TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=======***=======
VŨ THỊ HƢỜNG
BIỂU TƢỢNG SÓNG ĐÔI
TRONG CA DAO TÌNH YÊU NGƢỜI VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học dân gian
HÀ NỘI, 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=======***=======
VŨ THỊ HƢỜNG
BIỂU TƢỢNG SÓNG ĐÔI
TRONG CA DAO TÌNH YÊU NGƢỜI VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Thị Ngọc Lan
HÀ NỘI, 2015
Vũ Thị Hƣờng
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 2
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu .............................................................. 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................ 2
5. Lịch sử vấn đề ........................................................................................ 3
6. Đóng góp của khóa luận ......................................................................... 7
7. Cấu trúc khóa luận .................................................................................. 7
PHẦN NỘI DUNG .....................................................................................................8
Chƣơng 1. GIỚI THUYẾT VỀ BIỂU TƢỢNG VÀ BIỂU TƢỢNG SÓNG ĐÔI
TRONG CA DAO TÌNH YÊU NGƢỜI VIỆT.........................................................8
1.1. Khái niệm biểu tƣợng và biểu tƣợng sóng đôi...................................... 8
1.1.1. Khái niệm biểu tượng.................................................................... 8
1.1.2. Khái niệm biểu tượng sóng đôi ................................................... 10
1.2. Sự hình thành biểu tƣợng sóng đôi..................................................... 12
1.2.1. Từ những lớp tín ngưỡng, phong tục ........................................... 12
1.2.2. Từ hiện thực đời sống sinh hoạt .................................................. 15
1.2.3. Từ những lớp điển tích, điển cố văn chương bác học ............... 19
1.3. Khảo sát, phân loại biểu tƣợng sóng đôi ............................................ 21
1.3.1. Khảo sát tư liệu........................................................................... 21
1.3.2. Phân loại biểu tượng .................................................................. 22
Chƣơng 2. PHƢƠNG THỨC CẤU TẠO VÀ XÂY DỰNG HÌNH ẢNH CỦA
BIỂU TƢỢNG SÓNG ĐÔI TRONG CA DAO TÌNH YÊU NGƢỜI VIỆT...... 25
2.1. Phƣơng thức cấu tạo ............................................................................ 25
2.1.1. Biểu tượng sóng đôi tương đồng ................................................. 25
chọn đề tài Biểu tượng sóng đôi trong ca dao tình yêu người Việt, chúng tôi
mong muốn khám phá những biểu hiện đặc sắc của biểu tƣợng sóng đôi ở cả
hình thức và nội dung biểu đạt tƣ tƣởng tình cảm của nó.
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, cho đến nay có khá nhiều công trình
nghiên cứu về ca dao tình yêu, song chƣa có công trình nào nghiên cứu một
cách có hệ thống về biểu tƣợng sóng đôi trong ca dao tình yêu. Có chăng chỉ
là bài viết mang tính chất giới thiệu, những nội dung khái quát sơ bộ, tản mạn,
lẻ tẻ, hoặc tiếp cận tác phẩm nhƣ một ví dụ để minh họa cho một luận điểm
nào đó… Vì thế, có thể khẳng định việc nghiên cứu ca dao tình yêu ngƣời
1
Việt từ góc độ biểu tƣợng, đặc biệt là biểu tƣợng sóng đôi vẫn còn có thể đào
sâu và mở rộng kỹ lƣỡng hơn nữa.
Bên cạnh đó, tiếp cận và khai thác đề tài này còn có ý nghĩa thực tiễn,
giúp ngƣời viết – một sinh viên chuyên ngành văn học, nâng cao năng lực
cảm thụ, phân tích văn chƣơng trong quá trình học tập và nghiên cứu sau này.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu biểu tƣợng sóng đôi trong ca dao tình yêu ngƣời Việt nhằm
phát hiện những dấu hiệu mang tính đặc thù trong việc cấu tạo, xây dựng hình
ảnh, chỉ ra chức năng của biểu tƣợng trên một số phƣơng diện cụ thể. Từ đó
thấy đƣợc những nét nghĩa biểu đạt của biểu tƣợng sóng đôi trong việc phô
diễn đời sống tâm hồn phong phú của nhân vật trữ tình.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tƣợng: Biểu tƣợng sóng đôi trong ca dao tình yêu ngƣời Việt. Đó
là những biểu tƣợng luôn xuất hiện thành cặp, mang ý nghĩa biểu trƣng cho
các cấp độ, các sắc thái tình cảm của nhân vật trữ tình trong quan hệ tình yêu.
