng đời sống xã hội và sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân.
- Cạnh tranh kết hợp với sự quản lý của Nhà nớc sẽ góp phần xoá bỏ
những độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ bất bình đẳng trong kinh doanh.
Tuy nhiên mặt trái của cạnh tranh luôn luôn đồng hành với mặt tích cực,
đó là:
- Cạnh tranh tạo ra sự phân hoá giầu nghèo, gây bất ổn trong xã hội.
- Nếu sự quản lý của Nhà nớc lỏng lẻo thì cạnh tranh có xu hớng dẫn đến
độc quyền hay có những hậu quả tiêu cực khác.
- Cạnh tranh có thể làm phát sinh hàng giả, hàng nhập lậu làm rối loạn
thị trờng, ảnh hởng tới ngời tiêu dùng và những nhà sản xuất làm ăn chân
chính.
- Ô nhiễm môi trờng cũng là một nguyên nhân xuất phát từ cạnh tranh
do các doanh nghiệp luôn hớng tới lợi nhuận cao mà không chú ý tới việc
dành chi phí cho xử lý chất thải ô nhiễm...
Vì thế buộc phải có sự tham gia quản lý vĩ mô của Nhà nớc một cách kịp
thời, đúng lúc để hớng nền kinh tế - xã hội đi theo hớng có lợi nhất.
3. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thông thờng cạnh tranh sẽ trở nên gay gắt khi có nhiều doanh nghiệp
tham gia sản xuất cùng một loại hàng hoá sản phẩm. Do đó buộc các doanh
nghiệp phải có các công cụ cạnh tranh của mình. Các công cụ cạnh tranh của
doanh nghiệp là một tập hợp các kế hoạch, chính sách, các chiến lợc... mà
doanh nghiệp sử dụng để vợt lên đối thủ cạnh tranh, tác động vào tâm lý tiêu
dùng của khách hàng để có thể tiêu thụ đợc nhiều sản phẩm và thu đợc lợi
nhuận cao.
3.1. Công cụ cạnh tranh là sản phẩm và chất lợng sản phẩm.
14
Khi chọn sản phẩm làm vũ khí cạnh tranh thì cần phải tập chung giải
dùng sẽ mua nhiều, nhà sản xuất sẽ bán đợc nhiều hàng...
Nh vậy chất lợng sản phẩm trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng
của các doanh nghiệp, bởi nó biểu hiện sự thoả mãn nhu cầu khách hàng của
sản phẩm và có thể đơng đầu với đối thủ cạnh tranh.
3.2. Công cụ cạnh tranh là giá cả sản phẩm.
Mặc dù trên thị trờng hiện nay, cạnh tranh đã nhờng vị trí hàng đầu cho
cạnh tranh bằng chất lợng sản phẩm, dịch vụ, bằng thời gian cung cấp hàng
hoá và điều kiện giao hàng, nhng giá cả vẫn có vai trò quyết định.
Giá cả sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà doanh
nghiệp dự tính có thể nhận đợc từ khách hàng thông qua việc trao đổi sản
phẩm đó trên thị trờng.
Giá cả sản phẩm = Giá thành sản phẩm + Lãi đầu t + Lãi của doanh
nghiệp
Giá cả sản phẩm đợc sử dụng làm công cụ cạnh tranh thể hiện qua các
chính sách giá bán mà doanh nghiệp áp dụng đối với từng thị trờng khác
nhau. Cạnh tranh giá cả sản phẩm của doanh nghiệp có thể bắt đầu từ các yếu
tố hình thành nên giá thành sản phẩm, nh: nguyên vật liệu, lao động, giá thuê
đất đai, nhà xởng, tiền điện, tiền nớc... Sau đó là các chi phí gián tiếp nh: chi
phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng, các chính sách của Nhà nớc...
Nh vậy trong giá cả sản phẩm, doanh nghiệp có thể tạo đợc u thế cạnh tranh
so với các đối thủ cạnh tranh của mình.
Chính sách bán sản phẩm của doanh nghiệp là mục tiêu của doanh
nghiệp nhằm xây dựng một hệ thống giá cả trong tơng lai và mong đợi sẽ đợc
thị trờng chấp nhận. Công cụ cạnh tranh là giá cả sản phẩm đợc thể hiện qua
các chính sách giá bán sau:
16
- Doanh nghiệp bán với mức giá thấp (thấp hơn so với giá của thị trờng).
