Những bài văn hay về nghị luận văn học - Pdf 30

Những bài văn hay về
Nghị luận văn học
Đề thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm ........
Môn Văn, khối D
(thời gian làm bài 180 phút, không kể thời gian phát đề).
Câu I: (2 điểm): Anh/chị hãy trình bày những nét chính trong sự nghiệp thơ văn
của Xuân Diệu.
Câu II: (5 điểm): Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống
ở các nhân vật: Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt (Kim
Lân).
Câu III: (3 điểm): Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Kính gửi cụ Nguyễn Du của
Tố Hữu:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
Hỡi Người xưa của ta nay
Khúc vui xin lại so dây cùng Người
(Văn học 12, Tập một, NXB Giáo dục, tái bản 2004, tr.160)
.........HẾT..........
Bài làm
Câu 1:
Xuân Diệu (1916-1985) - một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóa lớn của dân
tộc, đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác thật lớn lao và rất có giá trị. Hơn
năm mươi năm lao động miệt mài trong thế giới nghệ thuật ấy, con người và thơ
văn của Xuân Diệu đã có sự chuyển biến rõ nét từ một nhà thơ lãng mạn thành
nhà thơ cách mạng. Đó là bước chuyển tất yếu của một trí thức yêu nước, một
tài năng nghệ sĩ. Thơ văn Xuân Diệu có đóng góp lớn vào quá trình phát triển
của văn học Việt Nam. Có thể tìm hiểu sự nghiệp văn học của nhà thơ qua thơ
và văn xuôi:
Về lĩnh vực thơ ca, chúng ta có thể tìm hiểu qua hai giai đoạn chính,

"tiếng qua kêu từng hồi thê thiết" ấy nhưng lạ thay chúng ta thật không thể cầm
lòng xúc động trước nghĩa cử cao đẹp mà bình thường, dung dị ấy của Tràng, bà
cụ Tứ và cả người vợ của Tràng nữa. Một anh thanh niên của cái xóm ngụ cư ấy
như Tràng, một con người-một thân xác vạm vỡ, lực lưỡng mà dường như ngờ
nghệch thô kệch và xấu xí ấy lại chứa đựng biết bao nghĩa tình cao đẹp. "Cái đói
đã tràn đến xóm này tự lúc nào", vậy mà Tràng vẫn đèo bòng thêm một cô vợ
trong khi anh không biết cuộc đời phía trước mình ra sao. Tràng đã thật liều lĩnh.
Và ngay cô vợ Tràng cũng thế. Hai cái liều ấy gặp nhau kết tụ lại thành một gia
đình. Điều ấy thật éo le và xót thương vô cùng. Và dường như lúc ấy trong con


người của Tràng kia đã bật lên niềm sống, một khát vọng yêu thương chân
thành. Và dường như hắn đang ngầm chứa một ao ước thiết thực về sự đầm ấm
của tình cảm vợ chồng, của hạnh phúc lứa đôi. Hành động của Tràng dù vô tình,
không có chủ đích, chỉ tầm phơ tầm phào cho vui nhưng điều ấy cũng hé mở cho
ta thấy tình cảm của một con người biết yêu thương, cưu mang, đùm bọc những
người đồng cảnh ngộ. Như một lẽ đương nhiên, Tràng đã rất ngỡ ngàng, hắn đã
"sờ sợ", "ngờ ngợ", "ngỡ ngàng" như không phải nhưng chính tình cảm của vợ
chồng ấy lại củng cố và nhen nhóm ngọn lửa yêu thương và sống có trách nhiệm
với gia đình trong hắn. Tình nghĩa vợ chồng ấm áp ấy dường như làm cho Tràng
thay đổi hẳn tâm tính. Từ một anh chàng ngờ nghệch, thô lỗ, cộc cằn, Tràng đã
sớm trở thành một người chồng thật sự khi đón nhận hạnh phúc của gia đình.
Hạnh phúc ấy như một cái gì đó cứ "ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ
như có bàn tay vuốt nhẹ sống lưng". Tình yêu, hạnh phúc ấy khiến "trong một lúc
Tràng dường như quên đi tất cả, quên cả đói rét đang đeo đuổi, quên cả những
tháng ngày đã qua". Và Tràng đã ước ao hạnh phúc. Mạch sống của một người
đàn ông trong Tràng đã trở dậy. Hắn có những thay đổi thật bất ngờ nhưng rất
hợp logic. Những thay đổi ấy không gì khác ngoài tâm hồn đôn hậu, chất phác và
giàu tình yêu thương hay sao? Trong con người của Tràng khi trở dậy sau khi
chào đón hạnh phúc ấy thật khác lạ. Tràng không là anh Tràng ngày trước nữa

