Nhà thơ Vũ Duy Thông sinh ngày 26 tháng 2 năm 1944; nguyên
quán: Tự Lập, Mê Linh, Vĩnh Phúc; từng là phóng viên mặt trận,
làm báo nhiều năm. Ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Tiến
sĩ Mĩ học, hiện công tác tại Ban Tư tưởng
Nhà thơ Vũ Duy Thông sinh ngày 26 tháng 2 năm 1944; nguyên quán: Tự Lập, Mê Linh, Vĩnh Phúc;
từng là phóng viên mặt trận, làm báo nhiều năm. Ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Tiến sĩ Mĩ học,
hiện công tác tại Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương.
Tác phẩm đã xuất bản: Nắng trung du (1979); Những đám lá đổi màu (1982); Tình yêu người thợ (1987);
Gió đàn (1989); Trái đất không chỉ có một người (1991); Ai là bạn tốt (1978); Cây bưởi ngây thơ và con
bướm sặc sỡ(1980); Chú tôm gõ mõ (1981); Cuộc phiêu lưu kỳ lạ của ong vàng (1982); Chiếc kẹo tàng
hình (1987); Xứ sở không người (1987); Chiếc nồi trên vách đá (1988); Mèo con và cáo đỏ đuôi (1983);
Thỏ rừng hóa hổ (1988); về thăm bà nội (1993) ... Nhà thơ đã được nhận: hai giải thưởng sáng tác cho
thiếu nhi do Nhà Xuất bản Kim Đồng và Trung ương Đoàn tổ chức (1978 và 1988); Giải ba cuộc thi thơ
báo Văn nghệ (1969).
Bài thơ được hình thành sau chuyến đi thực tế, khi ấy Vũ Duy Thông lù một nhà báo trẻ được cử làm
phóng viên thường trú Thông tấn xã Việt Nam tại Hà Tĩnh nãm 1968. Con sông La trong bài thơ - theo
tác giả - được bắt nguồn từ hai con sông Ngàn Trươi và Ngàn Phố chảy từ Trường. Sơn qua hai huyện
Hương Khê vã Hương Sơn gặp nhau tại cuối huyện Hương Sơn, trở thành ranh giới tự nhiên của hai tỉnh
Nghệ An và Hà Tĩnh. Cuối dòng, sông La hòa với sông Lam đổ ra biển.
Sông La nước trong xanh, hiền hòa quanh năm, hai bên sông là xóm làng trù phú, yên bình ... đó cũng là
khung cảnh chất chứa nhiều sức gợi để khi viết, tác giả trào dâng cảm xúc:
Bè ta xuôi sông La
Dẻ cau cùng táu mật
Muồng đen và trai đất
Lứt chun rồi lút hoa...
Không biết có phải vì tác giả đã cùng những bè gỗ ấy xuôi dòng trong tâm trạng dạt dào cảm xúc mà lời
thơ ở đây được cất lên như lời hát với âm vực rộng mở, phóng túng, mênh mang đến thế! Câu thơ đầu có
hình thức như là một câu thông báo, nhưng lại được sắp xếp bằng một chuỗi ngôn ngữ mang tính biểu
cảm: Bè ta xuôi sông La. Bắt đầu từ một điểm xuất phát: "Bè" rồi ý thơ như cũng "dời chỗ" trôi theo,
cùng những lâm sản quí. Có cảm giác các loại gỗ được ken lại với nhau qua các từ nối "cùng", "vù", "rồi"
kết thành bè - để bắt đầu một hành trình hối hả về xuôi. Hãy cùng hành trình với dòng sông:
Ta nằm nghe, nằm nghe Giữa bốn bề ngây ngất...
Hai chữ "nằm nghe" được điệp lại diễn tả niềm hào sảng, say mê chừng không dứt. Người đọc như cũng
được cái cảm giác lâng lâng xúc động tỏa sáng, như cũng được bay cùng những hình dung về phía miền
quê "bừng tươi nụ ngói hồng" thấm đẫm niềm tin và hy vọng giữa những năm tháng oanh liệt khi xưa.
Đọc Bè xuôi sông La, còn có cảm giác được tắm mình trong tưởng tượng trữ tình mươn mướt của cảnh
sắc sông La, được khỏe khoắn và lớn dậy trong hồn một tình yêu quê hương đất nước.
loigiaihay.com