Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã – Lý luận và thực tiễn
```
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
-----
-----
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT KHÓA 37
NIÊN KHÓA 2011-2015
Đề Tài:
HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Th.s Nguyễn Thị Thanh Xuân
Trần Thị Thúy Oanh
MSSV: 5115743
Lớp: Luật Tư pháp khóa 37
Cần Thơ, tháng 11 năm 2014
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
.........................................................................................................................
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
SVTH: Trần Thị Thúy Oanh
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã – Lý luận và thực tiễn
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
1.3.1. Hoà giải phải tuân theo pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội, phong
tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân ..................................................................... 9
1.3.2. Hoà giải phải khách quan, tôn trọng sự tự nguyện của các bên ............. 10
1.3.3. Hoà giải phải kịp thời, chủ động, kiên trì ................................................ 10
1.4. Vai trò hòa giải tranh chấp đất đai............................................................... 10
1.4.1. Vai trò hòa giải tranh chấp đất đai đối với các bên tranh chấp ............... 10
1.4.2. Vai trò hòa giải tranh chấp đất đai đối với xã hội ................................... 11
1.5. Lược sử quy định hòa giải tranh chấp đất đai giai đoạn Luật Đất đai năm
1987 đến nay ......................................................................................................... 11
1.5.1. Giai đoạn Luật Đất đai năm 1987 ............................................................ 11
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
SVTH: Trần Thị Thúy Oanh
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã – Lý luận và thực tiễn
1.5.2. Giai đoạn từ Luật Đất đai năm 1993 ....................................................... 12
1.5.3. Giai đoạn Luật Đất đai năm 2003 ............................................................ 13
1.5.4. Giai đoạn Luật Đất đai năm 2013 đến nay .............................................. 14
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ .................................................................... 15
2.1. Thành phần tham dự hòa giải tranh chấp đất đai ....................................... 15
2.1.1. Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai ...................................................... 15
2.1.2. Các bên tranh chấp đất đai và người có quyền và nghĩa vụ liên quan .... 17
2.2. Thẩm quyền và Phạm vi hòa giải tranh chấp đất đai .................................. 19
2.2.1. Thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai ................................................. 19
2.2.2. Phạm vi hòa giải tranh chấp đất đai ........................................................ 20
2.3. Điều kiện mở phiên tòa hòa giải ................................................................... 20
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
SVTH: Trần Thị Thúy Oanh
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã – Lý luận và thực tiễn
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên, tài sản quan trọng của quốc gia. Trong mỗi một giai
đoạn lịch sử, trước yêu cầu bảo vệ và phát triển của đất nước, chủ trương, chính sách
về đất đai của Đảng và Nhà nước ta liên tục được đổi mới. Nguồn tài nguyên đất đai
dần trở thành nguồn lực, nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây tình hình tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng về số
lượng và phức tạp về tính chất. Đồng thời, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị
xã hội. Do đó, Giải quyết tranh chấp đất đai trở thành một vấn đề cấp thiết. Luật Đất
đai năm 2013 quy định các tranh chấp đất đai sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng ở
Tòa án hoặc theo thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Nhưng
trước hết tranh chấp đất đai bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp
xã. Đây là một khâu hết sức quan trọng, là một bước đệm cho quá trình giải quyết
tranh chấp đất đai tại Tòa án và Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Hoạt động hòa
giải tại Ủy ban nhân cấp xã là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý nhà
nước về đất đai ở địa phương, nó đóng vai trò củng cố mối quan hệ trong cộng đồng
dân cư, góp phần xây dựng tình làng, nghĩa xóm, tăng cường tình đoàn kết trong nhân
dân. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động hòa giải còn mang tính hình thức và còn nhiều
bất cập, chưa giải quyết triệt để những mâu thuẫn phát sinh. Do đó, việc nghiên cứu
các quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng về hòa giải tranh chấp đất đai tại
Ủy ban nhân dân cấp xã trong những năm gần đây, trên cơ sở đó đề xuất những kiến
nghị nhằm sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về đất đai nhằm nâng cao hiệu quả
công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã, góp phần giải quyết
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hòa giải tranh chấp đất đai: trong chương này người
viết tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về hòa giải tranh chấp đất đai như
khái niệm, phân loại đặc điểm, vai trò và lược sử phát triển quy định hòa giải từ Luật
Đất đai năm 1987 đến nay.
