ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng và fcr ở gà tàu vàng giai đoạn 15 tuần tuổi - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

HUỲNH NGỌC DIỄM HƯƠNG

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NGUYÊN LIỆU
LÀM ĐỆM LÓT SINH HỌC LÊN KHẢ NĂNG
SINH TRƯỞNG VÀ FCR Ở GÀ TÀU VÀNG
GIAI ĐOẠN 1-5 TUẦN TUỔI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: CHĂN NUÔI - THÚ Y

2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

HUỲNH NGỌC DIỄM HƯƠNG

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NGUYÊN LIỆU
LÀM ĐỆM LÓT SINH HỌC LÊN KHẢ NĂNG
SINH TRƯỞNG VÀ FCR Ở GÀ TÀU VÀNG
GIAI ĐOẠN 1-5 TUẦN TUỔI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: CHĂN NUÔI - THÚ Y

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. NGUYỄN THỊ HỒNG NHÂN

dưỡng con thành người, luôn bên cạnh chăm sóc, động viên con trong suốt quá
trình khôn lớn.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Nguyễn Thị Hồng Nhân, giáo viên
hướng dẫn, đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Nguyễn Thiết, người đã trực tiếp
hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn Quý Thầy cô bộ môn Chăn nuôi, bộ môn Thú y đã truyền đạt
những kiến thức cho tôi trong suốt những năm tháng qua.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Trương Chí Sơn, cố vấn học tập,
đã luôn quan tâm, giúp đỡ con từ những ngày đầu còn bỡ ngỡ khi mới bước
chân vào đại học.
Xin gửi lời cảm ơn đến các chú và các anh tại trại Hòa An đã tạo điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành thí nghiệm.
Xin cảm ơn các bạn lớp CNTY K36 và các anh chị khóa trước đã luôn
ủng hộ, giúp đỡ và bên cạnh tôi những lúc vui buồn, khó khăn trong những
năm qua.
Xin chân thành cảm ơn!

i


TÓM TẮT
Một thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các nguyên liệu làm đệm lót sinh
học lên khả năng sinh trưởng gà Tàu Vàng giai đoạn 1-5 tuần tuổi nhằm đánh giá
hiệu quả các loại nguyên liệu làm đệm lót sinh học lên khả năng sinh trưởng gà Tàu
Vàng. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 3 nghiệm thức và 4 lần lặp
lại. Đối tượng thí nghiệm gồm 240 gà Tàu Vàng. Các chỉ tiêu theo dõi gồm khối
lượng, tăng trọng, tiêu tốn thức ăn, hệ số chuyển hóa thức ăn và nhiệt độ, ẩm độ,
CO2 chuồng nuôi. Kết quả thí nghiệm được ghi nhận như sau:
Khối lượng gà thí nghiệm ở 3 nghiệm thức tăng theo tuần tuổi. Khối lượng



MỤC LỤC
Tóm tắt ........................................................................................................................ ii
Chương 1: Giới thiệu ................................................................................................ 1
Chương 2: Tổng quan tài liệu .................................................................................. 2
2.1 Tiểu khí hậu chuồng nuôi ...................................................................................... 2
2.1.1 Nhiệt độ chuồng nuôi .......................................................................................... 2
2.1.2 Độ ẩm chuồng nuôi ............................................................................................. 3
2.1.3 Ánh sáng chuồng nuôi ........................................................................................ 4
2.1.4 Thành phần không khí chuồng nuôi .................................................................... 5
2.2 Giới thiệu chế phẩm sinh học Balasa N01 ............................................................. 9
2.2.1 Đệm lót sinh thái ................................................................................................. 9
2.2.2 Vai trò của vi sinh vật trong xử lý chất thải chăn nuôi ..................................... 12
2.2.3 Nguyên liệu làm đệm lót ................................................................................... 14
2.2.4 Chế phẩm sinh học Balasa N01 ........................................................................ 15
2.3 Giới thiệu giống gà Tàu Vàng.............................................................................. 16
2.3.1 Giới thiệu giống gà Tàu Vàng........................................................................... 16
2.3.2 Kỹ thuật nuôi úm gà con ................................................................................... 17
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 21
3.1 Phương tiện thí nghiệm ........................................................................................ 21
3.1.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm ...................................................................... 21
3.1.2 Đối tượng thí nghiệm ........................................................................................ 21
3.1.3 Chuồng trại ........................................................................................................ 21
3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm ........................................................................................... 21
3.1.5 Thức ăn, nước uống dùng trong thí nghiệm ...................................................... 22
3.1.6 Thuốc thú y dùng trong thí nghiệm ................................................................... 23
3.2 Phương pháp thí nghiệm ...................................................................................... 23
3.2.1 Bố trí thí nghiệm ............................................................................................... 23
3.2.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng ........................................................................ 24

