Hướng đi cho sinh viên Công nghệ thông tin - Pdf 30



GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

MỞ ĐẦU
Ngày nay, cùng với sự tiến bộ vượt bật của khoa học kỹ thuật, Công nghệ thông
tin(CNTT) đã trở thành một phần không thể thiếu trong công việc cũng như đời sống
con người. Với những tính năng ưu viêt, sự tiện dụng được đáp ứng rộng rãi, CNTT là
một trong những động lực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh kinh tế. Do vậy,
phát triển CNTT được xem là một trong những quốc sách hàng đầu của mỗi quốc gia.
Làm việc, nghiên cứu, học tập hay giải trí… nhìn chung, các ngành tri thức ngày nay,
nhiều ít cũng có yếu tố CNTT trong đó. Ngoài ra, sự phát triển của CNTT đã tạo ra
hàng loạt ngành nghề mới, có giá trị tăng cao, thu hút được sự quan tâm của nhiều
người, đặc biệt là các bạn trẻ.
Tuy nhiên, nhiều năm gần đây, theo số liệu thống kê, trên 80% sinh viên ngành
CNTT đều gặp khó khăn trong tìm kiếm công việc, nhất là những công việc phù hợp
với bản thân và chuyên môn của mình. Ngoài ra, bản thân các thành viên trong nhóm
cũng là những sinh viên chuyên ngành CNTT, nên cũng rất lo lắng khi đứng trước
quyết định: Lựa chọn hướng đi sao cho phù hợp với năng lực, trình độ chuyên môn,
cũng như sở thích để có thể theo đuổi lâu dài.
Để giải quyết khúc mắc đó, các thành viên trong nhóm đã thống nhất và quyết
định chọn đề tài báo cáo cuối kỳ là:
HƢỚNG ĐI CHO SINH VIÊN CNTT
Mục tiêu của bài báo cáo là nhìn nhận một cách khách quan về tình hình CNTT
ở nước ta hiện nay, từ đó trình bày được những vấn đề quan tâm của sinh viên CNTT,
nêu được nguyên nhân do đâu mà sinh viên CNTT gặp khó khăn trong vấn đề tìm
kiếm việc làm, từ đó đưa ra hướng khắc phục. Đồng thời, bài báo cáo cũng phân tích
một số ngành cụ thể trong nhóm ngành CNTT để có cách nhìn khái quát hơn trước khi
chúng ta có quyết định gắn bó lâu dài với lĩnh vực này.
Bài báo cáo gồm tất cả 4 chương:
Chƣơng 1- GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CNTT: trình bày sơ lược về CNTT và
GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu viết báo cáo, cũng như thời gian học
tập trên lớp, chúng em đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy Nguyễn
Hữu Thƣơng. Chúng em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến thầy- người đã tạo điều
kiện và cung cấp những kiến thức cơ bản về trình bày một bài báo cáo để chúng em có
thể thực hiện bài báo cáo này.
Chúng em cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân và bạn
bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ cũng như động viên chúng em hoàn thành bài báo cáo
đúng thời gian.
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng bài báo cáo vẫn còn nhiều thiếu sót. Rất mong
nhận được sự nhận xét, góp ý của thầy để bài báo cáo có thể hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Nhóm sinh viên thực hiện
Lê Nhâm Thân
Bùi Hữu Hiệp- Nguyễn Văn Vinh
Trần Văn Long- Hoàng Minh Tuấn
Tháng 4 năm 2012

...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
LỜI CẢM ƠN
NHẬN XÉT
MỤC LỤC
Chƣơng 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CNTT ................................................................................ - 1 -
1.1. KHÁI NIỆM ...................................................................................................................... - 1 -
1.2. VAI TRÒ ........................................................................................................................... - 1 -
Chƣơng 2: TỔNG QUAN VỀ CNTT Ở VIỆT NAM ..................................................................... - 5 -
2.1. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CNTT Ở NƢƠC TA ................................... - 5 -
2.2. SỰ HẠN CHẾ CỦA CNTT VIỆT NAM ......................................................................... - 6 -
Chƣơng 3: NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA SINH VIÊN HỌC CNTT .................................................. - 10 -
3.1. HỌC CNTT NÊN HỌC GÌ? .......................................................................................... - 10 -
3.1.1. Phân loại theo công việc.......................................................................................... - 10 -
3.1.1.1. Khoa học máy tính .......................................................................................... - 10 -
3.1.1.2. Hệ thống thông tin........................................................................................... - 11 -
3.1.1.3. Kỹ thuật phần mềm: ....................................................................................... - 11 -
3.1.1.4. Kỹ thuật máy tính ........................................................................................... - 12 -
3.1.1.5. Mạng máy tính và truyền thông .................................................................... - 12 -
3.1.2. Phân loại theo trình độ chuyên sâu ....................................................................... - 12 -