Tràng của ngày xưa, bà cụ Tứ vẫn lặng thầm trong đau khổ, cùng cực. Kim Lân
cũng thật thành công khi xây dựng nhân vật này để góp thêm tiếng lòng ca ngợi
sức sống của vẻ đẹp tình người, niềm tin ở cuộc đời phía trước trong những con
người đói khổ ấy. Và thật ngạc nhiên, khi nói về ước vọng ở tương lai, niềm tin
vào hạnh phúc, vào cuộc đời người ta dễ nghĩ đến tuổi trẻ như Tràng và người
vợ nhưng Kim Lân lại khám phá ra một nét độc đáo vô cùng: tình cảm, ước vọng
ở cuộc đời ấy lại được tập trung miêu tả khá kỹ ở nhân vật bà cụ Tứ. Đến nhân
vật này, Kim Lân tỏ rõ ngòi bút vững vàng, già dặn của mình trong bút pháp miêu
tả tâm lý nhân vật. Bà cụ Tứ đến giữa câu chuyện mới xuất hiện nhưng nếu thiếu
đi nhân vật này, tác phẩm sẽ không có chiều sâu nhân bản. Đặt nhân vật bà cụ
Tứ vào trong tác phẩm, Kim Lân đã cho chúng ta thấy rõ hơn ánh sáng của tình
người trong nạn đói. Bao giờ cũng thế, các nhà văn muốn nhân vật nổi bật cá
tính của mình thường đặt nhân vật vào một tình thế thật căng thẳng. Ở đó dĩ
nhiên phải có sự đấu tranh không ngừng không những giữa các nhân vật mà độc
đáo hơn là ngay chính trong nội tâm của nhân vật ấy. Bà cụ Tứ là một điển hình.
Việc Tràng lấy vợ đã gây một chấn động lớn trong tâm thức người mẹ nghèo vốn
thương con ấy. Bà ngạc nhiên ngỡ ngàng trước sự xuất hiện của một người đàn
bà trong nhà mình mà lâu nay và có lẽ chưa bao giờ bà nghĩ đến. Hết ngỡ
ngàng, ngạc nhiên bà cụ đã "cúi đầu nín lặng". Cử chỉ, hành động ấy chất chứa
bao tâm trạng. Đó là sự đan xen lẫn lộn giữa nổi tủi cực, nỗi lo và niềm vui nỗi
buồn cứ hòa lẫn vào nhau khiến bà thật căng thẳng. Sau khi thấu hiểu mọi điều
bà nhìn cô con dâu đang "vân vê tà áo đã rách bợt" mà lòng đầy thương xót. Bà
thiết nghĩ "người ta có gặp bước khó khăn này, người ta mới lấy đến con mình,
mà con mình mới có được vợ". Và thật xúc động bà cụ đã nói, chỉ một câu thôi
nhưng sâu xa và có ý nghĩa vô cùng: "Thôi, chúng mày phải duyên phải kiếp với
nhau u cũng mừng lòng".
Đói khổ đang vây lấy gia đình bà, cuộc sống của bà sẽ ra sao khi mình
đang ngấp nghé trước vực thẳm của cái chết. Nhưng trong tâm thức người mẹ
nghèo ấy, đói khổ không phải là vật cản lớn nữa. Đói rét thật nhưng trong lòng
mà cụ vẫn sáng lên tấm lòng yêu thương chân thành. Bà thương con, thương

vào cuộc sống là con nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm. Ông đã
đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan
niệm mới về lòng người và tình người. Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh
mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm sáng tuyệt vời ấy.
Câu 3:
Tố Hữu, một nhà thơ chiến sĩ, một người thư ký trung thành của thời đại
ấy đã cùng hành trình làm cách mạng tiếp cận với thơ ca. Thơ ca đối với ông
không ngoài mục đích chính trị, phục vụ cho lý tưởng của Đảng, của cách mạng.
Trong nguồn mạch về các đề tài chính trị của Đất nước ấy, Tố Hữu đã tìm về với
quá khứ lịch sử của cha ông, một thế hệ hôm nay vọng về thế hệ cha ông xưa để
đồng cảm, thấu hiểu, để tìm nguồn sinh lực mới cất bước cho cuộc kháng chiến
hôm nay. Một trong những bài thơ tiêu biểu cho đề tài này không thể không kể
đến bài thơ "Kính gửi cụ Nguyễn Du", trích trong tập "Ra trận".
Tháng 11/1965 khi giặc Mỹ bắn phá ác liệt, nhà thơ có dịp qua quê hương
của Nguyễn Du và nhân kỷ niệm đúng hai trăm năm ngày sinh của Người, Tố
Hữu xúc động viết lên bài thơ này. Bài thơ đã thể hiện một cách cảm nhận, suy
nghĩ và đánh giá của Tố Hữu tiêu biểu cho thế hệ hôm nay nhìn về quá khứ lịch
sử của cha ông xưa để từ đó khẳng định cuộc kháng chiến chống Mỹ hôm nay
của dân tộc.
Trong tiếng vọng của tấc lòng tri âm tri kỷ ấy, Tố Hữu đã thốt lên:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
Hỡi Người xưa của ta nay
Khúc vui xin lại so dây cùng Người!