Bảng 2.5: Nồng độ tối đa của một số chất khí trong chuồng nuôi gà .......................... 9
Bảng 2.6: Phân biệt trống mái dựa vào đặc điểm ngoại hình ................................... 18
Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn ........................................................ 22
Bảng 3.2: Quy trình phòng bệnh ............................................................................... 23
Bảng 3.3: Bố trí thí nghiệm ....................................................................................... 24
Bảng 4.1: Khối lượng qua các tuần tuổi, g/con ......................................................... 27
Bảng 4.2: Tăng trọng bình quân, g/con/ngày ............................................................ 28
Bảng 4.3: Tiêu tốn thức ăn, g/con/ngày .................................................................... 29
Bảng 4.4: Hệ số chuyển hóa thức ăn ......................................................................... 30
Bảng 4.5: Nhiệt độ, ẩm độ, CO2 ................................................................................ 31

vi


DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Chế phẩm sinh học Balasa N01 ................................................................. 16
Hình 2.2: Gà Tàu Vàng ............................................................................................. 16
Hình 3.1: Một số hình ảnh của lô úm gà con ........................................................... 21
Hình 3.2: Một số dụng cụ ở trại ................................................................................ 22
Hình 3.3: Quy trình ủ men Balasa N01 ...................................................................... 25
Hình 4.1: Khối lượng gà qua các tuần tuổi, g/con .................................................... 27
Hình 4.2: Tăng trọng qua các tuần tuổi, g/con/ngày ................................................. 29
Hình 4.3: Hệ số chuyển hóa thức ăn ......................................................................... 31
Hình 4.4: Nhiệt độ, ẩm độ, CO2 ................................................................................. 32

vii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BNN&PTNT

CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta phát triển rất nhanh,
nhiều giống gia súc, gia cầm được lai tạo, du nhập và sản xuất đã đem lại
nhiều lợi nhuận cho người chăn nuôi. Trong đó, chăn nuôi gia cầm có nhiều
ưu thế vì vòng đời nhanh, vốn đầu tư ban đầu thấp, dễ nuôi. Và gà Tàu Vàng
là giống gà thích nghi tốt với điều kiện môi trường ở Đồng bằng sông Cửu
Long, dễ nuôi, nhanh nhẹn, khả năng tự kiếm mồi trong vườn tốt, màu sắc và
chất lượng thịt hợp thị hiếu người tiêu dùng (Đỗ Võ Anh Khoa, 2012). Bên
cạnh những lợi ích về kinh tế thì vấn đề vệ sinh môi trường cũng là vấn đề cần
được quan tâm. Theo thống kê của Cục Chăn nuôi (2010), cả nước có khoảng
8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình và 18.000 trang trại chăn nuôi tập
trung. Với tổng đàn 300 triệu con gia cầm và hơn 37 triệu con gia súc, nguồn
chất thải từ chăn nuôi ra môi trường lên tới 84,45 triệu tấn. Trong đó, nhiều
nhất là chất thải từ heo (24,96 triệu tấn), tiếp đến là gia cầm (21,96 triệu tấn).
Nếu các chất thải thải ra không được xử lý sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của gia
cầm và người chăn nuôi. Hiện nay, có rất nhiều biện pháp để giải quyết vấn đề
gây ô nhiễm môi trường của các loại chất thải. Việc sử dụng các chế phẩm
sinh học để làm đệm lót sinh thái trong chăn nuôi gia cầm đang được ứng
dụng nhiều và mang lại hiệu quả cao.
Nuôi gia cầm bằng đệm lót sinh học đã được nhiều nước trên thế giới áp
dụng để tăng năng suất, góp phần bảo vệ môi trường và ở Việt Nam đã chế tạo
ra loại men vi sinh mang tên "Chế phẩm sinh học Balasa N01". Chế phẩm này
hỗ trợ cho chăn nuôi để hướng chăn nuôi theo phát triển bền vững, thân thiện
với môi trường. Bên cạnh đó, nguyên liệu sử dụng để làm đệm lót là những
nguyên liệu dễ tìm, gần gũi với người dân như trấu, bã mía, mùn cưa … Mỗi
loại nguyên liệu khi trộn với men vi sinh làm đệm lót sẽ có những hiệu quả
khác nhau đối với khả năng sinh trưởng của gà. Vì vậy, việc đánh giá ảnh
hưởng của các loại nguyên liệu khác nhau khi được sử dụng làm đệm lót là
điều cần thiết.