4.2.3.2. Tiếp cận vấn đề có thứ tự và luôn chú ý tới chi tiết ..................................... - 25 -
4.2.3.3. Làm việc nhóm ................................................................................................ - 25 -
4.2.3.4. Làm việc một mình trong thời gian dài ......................................................... - 26 -
4.2.3.5. Kỹ năng thiết kế .............................................................................................. - 26 -
4.2.3.6. Khả năng giải quyết vấn đề ............................................................................ - 26 -
4.2.3.7. Kiên nhẫn ......................................................................................................... - 26 -
4.2.3.8. Tự học .............................................................................................................. - 26 -
4.3. QUẢN TRỊ HỆ THỐNG THÔNG TIN ........................................................................ - 26 -
4.3.1. Giới thiệu ................................................................................................................. - 26 -
4.3.2. Công việc .................................................................................................................. - 27 -
4.3.3. Nhu cầu thị trƣờng và cơ hội nghề nghiệp ............................................................ - 28 -
4.3.4. Yêu cầu kiến thức .................................................................................................... - 28 -
4.3.5. Kỹ năng .................................................................................................................... - 28 -
4.3.5.1. Khả năng thích nghi nhanh ............................................................................ - 28 -
4.3.5.2. Khả năng truyền đạt thông tin ....................................................................... - 29 -
4.3.5.3. Khả năng làm việc độc lập ............................................................................. - 29 -
4.3.5.4. Kỹ năng giao tiếp............................................................................................. - 29 -
4.4. KỸ SƢ PHẦN CỨNG ..................................................................................................... - 29 -
4.4.1. Giới thiệu ................................................................................................................. - 29 -
4.4.2. Công việc .................................................................................................................. - 30 -
4.4.3. Nhu cầu thị trƣờng và cơ hội nghề nghiệp ............................................................ - 30 -
4.4.4. Yêu cầu kiến thức .................................................................................................... - 30 -
4.4.5. Kỹ năng .................................................................................................................... - 31 -
4.4.5.1. Làm việc theo nhóm ........................................................................................ - 31 -
4.4.5.2. Khả năng làm việc độc lập ............................................................................. - 31 - GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

4.4.5.3. Tinh thần trách nhiệm và khả năng chịu áp lực cao trong công việc ......... - 31 -

4.8. NĂM NHÓM NGÀNH HOT NHẤT HIỆN NAY ........................................................ - 45 -
4.9.1. Lập trình ứng dụng mobile .................................................................................... - 45 -
4.9.2. Lập trình game ........................................................................................................ - 47 -
4.9.3. Thiết kế 3d ............................................................................................................... - 48 -
4.9.4. Phát triển ứng dụng phần mềm và web ................................................................ - 49 - GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

4.9.5. Thƣơng mại điện tử ................................................................................................ - 49 -
Chƣơng 5: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ KẾT LUẬN.............................................................. - 50 -
5.1. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC .................................................................................................. - 50 -
5.2. HẠN CHẾ ........................................................................................................................ - 50 -
5.3. KẾT LUẬN ...................................................................................................................... - 50 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................................. - 51 -
PHÂN CHIA NHIỆM VỤ .............................................................................................................. - 52 -