Bài thơ trừ bốn câu thơ đầu và cuối, tất cả có năm khổ thơ với ba cặp lục
bát tương xứng. Bằng hình thức tập Kiều nhuần nhuyễn, sáng tạo, ngôn ngữ

Nguyễn Du là tiếng ru của mẹ ân tình, ngọt ngào thổi vào lòng bao thế hệ có sức
mạnh thật lớn lao. Tình cảm ấy, khúc hát ru ân tình ấy là lời nhắc nhở, thủ thỉ cho
con- thế hệ hôm nay vững bước trưởng thành.
Tiếng lòng đồng vọng của cõi xưa nhập cùng thế hệ hôm nay để con lại
vang lên lời ca tự hào:
Hỡi người xưa của ta nay
Khúc vui xin lại so dây cùng Người!
Trên trục kết cấu "xưa-nay", "con-Người" cùng vang lên tiếng lòng khát
khao tìm kiếm tri âm. "Con" sẽ cùng "Người" hát tiếp khúc tráng ca ấy chào đón
cách mạng. Chữ "cùng" đã thể hiện đầy đủ ước vọng của chúng con và Người.
Tình cảm ấy, nghĩa cử ấy thật đáng tự hào và trân trọng.


Sáu câu thơ, ba cặp lục bát song hành ấy là tình cảm, tiếng lòng của
chúng con thế hệ hôm nay đáp lời quá khứ. Đó cũng là lời hứa chân thành nhất
của thế hệ hôm nay cùng ngân vang theo nhịp đập của quá khứ.
Bằng lối tập Kiều nhuần nhuyễn, sử dụng hình ảnh có tính gợi hình, giọng
điệu ân tình, ngọt ngào, đậm chất dân tộc, khổ thơ đã thể hiện trọn vẹn phong
cách thơ Tố Hữu: khuynh hướng thơ trữ tình - chính trị, một giọng điệu tâm tình
ngọt ngào và đậm đà tính dân tộc. Khổ thơ khép lại nhưng lại mở ra một chân
trời mới, tương lai mới trong hành trình chống Mỹ hôm nay:
Sông Lam nước chảy bên đồi
Bỗng nghe trống giục ba hồi gọi quân

Bài văn đạt điểm 10 của cô bé bán rau
"Bài thơ là âm điệu của một cõi lòng bị sóng khuấy động, đang rung lên
đồng điệu đồng nhịp với sóng biển. Rạo rực đến xôn xao, khát khao đến khắc
khoải, có một hình tượng sóng được vẽ lên bằng một âm điệu dập dồn, chìm nổi,
miên man như hơi thở chạy suốt cả bài...".
Đó là một phần bài thi môn Văn đạt điểm 10 duy nhất tại ĐH Đà Nẵng của

hơi thở chạy suốt cả bài.
Sắc điệu trữ tình của bài thơ được gợi lên từ hình tượng sóng. Cả bài thơ
là những con sóng tâm tình xôn xao trong lòng người con gái đang yêu khi đứng
trước biển ngắm nhìn những con sóng vô hồi, bất tận. Sóng là một hình tượng ẩn
dụ, đó là sự hóa thân của cái tôi trữ tình của nữ sĩ, lúc thì hòa nhập, lúc sự phân
thân của “em” - người con gái đang yêu một cách say đắm. Sóng đã khơi gợi một
hồn thơ phong phú, hồn nhiên, sôi nổi. Thông qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh
đã có một cách nói rất hay để diễn tả tâm trạng của người con gái.
Thật tự nhiên và thơ mộng, con sóng nhớ bờ nên ngày đêm sóng vỗ,
sóng thao thức với thời gian và đại dương. Cũng giống như bên đợi thuyền,
thuyền nhớ bến, lúc nào lòng người con gái cũng bồi hồi nhớ thương:
“Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
“Còn thức” tức là lúc nào em cũng nhìn thấy rõ hình bóng anh, ánh mắt
anh ... Một tình yêu cuồng nhiệt, say mê. Con sóng khao khát được đến bờ để
được vỗ về, ve vuốt:
“Hôn thật khẽ thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi”
(Xuân Diệu)
Cũng như “em” muốn được gần bên anh, được hòa nhịp vào trong tình
yêu với anh. Tình yêu của người con gái thật mãnh liệt, nồng nàn. Sóng xa vời
cách trở vẫn tìm được tới bờ, cũng như anh và em sẽ vượt qua mọi khó khăn để
đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi.
“Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng nhỏ
Con nào cũng tới bờ
Dù muôn vời cách trở”
Người con gái đã bày tỏ lòng mình một cách chân thành, say đắm, thắm
thiết. Chân thật và thủy chung là đặc tính của tình yêu:
“Dẫu xuôi về phương Bắc...

ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu.
“Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”
Đọc xong bài thơ Sóng ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ
Việt Nam, những con người luôn thủy chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu.
Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, bà đã làm phong
phú hơn cho nền thơ nước nhà.
Câu 3.a. Theo chương trình PTTH không phân ban (3 đ)
Phân tích hình tượng Cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn
Trung Thành. Nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả cây xà nu của nhà văn.
Nguyễn Trung Thành là nhà văn có duyên nợ gắn bó với mảnh đất Tây
Nguyên. Qua hai cuộc kháng chiến cùng vào sinh ra tử với những người dân nơi
đây đã cung cấp cho Nguyễn Trung Thành một vốn hiểu biết vô cùng sâu rộng về
mảnh đất âm vang rộn tiếng cồng chiêng trong mùa lễ hội, nơi có những người
con trung dũng, kiên cường. Nếu trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trung
Thành - bút danh Nguyên Ngọc nổi tiếng cùng “Đất nước đứng lên”; thì trong
những năm kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là những năm 1965 khi cuộc kháng
chiến của nhân dân miền Nam đang diễn ra gay go ác liệt thì Nguyễn Trung
Thành cho ra mắt người đọc truyện ngắn “Rừng xà nu”. Tác phẩm này đã là một
bản hùng ca, ca ngợi cuộc sống và con người Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh
vĩ đại. Và nổi bật hơn cả trong tác phẩm chính là hình tượng cây xà nu.
Cây xà nu là một hình tượng nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Rừng
xà nu” của Nguyễn Trung Thành. Xuyên suốt trong tác phẩm ta bắt gặp những
cánh rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Cây xà nu là một loài cây quen
thuộc, có mặt trong cuộc sống hàng ngày của người dân Tây Nguyên. “Củi xà nu
cháy trong mỗi bếp lửa gia đình, khói xà nu nhuộm bảng đen cho con trẻ học


chữ, đuốc xà nu rọi sáng sân nhà Ưng trong những đêm lễ hội...”. Tất cả mọi
hoạt động dù lớn dù nhỏ của người dân Tây Nguyên đều có sự góp mặt của cây

Nếu cây xà nu bị tàn phá, huỷ diệt bởi đạn bom, khói lửa thì những người dân
Tây Nguyên phải chịu bao đau thương mất mát do chính kẻ thù gây ra. Bao
nhiêu người bị giặc giết chết như những cây xà nu bị chặt đứt ngang nửa thân
mình, bao nhiêu người còn sống mà phải mang trong mình bao nỗi thương đau.
Bằng cách miêu tả hình ảnh cây và người trong quan hệ sóng đôi như thế,
Nguyễn Trung Thành đã khắc sâu tội ác dã man của kẻ thù để qua đó tác giả
giúp ta hình dung rõ hơn những thảm cảnh dân ta phải chịu do bọn giặc gây ra.
Cũng giống như những cánh rừng quê hương, như những con người Việt
Nam vẫn ý thức được rằng:
“Gươm nào chia được dòng Bến Hải
Lửa nào thiêu được dãy Trường Sơn


Căm hờn lại giục căm hờn
Máu kêu trả máu đầu van trả đầu”
Các thế hệ nhân dân Tây Nguyên đã thay nhau tiếp nối đứng lên. Ánh
sáng của niềm tin “Đảng còn thì núi nước này còn” đã soi đường chỉ lối cho
những bước chân đến với cách mạng. Thế hệ này ngã xuống, thế hệ sau tiếp nối
đứng lên; anh Sút bà Nhan bị giặc giết, đi thay họ tiếp tế nuôi quân đã có T'Nú và
Mai. Cứ như thế, các thế hệ người Tây Nguyên đã thay nhau giữ vững ngọn lửa
truyền thống, thay nhau giữ vững ý chí đánh giặc kiên cường, để giữ làng, giữ
nước của dân làng Xô man nói riêng và của người Tây Nguyên nói chung.
Dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Trung Thành, cây xà nu hiện lên sừng
sững, đồng hành với những bước đi, cuộc sống của dân làng Xô man. Gắn bó
với cánh rừng anh dũng, kiêu hùng, những người dân Tây Nguyên như được tiếp
thêm sức mạnh để đứng lên chiến đấu. Và gắn bó với con người Tây Nguyên ân
tình, thuỷ chung, trung dũng như thế. Cây xà nu cũng luôn luôn sánh bước cùng
họ để họ có cuộc sống bình yên hơn; để “hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều
rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn” chứ không nhằm vào những
người dân vô tội lầm than.