Tuần tuổi

Nhiệt độ (oC)

1–3

30 – 32

3–6

25 – 28

6–8

20 – 22

>8

18 – 20

Sử An Ninh (1999)

Tùy theo hiện trạng đàn gà mà điều chỉnh nhiệt sưởi cho thích hợp. Nếu
gà tụm lại xung quanh nguồn nhiệt, kêu chiêm chíp không ăn là thiếu nhiệt.
Gà tản xa nguồn nhiệt, há miệng thở là thừa nhiệt. Gà đi lại nhanh nhẹn ăn
uống bình thường là nhiệt thích hợp. Nếu gà tụm lại một góc thì phải quan sát
có gió lùa hay không.
Ở giai đoạn dưới 3 tuần tuổi, nếu gà không đủ ấm thì gà sẽ túm lại không
ăn hoặc ăn rất ít dẫn đến gà chậm lớn và gây chết nhiều (Bùi Đức Lũng và Lê

Độ ẩm trong chuồng nuôi phụ thuộc vào nhiệt độ. Ở nhiệt độ thấp thì gà
ăn nhiều hơn, uống nước nhiều hơn và nước sẽ thải ra theo phân nhiều hơn
làm độ ẩm chuồng tăng lên. Ở nhiệt độ cao thì sự bốc hơi nước diễn ra mạnh
hơn, dẫn đến không khí trong chuồng nuôi nóng và khô.
Độ ẩm quá cao sẽ làm lớp đệm chuồng bị ẩm ướt, điều kiện vệ sinh
chuồng nuôi thấp. Độ ẩm cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật trong
chuồng phát triển và có thể sẽ đạt đến giới hạn nguy hiểm, gà dễ bị nhiễm
bệnh, nhất là bệnh kí sinh trùng.

3


Độ ẩm thấp thì bụi sinh ra nhiều làm hỏng màng nhầy niêm mạc, không
khí làm khô da, có thể dẫn đến mổ cắn nhau và ăn lông. Bụi sinh ra nhiều cũng
làm tăng nguy cơ mắc bệnh hô hấp ở gà.
Độ ẩm trong chuồng úm gà con là một vấn đề quan trọng. So với gia súc
có sừng, thì cứ 1 kg khối lượng cơ thể, gà tiết ra một lượng hơi nước gấp 10
lần. Độ ẩm thích hợp của chuồng nuôi gà con là 65%. Cần quan tâm giữa chất
đệm chuồng khô ráo và phòng nuôi thông thoáng (Sử An Ninh, 1999).
Ẩm độ cao sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển. Nếu độ ẩm quá
thấp, không khí khô quá sẽ dẫn đến nhiều bụi – làm tổn thương đến màng
nhầy của đường hô hấp – vi trùng dễ dàng xâm nhập, cũng là một nguyên
nhân gây ra cắn nhau và ăn lông lẫn nhau (Nguyễn Thị Thủy, 2012).
2.1.3 Ánh sáng chuồng nuôi
Thời gian chiếu sáng và cường độ ánh sáng rất quan trọng đối với gà
con. Nếu sử dụng được nguồn chiếu sáng sẽ có tác dụng làm tăng đòi hỏi về
thức ăn, kích thích cơ thể phát triển mà không làm giảm hiệu quả sử dụng thức
ăn. Thời gian chiếu sáng trong 1-2 tuần lễ đầu là 24/24 giờ. Sau đó cứ một
tuần giảm đi 20-30 phút (Sử An Ninh, 1999).
Nếu chiếu sáng quá nhiều thì gà sẽ chạy nhảy, cắn nhau và giảm lượng

