TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 36 (2010 – 2014)
ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH VẬN TẢI
HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG
TRONG LÃNH THỔ VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TS. Cao Nhất Linh
Mai Thị Út
Bộ môn: Luật Thương mại
MSSV: 5106208
Lớp : Luật Thương mại 2
Cần Thơ, tháng 11/2013
Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam
SVTH: Mai Thị Út
Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam
2.2.1.1 Người vận chuyển ............................................................................... 23
2.2.1.2 Người thuê vận chuyển ....................................................................... 24
2.2.1.3 Người nhận hàng ................................................................................ 25
2.2.2 Hình thức hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không ...... 25
2.2.3 Đối tượng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 26
2.2.4 Nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không . 27
2.2.4.1 Chứng từ vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không ................. 27
2.2.4.2 Điều lệ vận chuyển.............................................................................. 28
2.2.4.3 Giá cước vận tải hàng hóa bằng đường hàng không ......................... 29
2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng
đường hàng không .................................................................................................. 30
2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của người vận chuyển.................................................. 31
2.3.1.1 Quyền của người vận chuyển.............................................................. 31
2.3.1.2 Nghĩa vụ của người vận chuyển ......................................................... 32
2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của người gửi hàng...................................................... 33
2.3.2.1 Quyền của người gửi hàng ................................................................. 33
2.3.2.2 Nghĩa vụ của người gửi hàng ............................................................. 34
2.4 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.................................................................... 35
2.4.1 Bồi thường thiệt hại cho người gửi hàng ................................................... 35
2.4.2. Bồi thường thiệt hại cho người vận chuyển .............................................. 37
2.5 Giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển .............. 37
2.5.1 Mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển ... 38
2.5.2 Đơn vị tính mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại ...................... 39
2.5.3 Những trường hợp không được hưởng giới hạn trách nhiệm bồi thường
thiệt hại .................................................................................................................. 39
3.4 Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về vận tải hàng hóa bằng
đường hàng không .................................................................................................. 56
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 60
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
3
SVTH: Mai Thị Út
Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Trong các hoạt động vận tải thì vận tải hàng không là một loại hình vận tải
quan trọng góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy quá trình mua bán, trao đổi hàng
hóa. Mặc dù chỉ vận chuyển 1% tổng khối lượng hàng hóa nhưng vận tải hàng
không lại chiếm đến 20% giá trị hàng hóa thế giới. Trong xu hướng hội nhập toàn
cầu của nền kinh tế hiện nay, vai trò của vận tải hàng không ngày càng được nâng
cao.
Từ khi Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới WTO, đã tạo
điều kiện cho ngành kinh tế cũng như ngành hàng không hội nhập vào thị trường
khu vực và thế giới. Điều này vừa tạo ra những thời cơ thuận lợi cũng như thách
thức đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không. Cơ hội được mở rộng
thị trường, tiếp thu những kinh nghiệm quản lý từ các nước phát triển, thu hút nguồn
đầy tiềm năng với những ưu thế về vị trí địa lý, nguồn nhân lực, chính sách phát
triển của nhà nước,… Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa làm chủ được
thị trường hấp dẫn này bởi họ vẫn chưa am tường những quy định của pháp luật về
hàng không trong nước. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, người viết chỉ đề cập
đến những quy định của pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng
không trong lãnh thổ Việt Nam và thực tế áp dụng. Qua đó, đề xuất một số giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong nước.
3. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề “Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng
đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam” nhằm giúp các doanh nghiệp trong
nước hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về vận tải hàng không. Từ đó, đề xuất
một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hàng không, góp phần phát triển vận tải
hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, người viết đã sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu bao gồm: phương pháp phân tích luật viết, liệt kê, thu thập và xử lý tài
liệu.
5. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn ngoài mục lục, lời mở đầu, danh mục tài liệu tham
khảo, nội dụng chính của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1. Khái quát chung về vận tải hàng hóa bằng đường hàng
không trong lãnh thổ Việt Nam. Ở chương này, người viết giới thiệu đến người đọc
một cách khái quát về các khái niệm cơ bản liên quan đến vận tải hàng hóa bằng
đường hàng không, đặc điểm, vai trò cũng như lịch sử hình thành và phát triển của
loại hình vận tải này, nhằm giúp người đọc hiểu một cách khái quát về vận tải hàng
hóa bằng đường hàng không.