ngờ không chút cảnh giác chính vì thế vua đã để Trọng Thủy có cơ hội mang
mầm tai họa vào bén rễ trong Loa Thành. Sự mất cảnh giác đã cuốn vua vào bi
kịch mất nước do chính tay mình tạo nên; nhưng hậu quả đâu chỉ dừng lại ở đó,
chính An Dương Vương đã đẩy con gái là công chúa Mị Châu vào con đường bi
kịch tình yêu.
Truyền thuyết ghi lại bởi người đời sau ngắn gọn, nhưng cốt lõi của bi kịch
khá rõ ràng: mối quan hệ thông gia giữa hai nhà vốn dĩ đối địch đã tiềm ẩn những
bất trắc khó lường. Vậy mà An Dương Vương lại " vô tình" gả con gái yêu cho
con trai kẻ thù. Theo mạch kể của truyền thuyết không có lí giải nguyên nhân sâu
xa khiến Mị Châu tiếp tay cho Trọng Thủy cướp mất nỏ thần Kim Quy. Mị Châu rõ
ràng đã quá yêu và tin Trọng Thủy đến với mình bằng tình yêu chân thành vì vậy
nàng đã nghe theo mọi lời nói của y. Nếu xét dưới góc độ của một thần tử, nàng
mang tội đáng chết vì một thần tử mà dám đem bí mật quân sự quốc gia ra nói
với người khác, nhất là khi đó lại là con trai của kẻ thù. Đáng trách hơn, Mị Châu
bị tình yêu làm mờ lí trí đến nỗi chẳng còn đủ tỉnh táo để nhận ra những ẩn ý
trong lời nói của Trọng Thủy khi từ biệt để cảnh báo với vua cha. Nàng không còn
đủ tỉnh táo để nhận ra trong lời chồng tiềm ẩn hiếm họa binh đao: "Ta nay về
thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa bắc nam chia cắt, ta tìm lại nàng
biết lấy gì làm dấu?" Mị Châu mê muội đến mức không biết hỏi nguyên cớ chia
lìa, lại chỉ chăm chăm nghĩ về sự đoàn tụ lứa đôi. Rồi ngay cả khi giặc của Triệu
Đà đuổi đến nơi nàng vẫn chẳng chịu trở về với thực tại, mãi đắm mình trong cơn
mộng mị, vẫn còn rắc lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thủy đuổi theo. Đặt tình
riêng lên trên vận mệnh quốc gia như vậy quả là vô cùng đáng trách, đáng phê
phán. Nhưng nếu nhìn dưới góc độ của một người con gái bình thường đang yêu
một cách cuồng nhiệt thì quả thật Mị Châu đã làm tròn trách nhiệm với con tim
của mình. Dù cho có mù quáng đi chăng nữa thì tình yêu của Mị Châu thật đẹp
đẽ và trong sáng. Nàng yêu hết mình và hiến dâng tất cả cho người mình yêu.
Chính vì lẽ đó mà Mị Châu trở thành thủ phạm góp phần làm nên tấn bi kịch mất
nước đồng thời nàng cũng là nạn nhân "bất đắc dĩ" của tấn bi kịch tình yêu. Mị
Châu chẳng làm tròn chữ trung chữ hiếu, nàng chỉ để lại duy nhất cho đời riêng

Trọng Thủy đã phải trả giá cho sự lừa dối khi hắn chỉ còn mang được xác Mị
Châu về chôn cất. Với kẻ cướp nước, nhân dân ta không để cho hắn chiếm đoạt
và tiếp tục lừa phỉnh Mị Châu. Nhưng điều đáng nói ở đây là cái chết lao đầu
xuống giếng của Trọng Thủy và kết thúc câu chuyện: "Người đời sau mò được
ngọc trai ở biển Đông lấy nước giếng mà rửa thì thấy trong sáng thêm". Sự lừa
dối của Trọng Thủy là lời cảnh tỉnh người đời: Chỉ có tình yêu chân thành mới
được đền đáp xứng đáng, tình yêu không bao giờ đồng hành với những âm mưu
toan tính thấp hèn, với tham vọng cướp nước.
Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy muôn đời vẫn còn giá trị
từ ý nghĩa nhân văn, từ bài học cảnh giác đến lời nhắc nhở về cách giải quyết cái
chung và cái riêng, việc nước và việc nhà. Truyền thuyết ấy như ta vẫn biết chứa
đựng bài học mất nước sâu sắc, bài học mất nước là chính và không ai có thể
phủ nhận, nhưng chỉ nhắc đến bi kịch mất nước thôi là chưa đủ mà còn ẩn sâu bi
kịch tình yêu còn nhiều tranh cãi...
HÀ THỊ THIÊN THANH
HS lớp 10 chuyên Văn, Trường THPT Quốc Học - Huế
Bài văn đạt điểm cao trong kỳ thi HS giỏi lớp 12 Tỉnh T.T.Huế năm học 20062007
Trong kỳ thi chọn lọc Học sinh giỏi Tỉnh lớp 12, năm học 2006-2007,
ở vòng II, em Lê Thị Diệp Hương – học sinh lớp 12 chuyên Văn, Trường
Quốc Học đã có bài làm đạt điểm 17,75/20 điểm, trong đó, câu số 3 đạt
9.75/10 điểm.
BBT xin trích giới thiệu đề bài và phần bài làm nói trên của em để quý thầy
cô giáo và học sinh tham khảo
Câu 3 (10 điểm)


Suy nghĩ của anh (chị) đối với vấn đề nhân sinh được đặt ra trong câu
văn sau: “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những
hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới,
điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy...” (Mùa lạc Nguyễn Khải)

Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
Dịch thơ
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi


Sau lưng già đến rồi
Ai bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai
(Mãn giác thiền sư)
Vâng, xuân đến và đi là quy luật của tạo hoá. Đó là vòng quay của thời gian.
Thế nhưng, trong cái giá rét của đêm đông ấy, trên cái cành khô mà tưởng như
hoa đã “lạc tận” – rụng hết ấy vẫn bừng lên vẻ đẹp của “nhất chi mai”. Cái hình
ảnh cành mai dẫu đơn độc nhưng thật cứng cỏi ấy như tạc vào đêm tối chính là
minh chứng rõ ràng nhất cho sự sống ở giữa cái nơi mà vạn vật tưởng đã úa tàn.
Sự sống và cái chết, đau khổ và hạnh phúc, đó chính là một vòng tròn của số
phận, của tạo hoá; đó chính là nguyên cớ cho sự nảy sinh – hiện hình. Với “Mùa
lạc”, Nguyễn Khải cũng đã chứng minh được điều đó. Có ai ngờ đâu trên mảnh
đất đầy bom đạn của Điện Biên, nơi từng bị bom thù giày xéo từng tấc đất, tưởng
như không một sư sống lại mọc lên một nông trường Điện Biên cây cối tốt tươi,
có cả cuộc sống con người với đủ mọi cung bậc cảm xúc.
Đối với con người cũng vậy, hạnh phúc hiện hình từ trong hy sinh, gian khổ.
Bác Hồ cũng đã từng nói:
“Nếu không có cảnh đông tàn
Thì sao có cảnh huy hoàng ngày xuân”

A Phủ” là một minh chứng về sức mạnh vượt qua những ranh giới của con
người.
Từ một cô gái xinh đẹp, thổi sáo hay nức tiếng khắp nơi, bị bắt về “cúng trình
ma” nhà A Sử, sau khi muốn tự tử mà không được vì thương bố, Mị phải chấp
nhận làm dâu - làm con trâu, con ngựa cho nhà thống lý Pá Tra. Bị hành hạ, đối
xử tàn tệ, tưởng như Mị đã mất hết sức sống, mất hết ý chí mà trở thành cái xác
vô hồn. Nhưng không, trong con người Mị vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt
không gì dập tắt nổi. Đó là ngày xuân muộn ở Hồng Ngài, Mị đòi đi chơi xuân (dù
sau đó bị A Sử bắt trói vào cột nhà) Đó là ngày tết Mị lén lấy rượu uống từng
ngụm lớn. Và tiêu biểu nhất, đỉnh cao của tác phẩm là khi cô cắt dây trói cho A
Phủ và xin đi theo. Đó chính là hành động giải thoát cho người khác và cho chính
bản thân mình. Tưởng chừng như, sau biết bao hy sinh đau khổ, sư sống, khát
khao hạnh phúc trong cô đã bị dập tắt. Nhưng không, nó vẫn cháy âm ỉ thành
một sức mạnh giúp cô vượt qua cái ranh giới ấy mà tìm tới hạnh phúc, tìm lại sự
sống (và quả thật, tới Phiềng Sa, tìm được ánh sáng của cách mạng Mị và A Phủ
đã có cuộc sống đúng nghĩa). Một con người như Mị, tưởng như bị đẩy tới “bước
đường cùng” nhưng vẫn đủ sức mạnh để vượt qua. Đó chính là minh chứng: trên
đời này không có bước đường cùng mà đó chỉ là ranh giới mà chúng ta phải
vượt qua mà thôi. Vậy tại sao, con người lại không đủ dũng khí để tiến bước !
Hay như nhân vật Đào của “Mùa lạc”, cảnh ngộ ấy, cuộc đời ấy như bị đẩy tới
tột cùng của đau khổ. Có lúc, Đào mặc cảm không dám đón nhận và chiến đấu vì
hạnh phúc. Vậy mà sau đó cô cũng nhận thức được, cũng khao khát được hạnh
phúc, đón nhận nó. Và cuối cùng, hạnh phúc đã đến với cô, một gia đình hạnh
phúc với người yêu cô trên cái nông trường Điện Biên thân yêu. Đó chính là ranh
giới và sự vượt qua ranh giới.
Trên đời này không có con đường cùng mà chỉ có những ranh giới. Vâng, và
vì thế, đứng trước những ranh giới đó con người phải biết chiến đấu, phải có sức
mạnh để vượt qua. Đó chính là điều cốt yếu ! Là con người, hạnh phúc và sự
sống không thể chờ đợi ai mang đến cho mình mà phải chiến đấu mà giành lấy
và gìn giữ nó. Đứng trước những ranh giới ấy, bản lĩnh con người mới được bộc