Theo Hulzebosch (2004), nhiệt độ bên ngoài chuồng nuôi cao thì tốc độ thông
thoáng khí cao sẽ giúp giảm nhiệt độ trong chuồng nuôi. Về mùa nóng, nếu
tốc độ lưu thông không khí trong chuồng nuôi quá thấp dẫn đến giảm nồng độ
oxy và tăng sự tích tụ khí độc.
Trong chuồng nuôi tập trung với mật độ cao thì cường độ không khí và
sự chuyển động của nó cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sức
khỏe của gà.
Yêu cầu về dưỡng khí của gia cầm cao gấp hai lần so với động vật có vú.
Cứ 1 kg thể trọng gà con cần 2-3 m3 không khí thay đổi trong 1 giờ về mùa
đông và 4-6 m3 về mùa hè (Sử An Ninh, 1999).
Hàm lượng các khí độc trên được sản sinh ra trong quá trình bài tiết phân
và nước tiểu của vật nuôi. Với hàm lượng quá cao thì sẽ gây bất lợi cho gia
súc, gia cầm và người chăn nuôi, có thể gây trúng độc ở hàm lượng cao trong
không khí chuồng nuôi.
Nếu để gà nuôi trong chuồng suốt 24h với hàm lượng CO2 cao thì gà sẽ ủ
rũ và hoạt động kém, ăn uống kém, giảm năng suất. Nên tránh bụi nhiều trong
chuồng vì bụi bay trong không khí làm phát tán vi sinh vật gây bệnh, đồng
thời chui vào đường hô hấp của gà (Nguyễn Thị Thủy, 2012). Nồng độ CO2
trong chuồng nuôi thường được dùng để đánh giá hiệu quả mức độ thông
thoáng trong chuồng hay hệ thống thông gió.
Trong chuồng nuôi, lượng CO2 thường tăng gấp 10 lần so với lượng CO2
của không khí. Đặc biệt trong các chuồng nuôi kém thông thoáng, mật độ cao
thì lượng CO2 càng tăng lên nhiều. Thể tích lớn nhất của khí CO2 trong
chuồng nuôi chỉ được là 0,25% theo tiêu chuẩn vệ sinh thú y (Đỗ Ngọc Hòe,
Nguyễn Thị Minh Tâm, 2005).
Ngoài CO2 thì trong chuồng nuôi còn có khí NH3. Khí NH3 là loại khí
thải do sự phân giải của phân gia súc, gia cầm. Nếu gia cầm tiếp xúc với khí
5



lipid, protein, carbohydrate, … CH4 là một trong những khí gây hiệu ứng nhà
kính. Theo Sommer and Moller (2000), sự có mặt của CH4 trong không khí
liên quan chặt chẽ tới sự biến đổi của khí hậu, chúng đóng góp 9-20% nguy cơ
làm khí hậu toàn cầu nóng lên. Lượng khí CH4 thải ra phụ thuộc vào phương
pháp xử lý phân, nhiệt độ và khối lượng chất rắn bay hơi trong phân.
6