+ Phạm vi:
- Tƣ liệu: Trong ca dao tình yêu ngƣời Việt, biểu tƣợng đƣợc sử dụng
hiểu nguồn gốc, phân loại miêu tả, cấu tạo và chức năng của biểu tƣợng
nghệ thuật trong ca dao.
5.2. Một số công trình, bài viết đề cập tới biểu tượng sóng đôi trong ca
dao người Việt
Năm 2000, Trong Tạp chí văn học dân gian số 4, Nguyễn Phƣơng
Châm đã nói nhiều đến cặp biểu tƣợng sen- hồ, tƣợng trƣng cho đôi bạn tình
gắn bó keo sơn bằng bài viết: Biểu tượng hoa sen trong văn hóa Việt Nam.
Năm 2001, bài viết Biểu tượng hoa đào đƣợc đăng trong Tạp chí văn hóa
dân gian số 5, Nguyễn Phƣơng Châm chỉ ra hoa đào gắn với tình yêu đôi lứa,
gắn với chuyện nhân duyên. Nó đƣợc ca dao sử dụng nhiều theo từng cặp, cặp
biểu tƣợng thƣờng gặp nhất là mận - đào, thể hiện sự nhớ nhung, trách móc,
hờn dỗi trong tình yêu. Đó còn là cặp biểu tƣợng liễu - đào thể hiện tình son
5
sắt, gắn bó mật thiết với nhau của đôi bạn tình. Hay cặp lựu- đào luôn biểu
tƣợng cho sự cách trở trong tình duyên.
Hai công trình trực tiếp đề cập tới biểu tƣợng sóng đôi trong ca dao Việt
Nam là:
Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Thế giới biểu tượng sóng đôi trong ca dao
người Việt, 2001.
Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền
thống người Việt, 2002.
Trong hai công trình này, Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã đi sâu phân loại,
tìm hiểu nguồn gốc, chức năng của từng cặp biểu tƣợng. Tác giả nhận định:
“Đến với kho tàng ca dao người Việt, có lẽ khó ai quên được những hình ảnh
của mận – đào, bướm – hoa, trúc – mai, thuyền – bến… Chúng xuất hiện với
tần số cao trong các bài ca dân gian, mang những giá trị thẩm mĩ nhất định,
tạo nên một lối nói riêng cho thể loại trữ tình này. Các nhà nghiên cứu gọi đó
Chƣơng 1. Giới thuyết về biểu tƣợng sóng đôi trong ca dao tình yêu
ngƣời Việt
Chƣơng 2. Phƣơng thức cấu tạo và xây dựng hình ảnh của biểu tƣợng
sóng đôi trong ca dao tình yêu ngƣời Việt
Chƣơng 3. Chức năng của biểu tƣợng sóng đôi trong ca dao tình yêu
ngƣời Việt
7
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
GIỚI THUYẾT VỀ BIỂU TƢỢNG VÀ BIỂU TƢỢNG SÓNG ĐÔI
TRONG CA DAO TÌNH YÊU NGƢỜI VIỆT
1.1. Khái niệm biểu tƣợng và biểu tƣợng sóng đôi
1.1.1. Khái niệm biểu tượng
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học [15], khái niệm biểu tƣợng đƣợc
giới thuyết nhƣ sau:
"Trong triết học và tâm lí học, biểu tượng là khái niệm chỉ một giai
đoạn, một hình thức nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự
vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta
chấm dứt.
Biểu tượng như là thuật ngữ của mĩ học, lí luận văn học và ngôn ngữ
học còn được gọi là tượng trưng, nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp... Bằng hình
tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng.
Cho nên, trong nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng
hình tượng của văn học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một
phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật
đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
[16, 2029]
Biểu tƣợng sóng đôi còn đƣợc gọi là biểu tƣợng đôi, biểu tƣợng cặp đôi
là biểu tƣợng đƣợc tạo thành bởi hai sự vật, hai hình ảnh đi song song với
nhau, liên kết bền vững trong nhiều bài ca dao. Đến với kho tàng ca dao
ngƣời Việt, có lẽ khó ai quên đƣợc những hình ảnh sóng đôi nhƣ: Cá - nước,
loan - phượng, dâu - tằm, bèo - sen, trầu - cau, trăng - sao, rồng - mưa, ong -
10
bướm, thuyền - bến, cây đa - bến cũ - con đò, củi - trầm,... Chúng mang
những giá trị thẩm mĩ nhất định, tạo nên lối nói riêng cho thể loại trữ tình này:
Bấy lâu còn lạ chưa quen
Hỏi hồ đã có hoa sen chưa hồ
Hồ còn leo lẻo nước trong
Bấy lâu chỉ dốc một lòng đợi sen.
