chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã thực tiễn tại xã hậu mỹ trinh, huyện cái bè, tỉnh tiền giang - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

LUẬN VĂN TỐT NGHỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2011 – 2015

Đề tài:

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN
CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
THỰC TIỄN TẠI XÃ HẬU MỸ TRINH, HUYỆN
CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Giảng viên hƣớng dẫn:
NGUYỄN LAN HƢƠNG
Bộ môn Luật Hành Chính
Khoa Luật – ĐHCT

Sinh viên thực hiện:
HUỲNH THỊ THÙY TRANG
MSSV: 5118697
Lớp: Luật Hành Chính – K37

Cần Thơ, tháng 11/2014


LỜI CẢM ƠN

Trƣớc khi đi vào nội dung của đề tài, ngƣời viết xin đƣợc gửi lời cảm ơn chân
thành nhất đến toàn thể quý thầy cô đang giảng dạy tại trƣờng Đại học Cần Thơ.

………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
……………………

3


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trang
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………………. 1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài……………………………………………............ 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài…………………………............ 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài………………………………………….. 3
5. Kết cấu của đề tài………………………….……………………………............3
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ỦY BAN NHÂN DÂN
VÀ CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1. Khái quát về Uỷ ban nhân dân cấp xã………………………………….. 4

2.2.2. Trong các phiên họp của Ủy ban nhân dân………………………….22
2.2.3. Giải quyết các công việc cụ thể của UBND……………………........23
2.2.4. Trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân
dân…………………………………………………………………………………..25
2.3. Hoạt động của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã……………………..26
2.4. Một số chế độ, chính sách áp dụng đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp
xã………………………………………………………………………………….28
2.4.1. Chế độ tiền lƣơng, phụ cấp…………………………………………..28
2.4.2. Chế độ đào tạo, bồi dƣỡng……………………………………...........29
2.4.3. Chế độ khen thƣởng và xử lý kỷ luật…………………………...........30
CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN
DÂN TẠI XÃ HẬU MỸ TRINH, HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
3.1. Sơ lƣợc về lịch sử hình thành của Uỷ ban nhân dân xã Hậu Mỹ Trinh
3.1.1. Lƣợc sử hình thành……………………………………………………31
3.1.2. Vị trí địa lý và dân cƣ…………………………………………………32
3.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo Quy chế làm
việc của Uỷ ban nhân dân xã Hậu Mỹ
Trinh……………………………………....33
3.3. Kết quả hoạt động trong năm 2013 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã
Hậu Mỹ
Trinh………………………………………………………………………….....34
3.3.1. Vai trò lãnh đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân trong các lĩnh vực…..34
3.3.1.1. Trong lĩnh vực kinh tế………………………………………….....34
3.3.1.2. Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, y tế, giáo dục và dân số - kế hoạch
hóa gia
đình……………………………………………………………………………....35
5