Theo Takai et al. (1998), sự tạo thành bụi trên lớp đệm chuồng phụ thuộc
nhiệt độ, độ ẩm, nguyên liệu được dùng làm đệm lót, thời gian sử dụng đệm
lót và sự hoạt động của gà.
Bụi vận chuyển nhiều vi sinh vật gây bệnh, tạo ra bụi vi khuẩn do dòng
chuyển động của không khí được tạo nên bởi hoạt động của con người hoặc gà
nuôi trong chuồng. Trong một thời gian, các hạt bụi khuẩn trở thành hạt bụi
sương vi khuẩn và tiếp tục lắng đọng xuống (Hoàng Thu Hằng, 1997).
Khi giảm nhiệt độ hoặc tăng độ ẩm của không khí thì quá trình ngưng tụ
hơi nước lên các hạt bụi tăng làm trọng lượng hạt tăng, dẫn đến tăng quá trình
lắng đọng của bụi. Khi các vi sinh vật tồn tại với mật độ cao thì vật nuôi sẽ hít
không khí nhiễm vi khuẩn. Khi đó không khí là yếu tố lan truyền mầm bệnh.
Đa số vi sinh vật gây bệnh đường hô hấp có thể tồn tại lâu, độc tính kéo dài
trong môi trường không khí và đất.
Ngoài các vi khuẩn gây bệnh thì trong chuồng nuôi còn có các bào tử
nấm mốc mà nguồn gốc của chúng thường từ thức ăn rơi vãi nhiễm nấm. Theo
Seedorf et al. (1998), khí hậu nóng ấm của nước ta rất thuận lợi cho vi khuẩn
gây bệnh và nấm mốc phát triển.
Tóm lại, cần tạo một môi trường sống sạch sẽ, thoáng mát cho vật nuôi
để giúp vật nuôi phát triển tốt và giảm thiểu các khí độc và bụi bẩn trong
chuồng nuôi. Để đánh giá mức độ vệ sinh không khí chuồng nuôi, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành một số tiêu chuẩn như sau:
- Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 875-2006 về yêu cầu vệ sinh đối với cơ sở


2,5-3,0

- Theo tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (TCVN 5937/5938-1995), nồng
độ NH3 và H2S cho phép ở khu dân cư là 0,2 mg/m3 và 0,008 mg/m3 (0,262
ppm và 0,0052 ppm), ở khu sản xuất là 10 mg/m3 và 2 mg/m3 (13,176 ppm và
1,3 ppm).

7


- Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN 01 – 15: 2010/BNNPTNT)
được ban hành theo Thông tư số 04/2010/TT-BNNPTNT ngày 15/1/2010 về
các điều kiện đảm bảo trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, yêu cầu điều
kiện vệ sinh thú y không khí chuồng nuôi phải đạt các chỉ tiêu quy định ở phụ
lục của quy chuẩn.
Bảng 2.3: Yêu cầu vệ sinh thú y không khí chuồng nuôi

TT

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

1

Vi khuẩn hiếu khí

VK/m3


nuôi gà.
Bảng 2.4: Nồng độ một số chất khí trong chuồng nuôi gà theo tiêu chuẩn của Cộng đồng
chung Châu Âu (EU)

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Giới hạn tối đa

CO

vol %

0

CO2

vol %


Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Giới hạn tối đa

O2

vol %

>19,6

CO2

vol %


cơ và làm ức chế các vi sinh vật có hại và gây bệnh.
Các vi sinh vật này có tác dụng lên men tiêu hủy phân, nước tiểu làm
giảm các khí độc và mùi hôi trong chuồng nuôi, tạo môi trường trong sạch
không ô nhiễm, ít ruồi muỗi và vi sinh vật gây hại, do đó con vật sống thoải
mái, giảm căng thẳng, tăng sinh trưởng và có sức đề kháng cao. Do nuôi trên
đệm lót lên men, phân và nước tiểu hầu như bị tiêu hủy nên người ta còn gọi là
phương pháp chăn nuôi không chất thải.
Khi chất đệm chuồng quá ẩm sẽ làm cho vi sinh vật phát triển với tốc độ
nhanh, dẫn đến dễ gây ra bệnh chân sưng tấy, nứt chân, gây dị dạng ngón
chân, viêm khớp,… cho gà.
Khi gà bị bệnh về đường tiêu hóa thì lớp đệm chuồng cũng sẽ bị ô
nhiễm, từ đó gây nên nhiều bệnh khác.