- 1 -

GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

Chƣơng 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CNTT
1.1. KHÁI NIỆM
Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay
là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin
CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu
trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin.
Hình 1.1-Máy vi tính là thiết bị quan trọng nhất của CNTT
Ở Việt Nam: Khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính
phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa
học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn
thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin
rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội.
Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vào
chương trình học phổ thông. Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung
về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác.
Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng tần rộng tới tất cả các trường
học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở
thành hiện thực. Hiện nay hầu hết các ngành học đều áp dụng CNTT trong chuyên
ngành của mình nhằm nâng cao hiệu quả.
1.2. VAI TRÒ
Vai trò của công nghệ thông tin đối với đời sống xã hội
Chúng ta đang sống trong một thời đại mới, thời đại phát triển rực rỡ của

với các nước đang phát triển, nhất là đối với vùng xa xôi hẻo lánh, các nước và các
vùng này có cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế. Công nghệ thông tin là chiếc chìa khoá
để mở cánh cổng vào nền kinh tế tri thức.
Mạng thông tin là môi trường lý tưởng cho sự sáng tạo, là phương tiện quan
trọng để quảng bá và nhân rộng nhanh vốn tri thức, động lực của sự phát triển, thúc
đẩy phát triển dân chủ trong xã hội, phát triển năng lực của con người.
CNTT sẽ nhanh chóng thay đổi thế giới một cách mạnh mẽ, sự chuyển đổi này
có vị thế trong lịch sử như một cuộc cách mạng kinh tế - xã hội và có ảnh hưởng to lớn
đến đời sống con người.
Đối với y tế, việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và CNTT đã
trở thành một hình thức phổ biến có tác dụng hỗ trợ kịp thời và thiết thực trong việc
chữa bệnh cho nhân dân. Ví dụ, hiện nay đã dùng công nghệ siêu âm 3D (ba chiều),
hoặc các bác sĩ có thể hội chẩn từ xa (thậm chí từ nhiều nước khác nhau trên thế giới).
Sử dụng CNTT để hỗ trợ về mặt kỹ thuật và phương pháp điều trị cho những vùng xa
- 3 -

GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

trung tâm y tế đã mang lại giá trị to lớn về mặt tinh thần cũng như vật chất cho nhân
dân.
Hình 1.2- Ứng dụng CNTT trong lĩnh vực y tế
Trong lĩnh vực Giáo dục, đào tạo việc ứng dụng CNTT đã góp phần nâng cao
chất lượng dạy và học ở các cấp, các bậc học, mở rộng thêm nhiều loại hình đào tạo
như đào tạo từ xa, phối hợp liên kết giữa các trường, các Quốc gia với nhau đang nhằm
đưa chất lượng giáo dục của nước ta ngang bằng với các nước trong khu vực và trên
thế giới. Chính phủ điện tử trên cơ sở điện tử hoá các hoạt động quản lý nhà nước đang
hình thành và ngày càng trở nên phổ biến. Mạng thông tin lớn và mạnh có thể nối các
cơ quan quản lý với đối tượng quản lý, giúp cho quá trình ra quyết định được thực hiện
nhanh chóng, kịp thời và chính xác và tiết kiệm thông qua các hoạt động giao ban trực
tuyến từ Trung ương đến cơ sở theo định kỳ hoặc khi có sự vụ đột biến xảy ra.

chưa phát triển những công nghệ đó. Vì vậy với sự phát triển như vũ bão của CNTT
hiện nay, quốc gia nào, dân tộc nào nhanh chóng nắm bắt và làm chủ được công nghệ
thông tin thì sẽ khai thác được nhiều hơn, nhanh hơn lợi thế của mình. Và cũng chính
từ đây nảy sinh một thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển như nước ta đó
là làm thế nào để phát huy được thế mạnh của CNTT thúc đẩy sự phát triển của xã hội
mà không mất đi văn hoá truyền thống quý báu của dân tộc. Sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay tất yếu phải khai thác được những tiềm năng thế
mạnh của CNTT, thúc đẩy những ứng dụng và phát triển CNTT, coi đó là một điều
kiện cần thiết để đạt được những mục tiêu của giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. - 5 -

GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

Chƣơng 2: TỔNG QUAN VỀ CNTT Ở VIỆT NAM
2.1. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CNTT Ở NƢƠC TA
Ngay từ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương vận
dụng công nghệ - thông tin trong một số lĩnh vực. Bước sang thời kỳ đổi mới, chủ
trương ấy đã được nhấn mạnh và cụ thể hoá trong nhiều nghị quyết của Đảng và Chính
phủ.
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30-3-1991 của Bộ Chính trị về khoa học và
công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu : "Tập trung sức phát triển một số ngành
khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học,...". Nghị quyết Hội nghị lần thứ
bảy Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) ngày 30-7-1994 xác định : "Ưu tiên ứng
dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu

dụng và phát triển công nghệ thông tin; đầu tư cho công nghệ thông tin chưa đủ mức
cần thiết; quản lý nhà nước về lĩnh vực này vẫn phân tán và chưa hiệu quả, ứng dụng
công nghệ thông tin ở một số nơi còn hình thức, chưa thiết thực và còn lãng phí.
Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về
vai trò của công nghệ thông tin chưa đầy đủ; thực hiện chưa triệt để các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước; chưa kết hợp chặt chẽ ứng dụng công nghệ thông
tin với quá trình cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh, cải cách hành chính, đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; chậm ban hành các chính sách
đáp ứng nhu cầu ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; quản lý nhà nước trong
các lĩnh vực máy tính, viễn thông và thông tin điện tử chưa thống nhất, thiếu đồng bộ,
chưa tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh cho việc cung ứng dịch vụ viễn thông
và Internet, chưa coi đầu tư cho xây dựng hạ tầng thông tin là loại đầu tư xây dựng hạ
tầng kinh tế, xã hội.
2.2. SỰ HẠN CHẾ CỦA CNTT VIỆT NAM
Chính phủ đã bỏ ra nhiều kinh phí để phát triển CNTT , nhưng kết quả tính đến
nay cho thấy không có dấu hiệu nào khả quan.
Sự trì trệ về công nghệ thông tin do việc thiếu trầm trọng nguồn nhân lực khiến
nhiều chuyên gia ngoại quốc đánh giá tiềm năng CNTT của Việt Nam thua xa nhiều
nước trong khu vực và do đó khó có cơ hội tiếp cận với tốc độ bùng nổ CNTT trên
khắp thế giới hiện nay.
Công nghệ thông tin là một trong những đòi hỏi bức thiết không thể thiếu trong
guồng máy kinh tế ở nhiều nước trên thế giới. Nước giàu thì đầu tư vào trí tuệ để trong
- 7 -

GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

một thời gian nhanh nhất có thể sản xuất ra những phần mềm ứng dụng trong tất cả
mọi hoạt động của xã hội. Bên cạnh phần mềm, hàng triệu kỹ sư điện toán khắp thế
giới cũng ngày ngày miệt mài bên trong các phòng thí nghiệm để tìm ra những thiết bị
tinh vi nhất của điện toán, nhằm đưa vào ứng dụng tại các cơ xưởng sản xuất trên khắp

lập trình viên tại Việt Nam. Cổ phần của FPT được xem là cao nhất thị trường chứng
- 8 -

GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

khoán vì những thành công của nó. Ông Trương Gia Bình, Tổng Giám Đốc công ty
FPT, cho biết:
"Năm 2009 thì FPT cho rằng sẽ khó hơn 2008, thành ra FPT tập trung vào các
lãnh vực mà vẫn có tiềm năng, ví dụ như lãnh vực phát triển internet, telecom, lãnh
vực giáo dục, là những lãnh vực ít bị ảnh hưởng nhất. Hiện nay FPT có khoảng 3.500
lập trình viên. Và năm 2009 có dấu hiệu thay đổi, một số khách hàng của FPT cắt
giảm các chi phí đầu tư, nhưng mà ngược lại cũng có một số khách hàng chuyển đổi từ
các đối tác Trung Quốc và Ấn Độ chuyển sang cho Việt Nam."
Những trì trệ trong công nghệ CNTT của năm qua theo dư luận báo chí phản
ảnh được ông Đỗ Xuân Thọ đồng tình:
"Theo đánh giá của các phương tiện thông tin đại chúng, việc phát triển công
nghệ thông tin của Việt nam cũng có cái trầm lắng. Cái đó có nguyên nhân chủ quan
và nguyên nhân khách quan. Về khách quan thì nó ảnh hưởng chung bởi vấn đề suy
thoái kinh tế, vấn đề đầu tư, thị trường. Một phần nó cũng do ảnh hưởng của một số
sai lầm của dự án 112, thành ra nó cũng tác động tới tình hình chung."
Cần thay đổi chƣơng trình và phƣơng pháp dạy Đại học
Trong một bài viết mới đây, hãng tin Reuters nói về thực trạng các công ty nước
ngoài gặp nhiều khó khăn khi tuyển dụng nhân lực tại Việt Nam, nhất là nguồn nhân
lực thuộc lãnh vực công nghệ thông tin. Reuters cũng đưa ra những nhận xét của giới
chuyên gia, lo ngại việc giáo dục trong khuôn viên đại học Việt Nam hiện nay sẽ có tác
hại to lớn cho nhiều thế hệ sinh viên trong tương lai.
Đây không phải là lần đầu tiên báo chí nước ngoài lên tiếng về thực trạng lạc
hậu của nguồn nhân lực IT Việt Nam. Năm ngoái, cả nước Việt Nam đã thích thú khi
nghe tin hãng chip điện tử lớn nhất thế giới là Intel chính thức xây dựng công xưởng
sản xuất tại Thành Phố Hồ Chí Minh với kinh phí hơn 1 tỷ đô la và nguồn nhân lực mà
- 10 -

GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

Chƣơng 3: NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA SINH VIÊN HỌC CNTT
Chúng ta đã biết, CNTT là một ngành đầy triển vọng, với tốc độ phát triển vượt
bật, đã tạo ra một khối lượng việc làm khá lớn trong nền kinh tế hiện nay, điều này đã
thu hút được sự quan tâm của rất nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ ngày nay. Tuy
nhiên, trước khi có sự quyết định chọn CNTT làm sự nghiệp của mình, vẫn còn nhiều
câu hỏi và thắc mắc cần được giải đáp.
3.1. HỌC CNTT NÊN HỌC GÌ?
“Ngành công nghệ thông tin”- trong đời sống xã hội, chúng ta thường nghe cụm
từ này. Nhiều người lầm tưởng rằng CNTT là một ngành cụ thể. Đó là một suy nghĩ
không chính xác. Bởi lẽ, CNTT là một lĩnh vực công nghệ. Bên trong từ CNTT đó,
chúng ta có thể chia thành nhiều nhóm ngành nhỏ khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm,
chức năng của mỗi ngành.
3.1.1. Phân loại theo công việc
Xét về công việc cụ thể của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Chúng ta có thể khái
quát một cách tương đối về CNTT theo những nhóm ngành sau:

tiến.
Nghiên cứu phát triển các hệ cơ sở dữ liệu (CSDL) tiên tiến như CSDL hướng
thời gian, CSDL đa phương tiện, CSDL mờ, CSDL đồ thị, CSDL suy diễn.
Phát triển các nghiên cứu nhằm tăng cường khai thác tri thức từ CSDL, quản trị
các kho dữ liệu lớn, tìm kiếm thông tin trên web, tìm kiếm ngữ nghĩa.
Phát triển các nghiên cứu liên ngành giữa tin học và các ngành khoa học khác
như: xử lý ngôn ngữ tự nhiên, sinh học, hoá học, môi trường, v.v..
Phát triển các hệ thống thông tin ứng dụng trong các lĩnh vực giáo dục điện tử,
thương mại điện tử, hành chính điện tử,..
3.1.1.3. Kỹ thuật phần mềm:
Giám đốc dự án, giám đốc thông tin.
Lập trình viên, phát triển phần mềm.
Chuyên viên kiểm định và thử nghiệm phần mềm.
Trưởng nhóm phần mềm, kiểm định, thử nghiệm và đánh giá phần mềm.
Lập dự án, lên kế hoạch, hoạt định chính sách phát triển phần mềm và các ứng
dụng.
Cán bộ nghiên cứu và ứng dụng Công nghệ thông tin ở các viện, trung tâm
nghiên cứu và các trường đại học, cao đẳng.
Giảng viên Công nghệ thông tin ở các các trường đại học, cao đẳng, trung học
phổ thông, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

- 12 -

GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

3.1.1.4. Kỹ thuật máy tính
Làm việc trong các dự án phát triển, thiết kế, chế tạo các thiết bị phần cứng; làm
việc trong các công ty về phần cứng cũng như phần mềm máy tính, thiết kế các hệ
thống số, hệ thống nhúng.
Cán bộ nghiên cứu và ứng dụng Công nghệ thông tin ở các viện, trung tâm