hiệu quả của các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc, có ý
nghĩa vô cùng to lớn với việc củng cố sự phát triển bền vững của xã hội, đảm bảo
dân chủ và nâng cao đời sống của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi rõ: “Cấp
xã là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm đƣợc việc thì mọi
việc đều xong xuôi”.1
Tuy nhiên, cùng với việc phân ra ba cấp ở địa phƣơng nhƣ hiện nay (tỉnh,
huyện, xã) thì có thể thấy cấp xã là cấp chịu nhiều thiệt thòi và đang tồn tại nhiều
yếu kém nhất. Thứ nhất, cấp xã là cấp chính quyền thấp nhất thực hiện quản lý
tƣơng đối toàn diện nhƣng lại có bộ máy đơn giản nhất. Thứ hai, là cấp chính quyền
gần dân nhất nhƣng cũng là cấp gây phiền hà cho nhân dân nhiều nhất. Thứ ba, là
cấp có cán bộ lãnh đạo không chuyên môn và ít đƣợc đào tạo nhất. Thứ tƣ, là cấp có
trình độ văn hóa, trình độ lý luận và chuyên môn thấp nhất,… Những yếu kém nêu
trên đang gây khó khăn và làm hạn chế không nhỏ đến hiệu quả quản lý của nhà
nƣớc ta hiện nay.
Từ đó cho thấy, hoạt động của UBND cấp xã có ảnh hƣởng rất lớn đến công
tác quản lý hành chính nhà nƣớc mà đặc biệt là phải kể đến vai trò của ngƣời lãnh
đạo. Nói đến tổ chức là phải nói đến vai trò của ngƣời lãnh đạo. Nhƣ V.I. Lê-nin đã
từng nhấn mạnh rằng, “Không có bộ máy nhà nƣớc, chúng ta sẽ tiêu vong và không
làm cho bộ máy nhà nƣớc hoạt động ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn thì chúng ta
cũng sẽ tiêu vong trƣớc khi xây dựng đƣợc cơ sở của chủ nghĩa xã hội”. Nhƣ vậy, tổ
chức bộ máy nhà nƣớc và việc củng cố hoàn thiện bộ máy nhà nƣớc sao cho ngày
một tốt hơn, hiệu quả hơn là vấn đề vô cùng quan trọng đối với nhà nƣớc ta hiện
nay mà trách nhiệm đó trƣớc hết thuộc về ngƣời lãnh đạo. Cho nên cần có một
ngƣời lãnh đạo đầy bản lĩnh và tận tâm để đƣa hoạt động của UBND ngày một đi
lên và đi vào nề nếp, đó là vai trò hết sức quan trọng của Chủ tịch UBND cần phải
đặc biệt quan tâm. Vì theo tƣ tƣởng Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cán bộ là tiền vốn của
1

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1995, tập 5, Tr.371.


Vị trí, vai trò của Chủ tịch UBND đƣợc thể hiện ở rất nhiều mặt nhƣng do
thời gian có hạn và vốn hiểu biết còn hạn chế nên trong giới hạn của luận văn tốt
nghiệp này, ngƣời viết chỉ tập trung nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề về Chủ tịch
UBND cấp xã nhƣ: khái niệm, vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn cũng nhƣ các
tiêu chuẩn, trình tự thủ tục bầu và những hoạt động chính của Chủ tịch UBND. Qua
đó có nêu lên thực trạng và một số đề xuất nhằm nâng cao vai trò của Chủ tịch
UBND cấp xã trong giai đoạn hiện nay.

2

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tập 5, Tr. 240.

8


4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu, trên nền tảng cơ sở những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc và pháp
luật; các đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc về
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nƣớc; xây dựng và đổi mới tổ chức, hoạt động
của chính quyền địa phƣơng, ngƣời viết đã vận dụng kết hợp các phƣơng pháp so
sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, thống kê,… và đặc biệt là phƣơng pháp phân
tích luật viết để tiến hành đánh giá, phân tích, bình luận những quy định của pháp
luật trong chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch UBND cấp xã.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời cảm ơn, lời mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của đề tài đƣợc chia làm ba chƣơng sau đây:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cấp xã
Chƣơng 2: Quy định của pháp luật về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch Uỷ

nhân dân do cử tri xã bầu ra, có từ 15 - 25 hội viên chính thức và 5 – 7 hội viên dự
khuyết; còn Ủy ban hành chính do Hội đồng nhân dân xã bầu trong số các hội viên
Hội đồng nhân dân, số lƣợng thành viên là 5 ủy viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó
Chủ tịch, 1 thƣ ký, 1 thủ quỹ, 1 ủy viên) và 2 ủy viên dự khuyết. Ủy ban hành chính
xã có nhiệm vụ thi hành các mệnh lệnh của cấp trên, thực hiện Nghị quyết của Hội
đồng nhân dân, triệu tập các kỳ họp Hội đồng nhân dân xã và giải quyết các công
việc trong xã.
Đến ngày 9 tháng 11 năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nƣớc Việt Nam
dân chủ cộng hòa ra đời, đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nƣớc. Theo Hiến pháp năm 1946, tổ chức chính quyền địa phƣơng mỗi
cấp nói chung và cấp xã nói riêng về cơ bản vẫn nhƣ Sắc lệnh 63 và Sắc lệnh 77.
- Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975:
10