Chương 2: Quy định hiện hành về hòa giải tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp
xã: người viết phân tích, so sánh đánh giá những điểm mới, điểm tiến bộ, và hạn chế
trong quy định pháp luật hiện hành về hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân
cấp xã.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật hòa giải tranh chấp đất
đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã: người viết tổng hợp thực trạng hòa giải tranh chấp đất
đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã, từ đó đưa ra những phương hướng hoàn thiện quy định
hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
2
SVTH: Trần Thị Thúy Oanh
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã – Lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
1.1. Một số khái niệm có liên quan
1.1.1. Khái niệm hòa giải
Ở góc độ quốc tế, biện pháp hòa giải có ý nghĩa rất lớn, nó làm cho những tranh
chấp, xung đột, mâu thuẫn, xích mích được dập tắt họăc không vượt qua giới hạn sự
3
SVTH: Trần Thị Thúy Oanh
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã – Lý luận và thực tiễn
1.1.2. Khái niệm tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai là một thuật ngữ, một khái niệm đã trở lên rất phổ biến trong
đời sống xã hội. Thuật ngữ này không chỉ xuất hiện trong các văn bản pháp luật mà
còn xuất hiện thường ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong đời sống
nhân dân. Trải qua nhiều giai đoạn với những chính sách đất đai khác nhau, cho dù đất
đai được coi là một tài sản có giá, quyền sử dụng đất có được coi là tài sản đặc biệc
hay không, hiện tượng tranh chấp đất đai đều được pháp luật chính thức ghi nhận và
giải quyết. Tuy nhiên, cho đến khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời khái niệm tranh chấp
đất đai chưa có một lần được giải thích chính thức mà được hiểu ngầm qua các quy
định của Pháp luật. Luật Đất đai năm 2013 ra đời vẫn giữ nguyên quy định giải thích
khái niệm về tranh chấp đất đai trong Luật đất đai năm 2003. Theo khoản 24 Điều 3
Luật Đất đai năm 2013 thì: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ
của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Như vậy, có
thể hiểu đối tượng của tranh chấp đất đai là các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất. Tức là trong quá trình quản lý và sử dụng đất, người sử dụng đất sử dụng các
quyền và nghĩa vụ của mình làm phát sinh tranh chấp với người khác. Còn chủ thể của
tranh chấp đất đai là người sử dụng đất.
Phân loại tranh chấp đất đai
Dựa trên khái niệm tranh chấp đất đai tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm
2013 và quy định tại Điều 166, Điều 167 về quyền và nghĩa vụ trung của người sử
dụng đất tranh chấp đất đai có thể được chia làm hai loại lớn: Một là tranh chấp quyền
sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với, đất đó là các tranh chấp mà trong đó cần xác
tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên không xác định
được với nhau về ranh giới, một số trường hợp chiếm luôn diện tích đất của người
khác….
- Dạng tranh chấp đất đai trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của người
sử dụng đất: Dạng tranh chấp này thông thường thì người sử dụng đất là hợp pháp,
không tranh chấp. Tuy nhiên, khi sử dụng quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của mình
như thực hiện các giao dịch về dân sự dẫn đến tranh chấp. Có các dạng sau: Tranh
chấp hợp đồng chuyển đổi, hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng cho thuê, cho thuê lại
quyền sử dụng đất, thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất;
1.1.3. Khái niệm hòa giải tranh chấp đất đai
Hoà giải tranh chấp đất đai là một thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản
Pháp luật Đất đai. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại không được giải thích cụ thể trong Luật
Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Căn cứ vào đặc trưng của hoà giải và khái niệm tranh chấp đất đai chúng ta có
thể đưa ra khái niệm về hoà giải tranh chấp đất đai như sau: “Hoà giải tranh chấp đất
đai là việc các bên tranh chấp dàn xếp thương lượng để làm chấm dứt các tranh chấp
đất đai với sự giúp đỡ của bên trung gian”.