9


Nếu lớp đệm chuồng quá khô thì trong không khí sẽ chứa nhiều loại gây
viêm đường hô hấp và nhiễm khuẩn, gây giảm sức đề kháng.
Các vi sinh vật trong chế phẩm được chọn lọc rất nghiêm ngặt theo các
tiêu chí về đặc điểm sinh hóa học cụ thể. Một trong những tiêu chí quan trọng
là giữa chúng phải có được mối quan hệ cộng sinh và hỗ sinh để từ đó tạo ra
sự cân bằng sinh thái trong môi trường mà chúng tồn tại.
Nếu giữa các chủng vi sinh vật không có được mối quan hệ tương hỗ thì
chắc chắn tổ hợp vi sinh vật được chọn lọc và tập hợp sẽ bị phá vỡ trong một
thời gian ngắn. Bởi lẽ sự phát triển độc lập của từng chủng trong môi trường
nhiều chất thải sẽ chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có cả sự cạnh
tranh ngay trong các chủng của tổ hợp với nhau và sự cạnh tranh của nhiều vi
khuẩn có hại có mặt trong chất thải. Sự cân bằng sinh thái vi sinh vật trong
chuồng nuôi sẽ ức chế các vi khuẩn gây thối, vi khuẩn gây bệnh trong chuồng
nuôi, làm giảm mùi hôi trong chuồng và giảm bệnh cho gia súc (Thaxton et

thấp, nhiệt độ không khí chuồng nuôi cao,… sẽ tạo điều kiện cho các vi sinh
vật yếm khí phát triển, phân giải các hợp chất hữu cơ có trong phân giải phóng
các khí độc hại gây mùi khó chịu (Briggs G., 2004).
Sử dụng chế phẩm sinh học chứa các chủng vi sinh vật như Lactobacillus
acidophilus, Streptococcus faecium, Bacillus subtilis,... trộn vào chất đệm
chuồng, các chủng vi sinh vật này khi phát triển sẽ tạo cho đệm lót chuồng có
độ pH axit (pH dưới 7) làm bất hoạt vi khuẩn phân giải chất hữu cơ chứa nito
để phát thải amoniac (NH3) và amoniac sẽ tồn tại ở dạng ion amoni (NH4+),
không tạo thành dạng khí amoniac (NH3) bay hơi gây ô nhiễm môi trường.
Theo Trịnh Văn Thịnh và ctv (1986), khi chất đệm lót được sử dụng
không đúng cách, không đúng quy định, các quá trình lên men và thối rữa sẽ
xảy ra mạnh có thể làm tăng lượng nhiệt tích tụ trong chuồng.
- Đệm lót sinh thái giúp môi trường chăn nuôi không bị ô nhiễm vì:
Không có chất thải từ chăn nuôi ra môi trường (phân, nước thải của vật
nuôi được hệ vi sinh vật trong đệm lót phân giải thành thức ăn lẫn với đệm
lót).
Không có mùi hôi thối từ phân, nước tiểu của vật nuôi do hệ men vi sinh
vật trong chế phẩm sử dụng đã cạnh tranh và diệt hết các vi sinh vật có hại và
các vi sinh vật sinh mùi khó chịu. Không ảnh hưởng tới sức khỏe của gà và
người chăn nuôi.
Hạn chế ruồi, muỗi (vì không có nước để muỗi sinh sản, không có phân
để ruồi đẻ trứng).
Các mầm bệnh là nguyên nhân lây lan dịch bệnh bị tiêu diệt hoặc hạn
chế tới mức thấp nhất.
- Đệm lót sinh thái giúp tiết kiệm 80% nước trong chăn nuôi vì:
Không sử dụng nước rửa chuồng
Không sử dụng nước để tắm, rửa cho vật nuôi
Nước chỉ sử dụng cho vật nuôi uống và phun giữ độ ẩm cho nền chuồng
(đệm lót chuồng nên có độ ẩm 25-30%).
- Đệm lót sinh thái giúp tiết kiệm 60% nhân lực vì:

của chúng, còn phần lớn các chất dinh dưỡng bị phân giải thành năng lượng,
giải phóng CO2, nước và một số hợp chất hữu cơ khác.
Các chất khí mà trong đó chủ yếu là khí CO2 và nước sẽ bị phát tán vào
không khí. Một lượng nhỏ hợp chất hữu cơ như các axit hữu cơ, rượu, aldehid,
este… và một số chất khoáng hữu cơ sẽ tích tụ lại trong đệm lót và dần dần
cũng bị phân hủy.
2.2.2.2 Sự khử mùi hôi và khí độc
Trong chuồng nuôi tích tụ nhiều khí độc như NH3, CH4, N2O, H2S,
CO2 làm cho vật nuôi dễ sinh các bệnh đường hô hấp, ảnh hưởng đến sinh
trưởng, tiêu tốn thức ăn lớn, gây tổn thất về kinh tế, làm ảnh hưởng đến sức