Với chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cách mạng
Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới. Nƣớc ta tạm thời chia cắt thành hai
miền: Nam – Bắc. Để phù hợp với tình hình mới, Quốc hội ban hành Hiến pháp
năm 1959 và sau đó ban hành Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành
chính năm 1962, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về tổ chức và hoạt động của
chính quyền địa phƣơng. Các đơn vị hành chính lúc này đƣợc phân định: nƣớc chia
thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ƣơng; tỉnh chia thành huyện, thành
phố, thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn. Mỗi đơn vị hành chính kể trên đều thành
lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính. So với trƣớc tổ chức và hoạt động
của chính quyền địa phƣơng có nhiều thay đổi. Lần đầu tiên Hội đồng nhân dân có
một định nghĩa: Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa
phƣơng, do nhân dân địa phƣơng bầu ra và chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân địa
phƣơng. Cũng lần đầu tiên Ủy ban hành chính có một định nghĩa: Ủy ban hành
chính các cấp là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân địa phƣơng, là cơ quan
hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng. Số lƣợng thành viên của các cơ quan trong bộ

chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thay cho Luật tổ chức Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân năm 1989. Sau khi Hiến pháp 1992 đƣợc sửa đổi, bổ sung
một số điều cho phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, thực hiện Nghị
quyết số 12/2002/QH11 ngày 16 tháng 11 năm 2002 của Quốc hội khóa XI về
chƣơng trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2003, Quốc hội khóa XI đã thông qua
Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tại kỳ họp thứ 4, ngày 21
tháng 10 năm 2003. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 12 năm 2003.
Đến năm 2013, để có cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc cho công cuộc đổi
mới toàn diện đất nƣớc trong thời kỳ mới, Hiến pháp năm 2013 đã đƣợc Quốc hội
nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày
28 tháng 11 năm 2013, quy định các nội dung về chính quyền địa phƣơng theo
hƣớng mở với nhiều điểm mới phù hợp và tiến bộ hơn trƣớc. Cụ thể đó là: Hiến
pháp năm 2013 đã đổi tên gọi từ “Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân” (trong
Hiến pháp năm 1992) thành “Chính quyền địa phƣơng”, đây là sự thay đổi hợp lý,
phù hợp với lịch sử lập hiến cũng nhƣ các văn bản khác của Đảng và Nhà nƣớc ta.
Tiếp tục kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1992 về việc phân chia các đơn vị
hành chính, nhằm đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ, ổn định trong cấu trúc hành
chính ở nƣớc ta. Tuy nhiên, có bổ sung thêm quy định về thành lập đơn vị hành
chính – kinh tế đặc biệt và đơn vị hành chính tƣơng đƣơng với quận, huyện, thị xã
thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng, mở ra khả năng cho việc thành lập các đơn
vị hành chính mới, tăng khả năng dự báo và tính ổn định của Hiến pháp. Về quy
định tổ chức chính quyền địa phƣơng: chính quyền địa phƣơng đƣợc tổ chức ở các
đơn vị hành chính, đơn vị hành chính nào cũng có chính quyền. Bên cạnh đó, Hiến
pháp năm 2013 còn đƣa ra khái niệm “cấp chính quyền địa phƣơng” gồm có HĐND
và UBND, cấp chính quyền địa phƣơng có ở những đơn vị hành chính nào sẽ do
luật định và đƣợc tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị
hành chính – kinh tế đặc biệt. Hiến pháp còn dành ra các điều khoản riêng để quy
định về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phƣơng và quy định rõ
hơn chức năng, nhiệm vụ của HĐND và UBND, bổ sung thêm nhiệm vụ cho
UBND là thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nƣớc cấp trên giao. Với việc quy

quan nhà nƣớc cấp trên.”
Từ các quy định trên ta có thể hiểu: UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà
nƣớc ở địa phƣơng, do HĐND cấp xã bầu ra (nếu ở đơn vị hành chính đó có tổ chức
HĐND), chịu trách nhiệm trƣớc HĐND cấp xã và cơ quan nhà nƣớc cấp trên về
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Nhƣ vậy, UBND cấp
xã là cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng có thẩm quyền chung, hoạt động
3