1.2. Phân loại hòa giải tranh chấp đất đai
Hòa giải tranh chấp đất đai bao gồm: hòa giải tranh chấp đất đai tại Tòa án (hòa giải
trong tố tụng), tự hòa giải tranh chấp đất đai, hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở và hòa
giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
1.2.1. Hòa giải tranh chấp đất đai tại Tòa án
Hoà giải được tiến hành ở Tòa án nhân dân, theo đó Tòa án nhân dân trong quá
trình tiến thành tố tụng phải thực hiện nguyên tắc hoà giải. Bộ luật tố tụng dân sự năm
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
5
SVTH: Trần Thị Thúy Oanh
nơi có đất tranh chấp để hòa giải”. Như vậy, trong trường hợp tranh chấp không hòa
giải được thì các bên tranh chấp gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh
chấp đề nghị hòa giải. Trong quá trình hoà giải tranh chấp đất đai do Uỷ ban nhân dân
cấp xã thực hiện, hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai do Uỷ ban nhân dân xã, phường,
thị trấn thành lập gồm chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn là Chủ tịch Hội đồng; Đại diện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã phường, thị
trấn; Tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, bản đối với khu vực
nông thôn; Đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ
về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; Cán bộ địa chính, cán bộ tư
pháp xã, phường, thị trấn. Họ có vai trò tích cực trong việc đưa ra ý kiến tư vấn góp
phần vào thành công của buổi hoà giải. Khác với hai hình thức hòa giải tại khoản 1
Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 là tự hòa giải và hòa giải ở cơ sở là hình thức hòa
giải tự nguyện thì hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã là hình thức
bắt buộc. Các cơ quan có thẩm quyền chỉ tiếp nhận giải quyết khi các tranh chấp đã
được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
Phân biệt giữa hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở và hòa giải Tranh chấp đất
đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã:
- Hoà giải ở cơ sở do Tổ hoà giải thực hiện, đây là tổ chức tự quản của nhân dân
được thành lập ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác. Cơ cấu tổ
hoà giải có tổ trưởng và các tổ viên do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
7
SVTH: Trần Thị Thúy Oanh
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã – Lý luận và thực tiễn
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
8
SVTH: Trần Thị Thúy Oanh
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã – Lý luận và thực tiễn
1.3.1. Hoà giải phải tuân theo pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội, phong
tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân
Khi giải quyết các tranh chấp đất đai người hoà giải bên cạnh việc căn cứ vào các
chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán còn cần phải nắm vững và vận dụng đường
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là những quy định pháp luật về
đất đai.
Để thực hiện nguyên tắc này, người hòa giải phải nắm vững đường lối, chính
sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Trước hết, cần nắm vững quy định của pháp
luật về đất đai (quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất) đồng thời phải nắm vững
những quy định liên quan trực tiếp đến công tác hoà giải như pháp luật dân sự (quan
hệ tài sản, quan hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế,…) pháp luật hành chính
và pháp luật hình sự... Bên cạnh việc hoà giải theo đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, người hòa giải cần phải kết hợp với các quy phạm đạo đức,
phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân. Pháp luật được thể hiện ở hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành còn Phong tục,
tập quán thường được thể hiện hoặc bằng ngôn ngữ như luật tục của đồng bào các dân
tộc thiểu số, các hương ước, quy ước làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, tổ dân phố, hoặc
bằng các thói quen ứng xử dưới dạng các hành động cụ thể. Những phong tục, tập
quán được áp dụng phải để giải quyết tranh chấp đất đai phải là phong tục tập quán tốt
đẹp, không trái với pháp luật và quy tắc xây dựng nếp sống mới. Đồng thời, Việc hoà
1.4.1. Vai trò hòa giải tranh chấp đất đai đối với các bên tranh chấp
Là một biện pháp truyền thống tốt đẹp, hòa giải tranh chấp đất đai giúp các bên
tranh chấp hiểu biết và thông cảm với nhau, góp phần khôi phục lại tình đoàn kết giữa
họ, giúp họ giải quyết tranh chấp với tinh thần cởi mở, giảm bớt mâu thuẫn. Trường
hợp không hòa giải thành thì quá trình hòa giải cũng giúp cho các bên ngồi lại với
nhau, hiểu rõ hơn nguyên nhân tranh chấp, được bày tỏ ý chí của mình. Từ đó, họ có
thể phần nào tìm được tiếng nói chung, hạn chế bớt mâu thuẫn. Việc hòa giải tranh
chấp đất đai thực hiện nhanh chóng, kịp thời ngay từ khi phát sinh bất đồng, mâu
thuẫn nhỏ, đơn giản trong nội bộ nhân dân sẽ giúp các bên đương sự hóa giải bất đồng,
mâu thuẫn dễ dàng hơn không để phát sinh gay gắt, phức tạp. Một khi tranh chấp đất
đai được hòa giải thành sẽ giúp người dân duy trì được tình đoàn kết, gắn bó với nhau.