Đây là hình thức thu hút khách hàng nhiều hơn về phía mình so với đối thủ
cạnh tranh nhng phải có điều kiện là chất lợng và chủng loại sản phẩm của
doanh nghiệp phải tơng đơng so với đối thủ cạnh tranh.
- Kênh A (Kênh cấp không): là một kênh trực tiếp bởi vì ngời sản xuất
bán trực tiếp cho ngời tiêu dùng cuối cùng. Nhiều sản phẩm hàng hoá và dịch
vụ đợc phân phối theo cách này. Do không có trung gian trong kênh nên ngời
sản xuất phải thực hiện tất cả các chức năng của kênh.
- Kênh B (Kênh 1 cấp): là mạng phân phối gián tiếp theo kênh ngắn có
thêm ngời bán lẻ. Đợc sử dụng khi ngời bán lẻ có quy mô lớn có thể mua khối
lợng lớn từ ngời sản xuất hoặc chi phí lu kho là quá đắt nếu sử dụng ngời bán
buôn.
- Kênh C (Kênh 2 cấp): là mạng phân phối gián tiếp theo kênh dài.
Trong kênh có thêm ngời bán buôn. Đợc sử dụng phổ biến cho các loại hàng
hoá giá trị đơn vị thấp, chi phí thấp đợc mua thờng xuyên bởi ngời tiêu dùng.
- Kênh D (Kênh 3 cấp): là kênh dài nhất, đợc sử dụng khi có nhiều ngời
sản xuất nhỏ và nhiều ngời bán lẻ nhỏ. Đại lý đợc sử dụng để giúp phối hợp
cung cấp sản phẩm với khối lợng lớn.
18
Người
tiêu
dùng
Người
sản
xuất
Người bán
lẻ
Người bán
buôn
Người bán
lẻ
Đại lý Người bán
có nhiều kênh, mạng lới dày đặc trong phân phối hàng hoá. Nhờ đó nếu có
ách tắc kênh nào thì đã có kênh khác tiếp ứng hoạt động. Do đó có thể nói
các doanh nghiệp cạnh tranh nhau trên từng cây số của thị trờng.
3.4. Các công cụ Marketing.
19
3.4.1. Dịch vụ sau bán hàng.
Hoạt động của doanh nghiệp không phải dừng lại sau lúc giao hàng, thu
tiền của khách hàng mà còn có hoạt động dịch vụ sau bán hàng. Dịch vụ sau
bán hàng thể hiện trách nhiệm đến cùng đối với ngời tiêu dùng về sản phẩm
của mình. Các dịch vụ sau bán hàng nh: vận chuyển hàng miễn phí, bảo hành
hớng dẫn cách sử dụng sản phẩm, lắp đặt sản phẩm tại gia đình ngời tiêu
dùng... Tất cả những thứ đó sẽ gây đợc uy tín của sản phẩm và doanh nghiệp
trên thị trờng, giữ và tăng thêm đợc khách hàng, tạo cho khách hàng cảm thấy
yên tâm trớc khi quyết định mua hàng.
Qua hoạt động dịch vụ sau bán hàng mà doanh nghiệp biết đợc sản phẩm
của mình đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của ngời tiêu dùng ra sao. Sự khen chê
của khách hàng, phát hiện các khuyết tật của sản phẩm mà đổi mới, hoàn
thiện tốt hơn. Dịch vụ sau bán hàng là một giải pháp rất tốt cho uy tín của
doanh nghiệp trong cạnh tranh.
3.4.2. Quảng cáo.
Quảng cáo là nghệ thuật sử dụng các phơng tiện truyền đa thông tin về
hàng hoá cho thị trờng mà cụ thể là cho ngời tiêu dùng. Quảng cáo là phơng
sách có tính chất chiến lợc để đạt đợc hoặc duy trì một lợi thế cạnh tranh trên
thị trờng. Quảng cáo để thu hút sự chú ý của mọi ngời đến sản phẩm của
doanh nghiệp (nh lợi ích, tiện lợi, tính chất sử dụng của hàng hoá...). Quảng
cáo để kích thích nhu cầu tiêu dùng, từ đó có thể tăng tốc độ bán hàng, thu đ-
ợc lợi nhuận.
III. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1. Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nói đến khả năng của doanh nghiệp là nói đến thực lực của doanh
trên thị trờng quốc tế.