Mức Kỹ sư – Chuyên gia: Những kiến thức trong chương trình đào tạo đại học
CNTT, thạc sĩ CNTT, tiến sĩ CNTT, thậm chí là sau Tiến sĩ là để phục vụ cho cấp độ
này. Và tất nhiên cấp độ này sẽ tiếp cận theo nhiều xu hướng khác nhau, kèm với mỗi
xu hướng là nhiều mức khác nhau tùy theo năng lực mỗi người.
Bây giờ chúng mới nhận xét về các xu hướng và các mức độ tiếp cận của mỗi
một xu hướng trong ngành. Ở đây, chúng ta chỉ đề cập tới việc tiếp cận CNTT của các
Cử Nhân, Thạc Sĩ, Tiến Sĩ…. CNTT. Cụ thể như sau:
Hướng Khoa Học: Nghiên cứu sâu xa về những thuật toán nhằm tối ưu hóa
chúng, nghiên cứu và phát triển về trí thông minh nhân tạo, về “thị giác” máy tính, về
khả năng nhận dạng ngôn ngữ….Đây là 1 lĩnh vực khoa học rất khó, chỉ dành riêng
cho những con người đặc biệt thông minh và có hoài bão trở thành một nhà khoa học
thực thụ. Đặc biệt nếu chấp nhận hướng đi này các bạn phải sẵn sàng chấp nhận xác
xuất 99% … thất bại.
Hướng Kĩ Thuật: Bao gồm kỹ sư mạng và lập trình viên.
Hướng phát triển của một kỹ sư mạng là thành chuyên gia an ninh mạng cao
cấp (đòi hỏi nền tảng về kinh nghiệm, trí tuệ và kiến thức rất cao và rất ít kỹ sư mạng
đáp ứng được các yêu cầu đó).
Lập trình viên: Các bạn lưu ý rằng để làm việc ở cấp độ lập trình viên thì chỉ
cần theo học tại một trung tâm đào tạo lập trình viên như Aptech là đủ, không cần thiết
phải theo học đại học. Bởi theo chương trình của các trường ĐH hàng đầu như Bách
khoa, Khoa học tự nhiên, họ cung cấp cho các Kỹ sư – cử nhân CNTT những kiến thức
về công nghệ, về tầm nhìn công nghệ, về tư duy thuật toán, về quản trị dự án và xem
việc lập trình bằng một ngôn ngữ cụ thể nào đó là do SV mặc định phải tự học lấy.
Chính vì lẽ đó nếu muốn làm lập trình viên thì hãy theo học tại các trung tâm đào tạo
lập trình viên, họ sẽ “nắm tay” bạn để dạy bạn kỹ thuật lập trình.
Chúng ta có một vài nhận xét về việc lập trình (ở mức độ bình thường chứ
không nói đến lập trình để giải quyết các vấn đề khoa học) như sau: Lập trình là một
công việc 100% kỹ thuật không mang tính khoa học và công nghệ, nó cũng không đòi
hỏi cao về khả năng tư duy. Tuy nhiên như những công việc kỹ thuật khác, nó đòi hỏi

người phải bỏ học giữa chừng, hay sau khi tốt nghiệp ra trường không có việc làm
đúng với chuyên môn đã đào tạo gây lãng phí về thời gian và tiền bạc, để lại nỗi bức
xúc, mặc cảm khi mới chập chững vào đời.
Hiện nay cả nước có hàng chục trường ĐH, CĐ, THCN với hàng trăm khoa đào
tạo CNTT với các tên gọi khác nhau như Công nghệ thông tin, Tin học quản lý, Đồ
họa vi tính, Tin học kế toán, Điện tử tin học… Ngoài ra còn có nhiều trung tâm cũng
mở lớp đào tạo CNTT, đây là cơ hội nhưng cũng là thử thách rất lớn cho những học
sinh khi lựa chọn hệ đào tạo, bậc học cho phù hợp với năng lực và học lực của mình.
Theo số liệu thống kê, trên 80% sinh viên ngành CNTT đều gặp khó khăn trong
tìm kiếm công việc, nhất là những công việc phù hợp với bản thân và chuyên môn của
mình.” Tuy nhiên, theo nhiều ý kiến thì tình trạng thất nghiệp của sinh viên CNTT còn
cao hơn. Như vậy, nguyên nhân là do đâu?
3.3.1. Phải chăng cung đã vƣợt cầu?
Theo nhận định của TS. Lê Trường Tùng - Chủ tịch Hội Tin học TP.HCM, có
một nghịch lý đang tồn tại hiện nay là thiếu nhân lực nhưng tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao.
- 15 -