Đồng thời, các bên sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc trong việc theo đuổi
vụ kiện về tranh chấp đất đai. Hòa giải tranh chấp đất đai giúp các bên tranh chấp nâng
cao nhận thức, hiểu biết về Pháp luật nói chung và Pháp luật Đất đai nói riêng.
Thông qua việc giải thích Pháp luật trong hòa giải, các đương sự sẽ phần nào hiểu
được quy định của pháp luật về vấn đề mà họ đang tranh chấp. Từ đó, các bên có thể
hiểu và tự quyết định về việc giải quyết tranh chấp, không trái với quy định của pháp
luật. Trên cơ sở đó, giúp họ có ý thức tuân thủ pháp Luật Đất đai.
1.4.2. Vai trò hòa giải tranh chấp đất đai đối với xã hội
Thông qua hòa giải nhiều tranh chấp đã được giải quyết mà không cần thông qua
giải quyết tranh chấp ở cơ quan hành chính hoặc tòa án. Hoặc nếu hòa giải không
thành thì cũng giúp các bên đương sự hiểu rõ hơn về mâu thuẫn, giúp kiềm chế mâu
thuẫn. Như vậy, hòa giải góp phần vào việc giữ gìn an ninh, trật tự, công bằng xã hội,
làm cho mối quan hệ xã hội phát triển không phải bằng mệnh lệnh mà bằng giáo dục
thuyết phục và sự cảm thông của các thành viên trong xã hội. Biện pháp này phù hợp
với tâm lý người Việt Nam mong muốn duy trì sự ổn định các quan hệ xã hội và không
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
10
quyền khiếu nại lên cơ quan chính quyền cấp trên. Quyết định của chính quyền cấp
trên trực tiếp có hiệu lực thi hành;Việc tranh chấp quyền sử dụng đất có liên quan đến
địa giới giữa các đơn vị hành chính do Uỷ ban nhân dân các đơn vị đó cùng phối hợp
giải quyết. Trong trường hợp không đạt được sự nhất trí thì thẩm quyền giải quyết
theo quy định tại khoản 11, Điều 83 và khoản 26, Điều 107 của Hiến pháp”.
Còn theo quy định tại Điều 22 Luật Đất đai năm 1987 thì “khi giải quyết tranh
chấp về nhà ở, vật kiến trúc khác hoặc cây lâu năm thì Toà án nhân dân giải quyết cả
quyền sử dụng đất có nhà ở, vật kiến trúc khác hoặc cây lâu năm đó”.
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
11
SVTH: Trần Thị Thúy Oanh
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã – Lý luận và thực tiễn
Theo các quy định này Luật Đất đai 1987 chỉ quy định về thẩm quyền giải quyết
tranh chấp đất đai đối với các trường hợp xảy ra tranh chấp mà không có quy định về
hòa giải tranh chấp đất đai.
1.5.2. Giai đoạn từ Luật Đất đai năm 1993 sửa đổi bổ sung năm 1998 và năm
2001
Từ khi Luật Đất đai 1993 có hiệu lực ngày 15/10/1993 quy định về việc giải
quyết tranh chấp đất đai có sự thay đổi.