Khải đưa vào “Mùa lạc” mà phát triển, bổ sung thành một triết lý mới.
Theo Tập san Sở GD&ĐT Thừa Thiên Huế
Bài văn đạt điểm cao trong kỳ thi HS giỏi 12 Tỉnh T.T.Huế, năm học 20072008
Trong kỳ thi chọn Học sinh giỏi Tỉnh lớp 12, năm học 2007-2008, em
Trần Thị Hoài Diễm có bài làm đạt 16/20 điểm, xếp thứ Nhất (đồng hạng)
trong tổng số 125 học sinh dự thi.
BBT chọn đăng một phần bài làm của em; đây là câu đạt điểm xuất sắc
5,75/6 điểm, xin giới thiệu để quý thầy cô và các em tham
khảo.
Câu 2: (6 điểm)
Bình giảng đoạn văn sau trích trong truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam
Cao:“Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu
hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng
chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng
Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên
tiếng cả. Tức thật ! Ờ ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất ! Đã thế, hắn
phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều.
Mẹ kiếp! Thế có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết
mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy hắn cứ
thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí
Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo. Nhưng mà biết
đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo ? Có mà trời biết ! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại
cũng không ai biết…
(Sách Văn học 11 - Tập 1, NXB Giáo dục,
2000, trang 215-216)


Bài làm:
“Nền đất ẩm, chiếu manh, trang giấy trắng
Anh khai sinh bao nhân vật cho đời

người, dù chỉ là người dưới đáy xã hội. Chí hoàn toàn đơn độc, tự hỏi và cũng tự
trả lời, tự đối thoại với chính mình. Chí cố kêu thật to để khắc khoải tìm một lời
giao tiếp, tìm một ai đó công nhận Chí là người. Nhưng không, tất cả đều dửng
dưng lạnh nhạt, một sự tàn nhẫn lạnh lùng. Những câu hỏi được đặt ra “Có hề
gì? Trời có của riêng nhà nào?”. “Thế có phí rượu không?...” mà câu trả lời hình
như còn dang dở, không sao hiểu được. Những câu văn dửng dưng ấy ẩn chứa
sau đó là biết bao lòng thương cảm, một tình cảm đôn hậu của nhà văn, cái chất
tình ấy như nén sâu bởi những ngôn từ có vẻ tàn nhẫn “hắn”, “Mẹ kiếp...” thế
nhưng vẫn lấp lánh đâu đó một cái nhìn trìu mến, cảm thông của nhà văn.
Nam Cao đã rất tinh tế khi đi sâu khai thác tâm lí của Chí Phèo, một diễn
biến tâm lí phức tạp với những câu văn đa thanh, phức điệu như “Tức thật! Ờ thế


này thì tức thật ! Tức chết đi được…” Có thể là lời của nhân vật tự độc thoại nội
tâm nhưng đó cũng có thể là lời của nhà văn Nam Cao nhận xét. Ngôn ngữ rất
đời thường giản dị nhưng có tính biểu cảm cao, thể hiện một ngòi bút chắc tay
điêu luyện. Những câu văn dài ngắn kết hợp với những câu cảm thán tạo nên
một không khí truyện sôi nổi có lúc lên đến cao trào thể hiện một khả năng dẫn
truyện, dựng truyện độc đáo. Chỉ với một đoạn văn ngắn nhưng Nam Cao đã hết
sức thành công khi xây dựng được chân dung chí Phèo, một con quỷ dữ ngất
ngưỡng trên con đường tha hóa, mất hết nhân hình và nhân dạng, muốn níu kéo
một tiếng vọng của cuộc đời qua tiếng chửi. Thế nhưng lòng người dân trong
làng không rộng mở để đón Chí, đáp lại tiếng chửi kia là một sự im lặng lạ kì, một
sự im bặt tưởng chừng như không thể nín lặng trong hoàn cảnh ấy. Vậy nhưng
cuộc đời yên lặng, lòng người lạnh lùng để lại một Chí Phèo với một khoảng
không gian cô độc và sự cô đơn tuyệt đối, một con quỷ dữ “mồ côi” thiếu tình
thương từ nhỏ và lớn lên không được làm người. Với ngòi bút đặc sắc và sự am
hiểu tâm lí sâu sắc, nhà văn đã thật sự đem lại cho thi đàn văn học Việt Nam một
đoạn văn độc đáo thể hiện tài năng và cá tính sáng tạo của mình…
Sẽ không thể nào quên một “Chí Phèo” và tiếng chửi đau đớn, quặn thắt. Sẽ

chưa? Với mọi người câu trả lời ấy có thể là ông bà, là mẹ, là anh chị hoặc cũng có thể
là bạn bè chẳng hạn. Còn riêng tôi, hình ảnh người bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng
liêng, sưởi ấm tâm hồn tôi mãi tận sau này.
Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời bố có lẽ
không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ. Bốn mươi tuổi khi chưa đi được
nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên đó chỉ là
những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng. Trước đây, khi
còn khỏe mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ.
Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh tay
cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt sâu dưới
hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương
gió. Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một
người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình.
Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền
bố mẹ kiếm được hàng ngày. Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu đầu hàng
số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng mọi người
trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề xe lai.
Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngã bóng từ lâu.
Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương sớm. Công việc ấy rất dễ dàng với những người
bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Bây giờ có những lúc phải chở
khách đi đường xa, đường sốc thì những cơn đau dạ dạy của bố lại tái phát.
Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38-48 độ
C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa đông
lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua đường. Tôi
luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu đức hy sinh,
chịu thương, chịu khó như vậy.
Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về những
cơn đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những cơn đau vật
vã mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên mà khóc. Nhìn thấy bố như vậy, lòng tôi
như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang những cơn đau đó