21
Theo trên các yếu tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp là các yếu tố tác động tới chất lợng sản phẩm, giá cả, hệ thống phân
phối, dịch vụ sau bán hàng... Tuỳ từng mức độ ảnh hởng mà doanh nghiệp
phải đối mặt, có thể là tốt, là xấu. Nếu tốt sẽ tạo đợc u thế trớc đối thủ cạnh
tranh và ngợc lại, nếu xấu sẽ làm cho doanh nghiệp khó tồn tại trên thị trờng
và có khi còn bị đánh bật ra khỏi thị trờng đó.
Có 2 yếu tố tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đó là
các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp và các yếu tố thuộc về bản thân doanh
nghiệp.
3.1. Các yếu tố thuộc bên ngoài doanh nghiệp.
3.1.1. Các nhân tố mang tính toàn cầu.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có thể bị ảnh hởng bởi những
nhân tố thuộc về hệ thống thơng mại quốc tế. Mặc dù ngày nay trên thế giới
xu hớng chung là tự do mậu dịch và các nỗ lực chung để giảm bớt hàng rào
ngăn cản đối với kinh doanh quốc tế. Các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với
các hạn chế thơng mại khác nhau.
- Thuế quan (Tariffs).
Thuế quan nhập khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá
nhập khẩu. Thuế quan nhập khẩu làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá bị
đánh thuế vợt giá cả trong nớc, đồng thời tạo điều kiện cho các nhà sản xuất
trong nớc mở rộng sản xuất và khả năng cạnh tranh cũng đợc tăng cờng, vì
thế ảnh hởng không nhỏ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trớc các
đối thủ cạnh tranh. Thuế quan nhập khẩu đợc áp dụng rất rộng rãi ở các quốc
gia tuy rằng ở các nớc mức thuế là khác nhau.
- Hạn ngạch (Quota).
Là việc đề ra những giới hạn về số lợng hàng hoá thông qua hình thức
cấp giấy phép (Quota nhập khẩu). Mục tiêu của hạn ngạch là để bảo lu ngoại
22
Các quốc gia rất khác nhau về môi trờng chính trị - luật pháp, vì thế nó
có ảnh hởng rất sâu rộng đến các doanh nghiệp nớc ngoài. Cụ thể:
- Thái độ đối với doanh nghiệp nớc ngoài.
Đối với doanh nghiệp này, quốc gia này rất dễ dãi, khuyến khích thực sự
đối với doanh nghiệp nh chính phủ ban hành những quy định tạo thuận lợi
cho nhà kinh doanh nớc ngoài, chẳng hạn là luật lệ khuyến khích đầu t, tinh
giảm về các luật lệ về cấp giấy phép và các quy định liên quan đến xuất nhập
khẩu. Ngợc lại, lại có quốc gia khác lại có thái độ thù nghịch, chẳng hạn
chính phủ sẽ đa ra những yêu cầu về hạn ngạch nhập khẩu, hạn chế sử dụng
ngoại tệ...
Ngoài ra khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn bị ảnh hởng bởi:
- Sự ổn định về chính trị.
- Sự điều tiết về tiền tệ, tỷ giá hối đoái biến động mạnh cũng tạo nên các
rủi ro cho doanh nghiệp nớc ngoài.
- Tính hiệu lực của bộ máy chính quyền.
- Các quy định mang tính chất bắt buộc về pháp luật và quản lý nh cấm
đoán hay kiểm soát đối với một số hàng hoá và dịch vụ, cấm một số phơng
thức hoạt động thơng mại (nhất là trong lĩnh vực quảng cáo), các kiểu kiểm
soát về giá cả, số lợng sản phẩm hay là các tiêu chuẩn mang tính bắt buộc đối
với sản phẩm của doanh nghiệp.
3.1.4. Các nhân tố thuộc môi trờng văn hoá.
Mỗi quốc gia đều có những tập tục, quy tắc, kiêng kỵ riêng. Chúng đợc
hình thành theo truyền thống văn hoá của mỗi quốc gia và có ảnh hởng to lớn
đến tập tính tiêu dùng của khách hàng và của quốc gia đó. Do đó có ảnh hởng
đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì thế buộc các doanh nghiệp
24
phải đa ra những sản phẩm mang tính chất văn hoá truyền thống, chất lợng
cao, giá cả hợp lý, mới lạ, đa năng...
3.1.5. Các nhân tố thuộc môi trờng cạnh tranh.
Sức hấp dẫn của thị trờng nớc ngoài đã thu hút rất nhiều đối thủ cạnh