GV: ThS. Nguyễn Hữu Thương SVTH: Nhóm 12

Vì sao vậy? Trước hết, ai có thể trở thành chuyên viên ở các công ty phần mềm?
Không cần tìm hiểu nhiều, chúng ta có thể thấy các công ty này chỉ tuyển lựa những
sinh viên ưu tú nhất và con số này chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số tốt nghiệp
ngành CNTT. Nhưng tuy vậy, ngay cả những sinh viên đạt học lực cao cũng không dễ
gì bước chân vào đây bởi bước tiến của CNTT là rất nhanh và những gì mà nhà trường
trang bị cho họ khó lòng đáp ứng được yêu cầu thực tế. Đến đây, câu hỏi đặt ra cho các
sinh viên không đạt được kết quả học tập như họ sẽ đi đâu và làm gì. Sự lựa chọn cho
các sinh viên này có thể là làm tin học cho những nơi có nhu cầu tin học hoá. Tuy
nhiên, những thực tế gặp phải cũng cho thấy không dễ dàng gì.
Dường như, bất kể cơ quan nhà nước hay doanh nghiệp nào cũng có nhu cầu tin
học hoá và rất cần tuyển được cán bộ tin học chuyên trách. Bản thân họ thấy điều đó là

Tuy nhiên, cũng tội nghiệp cho các em sinh viên bởi họ đâu có biết gì về vai trò,
vị trí đích thực của CNTT trong xã hội. Trách nhiệm ở đây có lẽ thuộc về các nhà
hoạch định chính sách và quản lý không chỉ của riêng ngành CNTT.
Theo phân tích của chiến lược phát triển CNTT-TT Việt Nam giai đoạn 2005 –
2010, CNTT-TT gồm 4 trụ cột là hạ tầng CNTT-TT; ứng dụng CNTT; công nghiệp
CNTT và nhân lực CNTT-TT. Như vậy, trụ cột của nhân lực CNTT-TT đương nhiên
cũng phải tương thích với 3 trụ cột còn lại và như thế, nguồn nhân lực cho CNTT-TT
không chỉ là duy nhất với công nghiệp CNTT (trong đó có sản xuất, gia công phần
mềm) mà còn phải thoả mãn cả cho hạ tầng CNTT-TT và ứng dụng CNTT. Cách hiểu
của không ít sinh viên cho rằng học CNTT thì cứ phải làm việc cho doanh nghiệp, cơ
quan nhà nước về CNTT mới là đúng chuyên môn có lẽ cũng một phần bởi những
tuyên truyền thái quá cho nhu cầu gia công, xuất khẩu phần mềm. Song cũng phải thấy
rằng dù nhu cầu tuyển dụng là rất lớn nhưng đòi hỏi về chuyên môn và ngoại ngữ cũng
là rất cao vì đã là gia công phần mềm cho nước ngoài thì nhân lực tham gia phải thích
ứng với các công nghệ mới nhất. Trong khi đó, những kiến thức được nhà trường cung
cấp cùng các công cụ lập trình chắc chắn là không thể theo kịp đòi hỏi đó. Vì thế,
trước những dư luận thái quá cho nhu cầu nhân lực để gia công, xuất khẩu phần mềm
vào năm 2005, TS Mai Liêm Trực – Thứ trưởng Thường trực Bộ Bưu chính Viễn
thông khi đó đã ngắn gọn nói rằng: Thực ra thì sinh viên tốt nghiệp ngành CNTT ngoài
việc có thể tham gia thị trường này còn phải phục vụ rất nhiều nhu cầu đa dạng của xã
hội với CNTT.
Đương nhiên, thị trường nhân lực cho ứng dụng CNTT có thể thấy ngay là rất
rộng lớn và hết sức đa dạng. Tuy nhiên để có thể tham gia được là không dễ vì cũng
phải có những hiểu biết đủ mức cần thiết về nó. Song TS Mai Anh – nguyên Tổng thư
ký Hội Tin học Việt Nam lại đưa ra nhận xét: Trong khi sinh viên các ngành học khác
được học thêm các kiến thức về CNTT để bổ trợ, ứng dụng cho lĩnh vực chuyên môn
của mình thì sinh viên ngành CNTT lại dường như không được học các kiến thức của
những ngành khác có nhu cầu ứng dụng CNTT. Rất giỏi về lập trình nhưng không biết
lập trình cho cái gì thì sao gọi là giỏi được.
Qua những thực tế của sinh viên ngành CNTT không tìm được việc làm ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status