[16, 260]
Những biểu tƣợng sóng đôi này chủ yếu xuất hiện trong ca dao tình yêu
với nhiều màu sắc, nhiều vẻ, nhiều dáng điệu. Đó có thể là những biểu tƣợng
truyền thống đƣợc sử dụng rất tình tứ, biểu trƣng cho những nhân vật khác
nhau trong tình yêu nam nữ: cúc - khuy, bút - nghiên, Kim Trọng - Thúy Kiều,
dâu - tằm…
Đôi ta như cúc với khuy
Như kim với chỉ may đi cho rồi.
[16, 862]
Ở biểu tƣợng sóng đôi, các biểu tƣợng thành tố tác động lẫn nhau, bổ
sung ý nghĩa cho nhau. Nhiều biểu tƣợng đôi mang ý nghĩa là những liên kết
vĩnh viễn và duy nhất: Kim - chỉ, khóa - chìa, gương - thủy, phượng - ngô
đồng, …Đó còn là những biểu tƣợng bình dị, mộc mạc gắn liền với cuộc sống
văn hóa nhƣ lễ hội, hiếu, hỉ,… không thể thiếu miếng trầu. Nó chính là khởi
nguồn của mọi khởi nguồn. Đặc biệt, biểu tƣợng này còn đƣợc phản ánh sinh
động trong truyện cổ Sự tích trầu cau - một câu chuyện nói về tình nghĩa thủy
chung, son sắt và khát vọng hạnh phúc lứa đôi của con ngƣời. Trong ca dao,
biểu tƣợng trầu – cau xuất hiện khá thƣờng xuyên:
Bây giờ trầu lại gặp cau
Cũng mong tu ở với nhau một nhà
Bây giờ bướm lại gặp hoa
Xin đừng trở ngại gần xa mọi đường.
[16, 259]
12
Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng
Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?
- Trầu vàng nhá lẫn cau xanh
Duyên em sánh với tình anh tuyệt với.
[16, 330]
Ăn trầu chọn lấy cau khô
Trèo lên Ba Dội chọn cô bán hàng
Cô bán hàng lòng cô buồn bã
Bóng xế chiều bóng ngả về tây
Đợi cô ba bảy hai mốt năm nay.
[16, 192]
Tiếp đó biểu tƣợng rồng - mây, rồng - mưa, loan - phượng, rồng phượng cũng gắn với tín ngƣỡng phong tục của ngƣời xƣa nhƣ tín ngƣỡng thờ
cúng vật tổ, tục xăm mình... Đây là những con vật quý đƣợc gọi là Tứ linh,
bao gồm long - ly - quy - phượng. Nó là biểu tƣợng cho sự tốt đẹp, may mắn,
thịnh vƣợng trong đời sống tinh thần của ngƣời Việt.
Trong bài Rồng trong quan niệm phương Đông và phương Tây tác giả có
Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây
Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng than thở với mây vài lời
Nữa mai rồng ngược mây xuôi
Biết bao giờ lại nối lời rồng mây.
[26, 236]
Biểu tƣợng cây đa - bến cũ - con đò gắn với tục thờ Thành Hoàng, thờ
thần cây (Thần cây đa, ma cây gạo), gắn với thực tế cây đa cổ thụ là chứng
nhân của biết bao kỉ niệm đối với mỗi ngƣời nơi làng quê. Cây đa, bến đò là
14
tín hiệu nghệ thuật, là biểu tƣợng nghệ thuật gắn liền với quê hƣơng đất nƣớc
từ xƣa đến nay. Cây đa vừa có ý nghĩa thực tiễn, vừa có ý nghĩa xã hội và tâm
linh cho nên nó là niềm hãnh diện của xóm làng: sợ ông thần phải sợ cây đa.
Còn bến nƣớc ( khi gắn với con đò thành bến đò), là cửa ngõ giao lƣu của
cộng đồng làng xóm với xã hội bên ngoài.
Xa hơn thế, cây đa, bến đò còn là biểu tƣợng cho tình yêu của các chàng
trai và cô gái. Đây chính là nơi chờ đợi, hẹn hò của lứa đôi trong những đêm
trăng thơ mộng. Cây đa trƣờng tồn cùng thời gian và là biểu tƣợng cho tình
yêu chung thủy, không đổi thay. Chẳng thế mà ca dao Việt Nam nói chung và
ca dao tình yêu nói riêng đã sử dụng không ít biểu tƣợng này trong sáng tác
của mình.