về những chiếc lồng chim đẹp nữa. Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trời chung sống
với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng
nghĩa với việc trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với tử thầnnnn, bố luôn dành thời gian
để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn.
Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đau khổ, khi mà cả gia đình đã dần khá lên, khi
các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình này để ra đi
về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp lại. Giờ đây khi
tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân của mình, bởi bố đi xa, sẽ
không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa.
Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ con ở
lại mà đi hả bố? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học nữa, đó
chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang có, hãy yêu
thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan tâm, chăm sóc cho bố
của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình bởi bố luôn là người yêu
thương nhất của chúng ta.
Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát khỏi
cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy của bố, sẽ
luôn thương yêu, kính trọng biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố đã rọi đường
cho con đi. Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỷ niệm, những tình
cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng, nó như chính linh hồn của mình.
NGUYỄN THỊ HẬU
(Lớp 10A2, Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, TP Vinh, Nghệ An
Lời phê của cô giáo Phan Thị Thanh Vân:
>>>Em là một người con ngoan, bài viết của em đã làm cho cô rất xúc động.
Điều đáng quý nhất của em là tình cảm chân thực và em có một trái tim nhân hậu, em đã
cho cô một bài học làm người.
Mong rằng đây không chỉ là trang văn mà còn là sự hành xử của em trong cuộc đời.


Bài văn hay lớp 10 trường THPT Nguyễn Trãi, huyện An Dương, thành phố

ông được thả ra nhưng không còn được tin dùng như trước. Thời thế ép buộc
con người tận trung với nước, tận hiếu với dân phải từ bỏ chốn quan trường về ở
ẩn tại Côn Sơn. Năm 1442, Nguyễn Trãi trở về giúp vua Lê Thánh Tông việc
nước thì an oán Lệ Chi Viên đổ ập xuống gia đình ông. Bọn gian thần vu cho ông
giết vua, khép tội "tru di tam tộc". Cuộc đời đã đóng sập trước mắt con người tài
hoa bạc mệnh như một sự thật phũ phàng đến nao lòng, là nỗi xót thương nghẹn
ngào của bao con dân khổ cực dưới ách cùm trói thiếu đi một cánh tay che chở,
bảo vệ trước dông tố cuộc đời.


Sinh ra từ cát bụi rồi lại trở về với cát bụi hư vô. Cuộc đời và sự nghiệp
của Nguyễn Trãi tưởng đã bị cuốn phăng khỏi guồng quay của thời gian, chuyến
hành trình dài của lịch sử nhưng chính bởi hồn thơ văn chất chứa đã khẳng định
tên tuổi, tạc linh hồn vô hình lên vóc dáng dân tộc, để lại cho đời những tiếng thơ
bất hủ, vang dội mà cũng không kém phần lắng đọng, tinh tế, bình dị như chính
những rung động nhẹ nhàng trong trái tim Nguyễn Trãi:
"Nhắc đến tên ông là thấy thơ
Như một nguồn thiêng chẳng bến bờ".
(Tế Hanh)
Nguyễn Trãi - nhà văn chính luận kiệt xuất mọi thời đại. Ông coi thơ là nơi
gửi gắm, truyền đạt con mắt sự đời tinh tế để công phá quân giặc; là miền đất
mơ ước mà ở đó tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân thấm nhuần vào
hành động, xuyên suốt, chủ đạo như nguồn năng lượng hội tụ phát sáng kì diệu:
"Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược
Có nhân, có trí, có anh hùng"
(Quốc âm thi tập)
Trong thơ Nguyễn Trãi, hai tiếng "trung hiếu" và "ưu ái" như một lời
nguyền vang vọng, trường tồn với năm tháng: Yêu nước, thương dân - danh là
danh tổ quốc - lợi là lợi tổ quốc. Sống để cống hiến, suốt đời quên mình vì dân vì
nước, vì tư tưởng "nhân nghĩa". Rạo rực, hùng hồn, sắc bén, đây "Quân trung từ

Nguyễn Trãi vốn là con người trung thực, ngay thẳng, yêu lẽ phải và sự
công bằng nên nỗi đau xót, buồn rầu, chua chát về thời thế đen bạc, lòng người
đổi thay là điều hiển nhiên:
“ …. Càng một ngày càng ngặt đến xương
…. Ở thế nhiều phen thấy khóc cười
…. Bui một lòng người cực hiểm thay”.
Xã hội càng ngang trái, người anh hùng ấy lại càng ngời sáng phẩm chất
cứng cỏi, khát khao tự do, thà chết chứ không chịu làm nô lệ của cường quyền
bạo ngược:
“Một tấm long son ngời lửa luyện



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status