Hội đồng Quốc gia, Từ điển Bách Khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách Khoa Việt Nam, Hà Nội,

năm 2005, Tr.759.
4

Viện khoa học pháp lý, Từ điển Luật học, Nxb Tƣ Pháp, năm 2006, Tr.538.

13


với tƣ cách: cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà
nƣớc ở địa phƣơng.
+ Là cơ quan chấp hành của HĐND cấp xã: UBND cấp xã chịu sự giám sát của
HĐND cấp xã, chịu trách nhiệm và báo cáo các hoạt động của mình trƣớc HĐND
cấp xã.
+ Là cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng: UBND cấp xã có nhiệm vụ
triển khai thực hiện các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc
vào cuộc sống, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội và dân cƣ trên địa bàn.
1.1.2.2. Đặc điểm
UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng, có vai trò vô
cùng quan trọng trong bộ máy chính quyền địa phƣơng. Là một bộ phận hợp thành
của bộ máy nhà nƣớc, UBND cấp xã đƣợc thành lập và hoạt động dựa trên những

quan nhà nƣớc cấp trên và HĐND cùng cấp cho nên UBND phải đảm bảo cho
những quy định, quyết định của cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp trên và trung
ƣơng đƣợc thực hiện tốt ở địa phƣơng. Hoạt động quản lý của UBND mang tính
toàn diện, thống nhất, thƣờng xuyên và liên tục, bởi hoạt động quản lý của UBND
đƣợc thực hiện trên cơ sở chấp hành các cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp trên,
dƣới sự quản lý thống nhất của Chính Phủ đảm bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất
bộ máy hành chính nhà nƣớc từ trung ƣơng đến cơ sở.
Thứ tư, UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà nƣớc có thẩm quyền chung
ở địa phƣơng, hoạt động quản lý của UBND mang tính thống nhất. UBND có thẩm
quyền do pháp luật quy định, đó là tổng thể những quyền, nhiệm vụ chung và
những quyền hạn cụ thể mang tính quyền lực quản lý mà Nhà nƣớc trao cho để thực
hiện nhiệm vụ, chức năng Nhà nƣớc. Vì thế UBND cấp xã có thẩm quyền giải quyết
mọi vấn đề trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trong phạm vi địa
phƣơng mình.
Thứ năm, UBND cấp xã tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân
chủ, hoạt động theo chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây là phƣơng thức
lãnh đạo kết hợp giữa lãnh đạo tập thể với lãnh đạo của thủ trƣởng, cá nhân đứng
đầu. UBND là một thiết chế tập thể trong đó Chủ tịch UBND là ngƣời trực tiếp lãnh
đạo hoạt động của UBND. Khi quyết định những vấn đề quan trọng có liên quan
đến nhiều lĩnh vực của địa phƣơng, UBND phải thảo luận tập thể và quyết định theo
đa số.
Thứ sáu, UBND cấp xã có quyền ban hành các quyết định, chỉ thị và thực
hiện các hành vi hành chính phù hợp với nhiệm vụ và quyền hạn đƣợc giao để thực
thi quyền hành pháp ở địa phƣơng.
Thứ bảy, nhân sự hành chính của UBND cấp xã chủ yếu là đội ngũ cán bộ,
công chức đƣợc hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của
Luật cán bộ, công chức năm 2008.
Tóm lại, UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà nƣớc gần dân nhất, thân
dân, hiểu dân và dễ dàng nắm bắt đƣợc tình hình, tâm tƣ nguyện vọng của nhân dân.
Vì vậy, UBND cấp xã có trách nhiệm rất lớn trong việc chuyển tải đƣờng lối, chủ