Cây đa bến cũ năm xưa
Chữ tình ta cũng đón đưa trọn đời.
[16, 382]
Cây đa là cây đa bến cũ, bến cũ là bến cũ đò xưa
Ôi thôi rồi người khác sang đưa
Thiếp nhìn chàng lưng léo, nước sa xuống như mưa hỡi chàng.
Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ lìa xa vườn hồng
Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chất chứa sầu đong vơi đầy.
[16, 63]
Ai làm cho chỉ lìa kim
Cho thuyền dạt sóng cho em phong trần.
[16, 64]
16
Biểu tƣợng trúc - mai có tần xuất xuất hiện khá lớn trong ca dao tình yêu
Việt Nam. Hai biểu tƣợng sử dụng xoắn xít với nhau thể hiện tình cảm đôi lứa
thắm thiết:
Đêm qua nguyệt lặn về tây
Sự tình kẻ đấy, người đây còn dài
Trúc với mai, mai về, trúc nhớ
Trúc trở về, mai nhớ trúc không?
Bây giờ kẻ Bắc người Đông
Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư.
[16, 799]
Ai đi đâu đấy hỡi ai
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm
Tìm em như thể tìm chim
Chim ăn bể Bắc, đi tìm bể Đông.
[16, 59]
Biểu tƣợng trúc - mai gắn bó, khăng khít với nhau trong ca dao tình yêu
đã diễn đạt đƣợc nhiều cung bậc tình cảm, nhiều cảnh ngộ tình duyên. Nó
đƣợc ví nhƣ lời nhắn nhủ, hi vọng:
nhiên trong vũ trụ: gió - mây, trăng - sao, sao hôm - sao mai, trăng - mây,
mây - mưa, trăng - cuội, non - nước…
Gió đưa trăng, trăng thanh vằng vặc
Trăng đưa gió, gió mát hiu hiu
Ngày rày anh được chỗ tân yêu
Nghĩa nhơn bồi trước em kêu thấu trời
Cha mẹ sao chẳng nghĩ sâu
Để thương để nhớ để sầu cả hai.
[16, 1058]
18
Những sự vật tƣởng nhƣ chỉ gần gũi, quen thuộc, gắn bó với nhau trong
quá trình lao động của ngƣời dân đã đƣợc nhân dân ta vận dụng một cách
linh hoạt và sáng tạo vào trong các sáng tác của mình. Nó chứa đựng những
ƣớc mơ, hoài bão, những tình cảm lớn lao, mộc mạc thôi nhƣng chan chứa
tình ngƣời.
1.2.3. Từ những lớp điển tích, điển cố văn chương bác học
Một số nhân vật trong tác phẩm văn học viết Việt Nam có sức phổ biến
sâu sắc trong quần chúng đã trở thành biểu tƣợng cho những con ngƣời,
những cảnh đời. Ví nhƣ tuyệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng đã đƣợc
nhân dân ta vận dụng và thể hiện tình yêu nam nữ trong cuộc sống:
Sen xa hồ, sen khô tàn tạ
Lựu xa bồn, lựu ngả cành nghiêng
Anh xa em ngày tháng đeo phiền
Cũng thể như Thúy Kiều xa Kim Trọng mười lăm niên đoạn trường.
[16, 1833]
Hay nhân vật Lƣu Bình - Dƣơng Lễ trong truyện thơ Nôm Lƣu Bình Dƣơng Lễ đã đi vào trong những câu ca tình yêu đôi lứa:
[16, 465]
Câu ca dao liên quan đến hai tích truyện trong văn học xƣa. Lƣu Linh
còn gọi là Tự Bá Luân, ngƣời đời Tấn trong nhóm Trúc lâm thất hiền (7
ngƣời hiền trong rừng trúc). Tính tình phóng khoáng, thích uống rƣợu và
uống không biết say, có làm bài Tửu đức tụng ca ngợi việc uống rƣợu. Bá
Nha (Sở Bá Nha) ngƣời nƣớc Tấn, làm quan Thƣợng Đại Phu. Là ngƣời tinh
thông, am hiểu, say mê về đàn nhạc hay chơi bản Cao Sơn Thủy. Nhân dân
bằng tài năng của mình đã lấy hai tích truyện để diễn tả cung bậc nhớ thƣơng
say đắm của chàng trai dành cho cô gái mình yêu thƣơng.
20