Chương 2. Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường
hàng không. Trong chương này, người viết tập trung phân tích về điều kiện kinh
doanh, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, cơ sở pháp lý điều
chỉnh về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia và quy định về vấn đề giới hạn
Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG
HÀNG KHÔNG TRONG LÃNH THỔ VIỆT NAM
1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến vận tải hàng hóa bằng đường hàng
không
1.1.1 Khái niệm hàng hóa
Hàng hóa ra đời từ rất sớm và đóng vai trò quan trọng trong đời sống của
con người. Trải qua các thời kỳ phát triển của xã hội, hàng hóa càng trở nên phong
phú và đa dạng hơn.
Hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị. Theo
nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được. Theo nghĩa
hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể
trao đổi, mua bán được.
Sự ra đời của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cho chúng ta một cái nhìn rõ nét
hơn về khái niệm hàng hóa. Theo đó, “hàng hóa là sản phẩm của lao động, nó có
thể thỏa mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi,
mua bán”. Hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng1.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm hàng hóa không được quy
định chung mà tùy thuộc vào từng lĩnh vực sẽ có các quy định cụ thể về hàng hóa.
Điều này nhằm tạo sự thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật, bởi mỗi lĩnh vực hoạt
động đều mang những đặc trưng riêng.
Trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, “hàng hóa là bất cứ tài
sản nào, kể cả container, cao bản hay công cụ vận chuyển, đóng góp tương tự khác
mà không do người vận tải cung cấp”2.
Theo Luật Thương mại năm 2005 quy định: “hàng hóa bao gồm tất cả
các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền
với đất đai”3.
1.1.2 Khái niệm vận tải
Trong tác phẩm “Bàn về vận tải và giao nhận ngoại thương”, I.ta-rơ-xki
đã viết “Ai nói đến buôn bán cũng phải nói đến vận tải. Buôn bán có nghĩa là hàng
hóa được thay đổi người sở hữu, còn vận tải làm thay đổi vị trí”7. Thật vậy, vận tải
luôn đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và lưu thông thương mại.
Vận tải là hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm làm thay
đổi vị trí của con người, hàng hóa từ nơi này đến nơi khác.8
Vận tải được xem là một ngành sản xuất đặc biệt. Bởi vì, nó mang nhiều
đặc điểm khác với những ngành sản xuất vật chất thông thường.
Một là, sản xuất trong vận tải là sự tác động về không gian và thời gian,
không có sự tác động về mặt kỹ thuật vào đối tượng lao động. Hơn nữa, trong quá
trình sản xuất của vận tải cũng không tồn tại đối tượng lao động mà chỉ có đối tượng
chuyên chở là con người, hàng hóa.9
Hai là, tương tự như các ngành sản xuất khác, sản xuất trong vận tải cũng
tạo ra sản phẩm, đó là sự di chuyển vị trí của đối tượng chuyên chở.
Sản phẩm vận tải cũng có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử
dụng. Tuy nhiên, sản phẩm vận tải không có hình dạng, kích thước nhất định, không
Khoản 28 Điều 3, Luật Giao thông đường bộ năm 2008.
Khoản 4 Điều 3, Thông tư số 04/2012/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải quy định thủ tục cấp phép cho
tàu biển nước ngoài vận tải nội địa.
6
Khoản 12 Điều 3, Thông tư số 30/2012/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải quy định chi tiết Chương
trình an ninh hàng không dân dụng Việt Nam và kiểm soát chất lượng an ninh hàng không dân dụng.
Khoản 41 Điều 3, Thông tư này cũng định nghĩa: “Suất ăn là đồ ăn, đồ uống, các dụng cụ sử dụng cho bữa
ăn trên tàu bay”
7
I.ta-rơ-xki: Bàn về vận tải và giao nhận ngoại thương, Nxb. Vasava – Ba Lan, 1968, tr.267.