lãnh thổ:
Ở trung ƣơng có Chính Phủ và các Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan thuộc Chính
Phủ;
Ở địa phƣơng bao gồm ba cấp:
- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi chung là cấp tỉnh)
- UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện)
- UBND xã, phƣờng, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Nhƣ vậy, có thể thấy rõ vị trí của UBND trong bộ máy quản lý của Nhà nƣớc
ta là một hệ thống cơ quan hành chính từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, đặc biệt là
UBND cấp xã. UBND cấp xã là cơ quan thay mặt cho nhà nƣớc ở địa phƣơng để

16


thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc theo luật định, đƣợc bầu ra từ cơ quan quyền
lực nhà nƣớc cùng cấp là Hội đồng nhân dân cấp xã.
UBND cấp xã giữ một vị trí hết sức quan trọng, làm cho bộ máy quản lý nhà
nƣớc thông suốt từ trung ƣơng đến địa phƣơng và có những chức năng của nhà
nƣớc chỉ thực hiện đƣợc ở cấp xã, nên thực hiện ở cấp xã hoặc chỉ thực hiện có hiệu
quả ở cấp xã.
 Tính chất pháp lý
Cũng trong Điều 114 Hiến pháp 2013 và Điều 2 Luật tổ chức Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 cũng đã xác định rõ tính chất cơ bản của UBND
là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân.
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, quyết định
những vấn đề quan trọng của địa phƣơng. Tuy nhiên, Hội đồng nhân dân hoạt động
không thƣờng xuyên, vì vậy kế hoạch ngân sách ở địa phƣơng cũng nhƣ các chủ
trƣơng, biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở địa phƣơng mà Hội đồng nhân
dân đã thông qua chỉ có thể thực hiện thông qua UBND.
Tính chất chấp hành của UBND trong mối quan hệ với HĐND đƣợc thể hiện

các văn bản của cơ quan nhà nƣớc cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân
cùng cấp…, từ đó đảm bảo đƣợc sự thống nhất và đồng bộ trong việc thực hiện các
chủ trƣơng, chính sách chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng,
an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn mà Đảng và Nhà nƣớc ta đã
đề ra.
Nƣớc ta đã chuyển sang cơ chế quản lý mới trong điều kiện nền kinh tế thị
trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa thì vai trò của UBND cấp xã có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nƣớc, nâng cao đời sống
của nhân dân.
1.2. Khái quát về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
1.2.1.1. Khái niệm
Cơ cấu tổ chức của UBND cấp xã hiện nay gồm: một Chủ tịch, hai Phó chủ
tịch và các thành viên khác của UBND. Trong đó, ngƣời đứng đầu UBND cấp xã là
Chủ tịch UBND.
Chủ tịch UBND có nhiệm vụ và quyền hạn riêng đƣợc pháp luật quy định,
phải chịu trách nhiệm cá nhân về thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Cụ
thể tại Điều 126 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003
quy định: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân là ngƣời lãnh đạo và điều hành công việc của
Ủy ban nhân dân, chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, cùng với tập thể Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động của Ủy
ban nhân dân trƣớc Hội đồng nhân dân cùng cấp và trƣớc cơ quan nhà nƣớc cấp
trên”.
Nhƣ vậy, Chủ tịch UBND là ngƣời đứng đầu, chỉ đạo và phân công công tác
cho các Phó Chủ tịch và các thành viên khác của UBND. Vì thế hiệu quả hoạt động
của UBND sẽ đƣợc đảm bảo bằng hiệu quả hoạt động của Chủ tịch UBND. Chủ
tịch UBND là ngƣời đại diện, thay mặt cho UBND quyết định và giải quyết các
công việc của UBND, giúp cho hoạt động của UBND đƣợc nhịp nhàng, thống nhất
và ngày càng phát triển.
18