Điều 38 Luật Đất đai 1993 quy định:”Nhà nước khuyến khích việc hoà giải các
tranh chấp đất đai trong nhân dân.Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách
nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân, các tổ chức thành viên
khác của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế ở cơ sở và công dân hoà
giải các tranh chấp đất đai;Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng
Qua 2 Điều luật trên chúng ta có thể thấy Luật Đất đai năm 1993 bên cạnh sự
thay đổi về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan hành chính và
tòa án thì Luật Đất đai năm 1993 đã có thêm quy định hòa giải tranh chấp đất đai.
Theo quy định này hòa giải được khuyến khích áp dụng trong giải quyết tranh chấp đất
đai. Đây là điểm tiến bộ của Luật Đất đai năm1993 so với Luật Đất đai năm 1987 vì
quy định này tạo cơ sở pháp lý cho phương thức hoà giải tranh chấp đất đai này được
thực hiện trên thực tế. Luật Đất đai năm 1998 và Luật Đất đai năm 2001 về sửa đổi, bổ
sung một số điều Luật Đất đai năm 1993 vẫn giữ nguyên quy định về hòa giải tranh
chấp đất đai theo luật đất đai năm 1993.
1.5.3. Giai đoạn Luật Đất đai năm 2003
Khắc phục những bất cập trong quy định giải quyết tranh chấp trong Luật Đất đai
năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 bên cạnh sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền giải quyết
tranh chấp đất đai còn tách hòa giải tranh chấp đất đai thành quy định riêng tại Điều
135.
Điều 135 Luật Đất đai 2003 quy định như sau: “ Nhà nước khuyến khích các bên
tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở
cơ sở; Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp”.
Theo đó, khi tranh chấp đất đai xảy ra nhà nước khuyến khích các bên tự hòa giải
hoặc hòa giải ở cơ sở. Trình tự, thủ tục hòa giải ở cơ sở được thực hiện theo quy định
trong pháp lệnh của ủy ban thường vụ quốc hội số 09/1988 ngày 25/12/1988 về tổ
chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Kể từ ngày 1/1/2014 thì được thực hiện theo Luật
Hòa giải ở cơ sở năm 2013. Nếu các bên không hòa giải được thì phải gửi đơn đến Uỷ
ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để được hòa giải. Theo Luật
Đất đai năm 2003, việc hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân
dân cấp xã là bắt buộc như là một bước đệm trước khi được Tòa án hoặc cơ quan hành
chính nhà nước giải quyết theo thẩm quyền. Điều đó có nghĩa là, các bên đương sự nếu
chưa hoà giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã, chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều
135 Luật đất đai 2003 thì các cơ quan nhà nước sẽ không giải quyết. Họ phải được hoà
hành còn thay đổi, bổ sung một số quy định (sẽ được trình bày cụ thể ở chương 2).
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
14
SVTH: Trần Thị Thúy Oanh
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã – Lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
2.1. Thành phần tham dự hòa giải tranh chấp đất đai
Điểm c khoản 1 Điều 88 nghị định 43/2014/Nghị định chính phủ hướng dẫn thi
hành Luật Đất đai 2013 (Nghị định 43/2014/NĐ-CP) quy định: “Tổ chức cuộc họp hòa
giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp
đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
Theo quy định tại điều này thành phần tham dự cuộc họp hòa giải tranh chấp đất
đai gồm có:
- Thành viên của Hội đồng hòa giải.
- Các bên tranh chấp đất đai.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
2.1.1. Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai
Về lý luận Hội đồng hòa giải là bên thứ ba đứng ra làm trung gian giữa các bên
tranh chấp đất đai nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ, là
chủ thể trung tâm của cuộc họp hòa giải và là bên trung gian giúp cho các bên tranh
chấp đất đai thỏa thuận với nhau về giải quyết tranh chấp. Trên thực tế, Hội đồng hòa
giải có vai trò quan trọng, là bên đứng ra tổ chức, chủ trì cuộc họp hòa giải tranh chấp
phường, thị trấn là Chủ tịch Hội đồng; Đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã,
phường, thị trấn; Tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp, bản,
buôn, phum, sóc đối với khu vực nông thôn; Đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu
đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất
đó; Cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn”.