12


khỏe của người chăn nuôi và những người xung quanh (Blanes-Vidal et al.,
2008).
Tác dụng khử mùi hôi và khí độc quan trọng nhất là do vi sinh vật. Vi
sinh vật có ích thực hiện sự giảm mùi theo hai cách:
- Ức chế và khử vi khuẩn lên men gây thối trong đệm lót chuồng do tác
dụng cạnh tranh của vi sinh vật có lợi.
- Trong thành phần của tổ hợp vi sinh vật được đưa vào xử lý đệm
chuồng có những chủng có thể sử dụng các khí độc làm nguồn dinh dưỡng cho
sự sinh trưởng phát triển của mình, do đó mà góp phần làm giảm nhanh khí
độc trong đệm lót (phân mới thải ra đã có nhiều khí thối độc do sự lên men của
các vi khuẩn thối rữa trong ruột già động vật).
Sự lên men oxy hóa của vi sinh vật để phân giải phân thành các chất
không có mùi. Đó là sự oxy hóa triệt để các chất dinh dưỡng trong phân để thu
năng lượng và tạo ra CO2 và nước.
2.2.2.3 Tiêu diệt vi khuẩn có hại và gây bệnh
Tăng cường sức đề kháng và khả năng miễn dịch của vật nuôi do môi

thể diệt được các nha bào của các vi khuẩn gây bệnh khó bị tiêu diệt.
Ngoài ra, không sợ vật nuôi trên đệm lót lên men bị các bệnh vi khuẩn
hay virut do chúng có sức đề kháng tự nhiên và sức đề kháng này được tăng
lên khi sống trong môi trường thoải mái, hơn nữa do tăng số lượng vi sinh vật
có ích lên rất nhiều lần vi khuẩn có hại nên có sự tiêu diệt vi khuẩn có hại do
tác dụng đối kháng giữa chúng.
2.2.3 Nguyên liệu làm đệm lót
Nguyên liệu sử dụng làm chất đệm lót nền chuồng nuôi gia cầm phải
thỏa mãn các điều kiện sau: khả năng hút ẩm tốt (khả năng hút ẩm từ 1401.200% so với khối lượng ban đầu của nó); không bị nát vụn, không tạo nhiều
bụi, không bị phân hủy bởi vi sinh vật; giá rẻ, dễ kiếm (Nguyễn Đức Hưng,
2006).
Nguyên liệu dùng làm đệm lót chuồng là các nguyên liệu có độ xơ cao,
có độ trơ cứng, không dễ bị làm mềm nhũn, không dễ phân giải, không độc,
không gây kích thích và có lượng chất dinh dưỡng nhất định.
Có thể kết hợp nhiều loại nguyên liệu để có một lớp đệm chuồng tốt hơn
khi dùng riêng lẻ từng loại.
Một số nguyên liệu thường được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm như
mùn cưa (khả năng hút ẩm đến 420%), lõi ngô nghiền (hút ẩm 140-150%),
rơm rạ, trấu (hút ẩm 240%), tuy nhiên rơm rạ, lõi ngô thường dễ bị nhiễm nấm
mốc. Trong thực tế, nguyên liệu sử dụng làm đệm lót lên men vi sinh vật tốt
nhất là mùn cưa hoặc dăm bào (Tiquia et al., 1998; Honeyman et al., 2003) vì
chúng thỏa mãn tất cả điều kiện trên và ít bị mốc. Hoặc có thể sử dụng hỗn
hợp các nguyên liệu gồm mùn cưa + trấu hoặc dăm bào với tỷ lệ thích hợp.
Tuy nhiên, khi sử dụng mùn cưa phải đặc biệt lưu ý lựa chọn loại mùn cưa có
kích thước hạt lớn từ 10mm để tránh ảnh hưởng đến hô hấp của gà.
Trấu là lớp vỏ ngoài cùng của hạt lúa và được tách ra trong quá trình xay
xát. Trong vỏ trấu chứa khoảng 75% chất hữu cơ dễ bay hơi sẽ cháy trong quá
trình đốt và khoảng 25% còn lại chuyển thành tro. Chất hữu cơ chứa chủ yếu
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status