- Tính chất công việc của Chủ tịch UBND không gắn với chuyên môn nghiệp vụ
mà mang tính chính trị. Thông thƣờng Chủ tịch UBND cấp xã sẽ đồng thời là một
Phó Bí thƣ Đảng ủy của xã đó, đảm bảo theo nguyên tắc “Đảng lãnh đạo và Nhà
nƣớc thống nhất quản lý”.
- Chủ tịch UBND đƣợc Nhà nƣớc giao cho những quyền hạn nhất định để đảm
bảo hoàn thành nhiệm vụ của mình. Đồng thời Chủ tịch UBND cũng phải gánh vác
những nghĩa vụ đối với nhà nƣớc, với nhân dân. Vì thế phải chịu trách nhiệm cá

19


nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có nhƣ vậy mới tạo cho Chủ
tịch UBND một tinh thần trách nhiệm cao.
- Hoạt động của Chủ tịch UBND thƣờng không trực tiếp tạo ra của cải vật chất mà
xác định hƣớng phát triển và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà
nƣớc đối với các quá trình sản xuất.
- Làm việc trong cơ quan nhà nƣớc (UBND cấp xã), trong biên chế và đƣợc
hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
1.2.2. Vị trí, vai trò của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
1.2.2.1. Vị trí và tính chất pháp lý
Chủ tịch UBND cấp xã là ngƣời giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong hệ
thống cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng, đó là vị trí của ngƣời đứng đầu
UBND – đứng đầu một tập thể quản lý đội ngũ cán bộ, công chức trong UBND.
Từ trƣớc đến nay, trong các Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
thì vị trí và tính chất của Chủ tịch UBND luôn đƣợc đề cập và quy định cụ thể. Nhƣ
tại điều 126 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 có quy
định rõ: “Chủ tịch UBND là ngƣời lãnh đạo và điều hành công việc của Ủy ban
nhân dân”. Với vị trí đặc biệt và trách nhiệm hết sức nặng nề này, Chủ tịch UBND
sẽ có những nhiệm vụ và quyền hạn nhất định do pháp luật quy định để có thể lãnh
đạo và điều hành tốt hoạt động của UBND. Thay mặt UBND, lãnh đạo công tác của

hay không thì phải xem ngƣời lãnh đạo đã làm tốt vai trò và nhiệm vụ của mình hay
chƣa. Vì thế, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn đặc biệt quan tâm đến vai trò của ngƣời
lãnh đạo nhất là đối với cấp xã, luôn chú trọng đào tạo, bồi dƣỡng và xây dựng một
đội ngũ cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức tốt, đầy đủ năng lực để phục vụ nhân
dân vì Nhà nƣớc ta là “Nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân”.
1.2.3. Nguyên tắc lãnh đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
UBND cấp xã đƣợc tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ,
nguyên tắc song trùng trực thuộc: phụ thuộc theo chiều dọc và phụ thuộc theo chiều
ngang. Cụ thể nhƣ: UBND cấp xã vừa phụ thuộc vào UBND cấp trên và sự quản lý
thống nhất của Chính Phủ, vừa phụ thuộc vào HĐND cùng cấp. Chủ tịch UBND
cũng hoạt động theo nguyên tắc này. Chủ tịch UBND thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình theo Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nƣớc cấp trên;
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngăn
ngừa và chống các biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí,
vô trách nhiệm và các biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, công chức và trong bộ
máy chính quyền địa phƣơng. Trong hoạt động của mình phối hợp chặt chẽ với Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức
xã hội khác chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia
vào việc quản lý nhà nƣớc và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nƣớc.
Khi quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình do pháp
luật quy định, Chủ tịch UBND ra quyết định, chỉ thị và tổ chức thực hiện, kiểm tra
việc thi hành các văn bản đó.