Theo quy định trên thì một trong những căn cứ để giải quyết tranh chấp đất đai là
ý kiến của hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai của xã, phường, thị trấn do Uỷ
ban nhân dân xã, phường, thị trấn thành lập. Tuy khác nhau về tên gọi nhưng thực tế
Hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai cũng chính là Hội đồng hòa giải tranh
chấp đất đai. Do đó, quy định tại khoản 2 điều 161 nghị định 181/2004/NĐ-CP về
thành phần của Hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai cũng chính là quy định
về thành phần của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai.
Hiện nay, thành phần Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai được quy định riêng
thành một quy đinh cụ thể tại điểm b khoản 1 Điều 88 nghị định 43/2014/NĐ-CP:
“Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần
Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng;
đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với
khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân
sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng
đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng
trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến
binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh”.
Theo đó, về cơ bản thành phần hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai trong Luật
Đất đai hiện hành vẫn được giữa nguyên so với Luật Đất đai năm 2003, thành phần
Hội đồng hòa vẫn gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội
đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối
với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ
dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
liên quan trong tranh chấp đất đai”.
Theo Điều 56, Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định
đương sự trong vụ án dân sự: “Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ
chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Nguyên
đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác
do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho
rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.Cơ quan, tổ chức do Bộ
luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng,
lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn; Bị đơn trong
vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do
Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm; Người có quyền lợi,
GVHD: Nguyễn Thị Thanh Xuân
17
SVTH: Trần Thị Thúy Oanh
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã – Lý luận và thực tiễn
nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện,
nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ
được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận đưa
họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong
trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một
người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Toà án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư
cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
Dựa trên tinh thần chung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã – Lý luận và thực tiễn
không thành là một quy định mới của Luật Đất đai 2013, quy định này đã khắc phục
được bất cập trong thời gian qua:
- Một là, Ủy ban nhân dân cấp xã phải tổ chức cuộc họp hòa giải nhiều lần do các
bên tranh chấp vắng mặt, làm tốn nhiều thời gian, công sức và chi phí mà đa số các
trường hợp đều không đạt được kết quả như ý.
- Hai là,do trước đây không có quy định về số lần vắng mặt của các bên tranh
chấp là bao nhiêu thì sẽ xem như là hòa giải không thành nên ở mỗi địa phương lại áp
dụng không thống nhất.
Quy định tại điều này không đề cập đến sự có mặt của bên có quyền và nghĩa vụ
liên quan trong cuộc họp hòa giải tranh chấp đất đai là bắt buộc hay không. Đây là một
điểm hạn chế của quy định pháp luật bởi vì do không có quy định rõ ràng nên dẫn đến
việc các địa phương áp dụng không thống nhất quy định về sự có mặt của bên có
quyền và nghĩa vụ liên quan.
2.2. Thẩm quyền và Phạm vi hòa giải tranh chấp đất đai
2.2.1. Thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai
Khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tranh chấp đất đai mà các
bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn nơi có đất tranh chấp”. Theo quy định này các tranh chấp đất đai mà các bên
tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất
tranh chấp để được hòa giải. Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ tiến hành hòa giải những
tranh chấp đất đai nếu phần đất tranh chấp đó nằm trên địa bàn quản lý của cấp xã
mình. Điều đó đồng nghĩa với việc khi xác định vụ tranh chấp đất đai có thuộc thẩm
quyền hòa giải của cấp xã mình hay không thì Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ không dựa
vào các bên tranh chấp có phải là người dân thuộc địa phương của mình quản lý hay
không. Do đó, sẽ có trường hợp người dân ở địa phương này vẫn có thể yêu cầu hòa
giải tranh chấp đất đai ở địa phương khác nếu như phần đất tranh chấp thuộc địa