21


CHƢƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA CHỦ
TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
2.1. Những quy định chung về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã

đƣợc giao này thì đòi hỏi Chủ tịch UBND cấp xã phải đáp ứng những tiêu chuẩn
chung và tiêu chuẩn cụ thể, nhƣ sau:
+ Về tiêu chuẩn chung:
- Có tinh thần yêu nƣớc sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đƣờng lối của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nƣớc ở địa phƣơng.
- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tƣ, công tâm thạo việc, tận tụy với dân.
Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức kỷ luật
trong công tác. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, đƣợc nhân
dân tín nhiệm.
- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trƣơng,
đƣờng lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nƣớc; có trình độ học vấn,

23


trình độ chuyên môn, có đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ đƣợc giao.
+ Về tiêu chuẩn cụ thể:
- Tuổi đời: Tuổi đời của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã do Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phƣơng nhƣng
tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ.
- Trình độ học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông.
- Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối với khu
vực đồng bằng; khu vực miền núi phải đƣợc bồi dƣỡng lý luận chính trị tƣơng
đƣơng trình độ sơ cấp trở lên.
- Chuyên môn, nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng, có trình độ trung cấp chuyên
môn trở lên. Với miền núi phải đƣợc bồi dƣỡng kiến thức chuyên môn (tƣơng
đƣơng trình độ sơ cấp trở lên), nếu giữ chức vụ lần đầu phải có trình độ trung cấp
chuyên môn trở lên. Ngành chuyên môn phải phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội

nếu có trên quá nửa tổng số đại biểu HĐND tán thành thì ngƣời đó đƣợc rút khỏi
danh sách ứng cử.
- Việc bầu Chủ tịch UBND đƣợc tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín theo danh sách
đề cử ngƣời vào chức danh Chủ tịch UBND.
- Số lƣợng, danh sách ngƣời ứng cử vào chức danh Chủ tịch UBND cấp xã do
HĐND thảo luận, biểu quyết trƣớc khi tiến hành cuộc bỏ phiếu bầu cử.
- Ngƣời trúng cử là ngƣời đƣợc quá nửa số phiếu bầu so với tổng số đại biểu
HĐND và đƣợc nhiều phiếu hơn thì trúng cử.
- Kết quả bầu cử Chủ tịch UBND cấp xã phải đƣợc Chủ tịch UBND cấp huyện
xem xét phê chuẩn. Hồ sơ đề nghị phê chuẩn gồm:
+ Tờ trình của UBND đề nghị phê chuẩn kết quả bầu cử thành viên của UBND
+ Nghị quyết của HĐND xác nhận kết quả bầu cử thành viên UBND
+ Biên bản kết quả bầu cử thành viên UBND
+ Văn bản của cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ về nhân sự giới thiệu bầu
các chức danh thành viên UBND
+ Danh sách trích ngang những ngƣời trúng cử thành viên UBND
+ Sơ yếu lý lịch của ngƣời trúng cử thành viên UBND có dán ảnh (theo mẫu
2C/TCTW-98 của Ban tổ chức trung ƣơng)
+ Bản kê khai tài sản, thu nhập của ngƣời trúng cử thành viên UBND (theo mẫu
ban hành kèm theo Thông tƣ số 2442/2007/TT-TTCP ngày 13 tháng 11 năm 2007
của Thanh tra Chính Phủ).
Hồ sơ đề nghị phê chuẩn kết quả bầu cử thành viên UBND cấp xã phải gửi cho Chủ
tịch UBND cấp huyện và phòng nội vụ.
- Ngƣời trúng cử các chức danh thành viên UBND tại kỳ họp thứ nhất thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình ngay sau khi đƣợc HĐND bầu.
Đặc biệt, trong nhiệm kỳ nếu khuyết Chủ tịch UBND thì Chủ tịch HĐND
cùng cấp giới thiệu ngƣời ứng cử Chủ tịch UBND để HĐND bầu. Ngƣời đƣợc bầu
giữ chức vụ Chủ tịch UBND trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu HĐND.
Đây là một quy định mới của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status