8
Phạm Mạnh Hiền, nhà giáo ưu tú Phan Hữu Hạnh (hiệu đính): Nghiệp vụ giao nhận vận tải và bảo hiểm
trong ngoại thương, Nxb.Lao động – xã hội, 2012, tr.19.
- Vận tải đường ống.
Dựa vào phạm vi hoạt động, có thể chia vận tải thành 2 loại:
- Vận tải trong nước;
- Vận tải quốc tế.
Mỗi loại hình vận tải có vị trí, vai trò khác nhau đối với một nền kinh tế,
nó gắn kết với nhau cùng thúc đẩy phát triển, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho nền
kinh tế.
1.1.3 Khái niệm vận tải hàng hoá bằng đường hàng không
Nền sản xuất ngày càng phát triển, nhu cầu giao thương của xã hội càng
cao đòi hỏi sự phát triển tương xứng của mạng lưới lưu thông, thương mại. Trong
đó, quá trình vận tải, đặc biệt là vận tải hàng hóa đóng vai trò hết sức quan trọng, là
sợi dây gắn kết giữa sản xuất, lưu thông và tiêu dùng.
Về cơ bản, vận tải hàng hóa là một dạng khá phổ biến của dịch vụ
10
logistics . Dịch vụ vận tải hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó, thương nhân
tổ chức thực hiện việc nhận hàng, vận chuyển và giao hàng theo thỏa thuận với
khách hàng để hưởng thù lao.
Điểm c Khoản 2 Điều 4, Nghị định số 140/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại
về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ
Logistics.
10
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
9
SVTH: Mai Thị Út
Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam
Khoản 2 Điều 1, Nghị định số 87/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu năm 2005: “Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp
chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại-công
nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ có quan hệ
mua bán trao đổi hàng hóa giữa khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu”
13
Khoản 2 Điều 2, Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu năm 2005.
11
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
10
SVTH: Mai Thị Út
Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam
khăn vì phải xây dựng các tuyến đường lưu thông. Bên cạnh đó, vận tải đường thủy
cũng phải chịu ảnh hưởng của mực nước thủy triều. Tuy nhiên, những điều này lại
không gây trở ngại đối với vận chuyển bằng đường hàng không. Bởi vì, tuyến
đường trong vận tải hàng không là không trung và hầu như là đường thẳng, không
tốn kém chi phí xây dựng.
Thứ hai, vận tải hàng hóa bằng đường hàng không có tốc độ vận chuyển
rất lớn, có thể đạt từ 900 đến 1000km/h, gấp 27 lần vận tải đường biển, gấp 10 lần ô
tô và 8 lần tàu hỏa14, nhờ đó rút ngắn được thời gian vận chuyển, đem lại hiệu quả
kinh tế cao. Nếu so sánh trên cùng một tuyến đường 500 km, tàu hỏa đi hết 8 giờ, ô
tô đi hết 10 giờ, tàu biển đi hết 27 giờ, trong khi máy bay chỉ mất 1 giờ15. Loại hình
vận tải này thích hợp cho việc vận chuyển các loại hàng hóa có thời gian bảo quản
ngắn (thực phẩm, hoa quả,…) hoặc có nhu cầu khẩn cấp như viện trợ, cứu trợ,…
Một là, giá cước vận tải rất cao, gấp 8 lần vận tải đường biển, gấp 2 đến 4
lần vận tải bằng ô tô và tàu hỏa16. Vì vậy, những loại hàng hóa thông thường không
được vận chuyển bằng loại hình vận tải này.
Hai là, vận tải bằng đường hàng không không thích hợp cho việc vận
chuyển các loại hàng hóa cồng kềnh, hàng hóa có khối lượng lớn hoặc hàng hóa có
giá trị thấp. Bởi vì, nếu chi phí vận tải chiếm một tỉ lệ quá lớn trong giá bán của
hàng hóa sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa đó so với các mặt hàng cùng
chủng loại, mặt hàng thay thế.
Ba là, vận tải bằng đường hàng không đòi hỏi vốn đầu tư lớn về cơ sở vật
chất kỹ thuật như xây dựng cảng hàng không, sân bay, mua sắm các thiết bị phục vụ
việc vận chuyển cũng như đào tạo nguồn nhân lực.
Bốn là, mặc dù, vận tải hàng không được xem là phương thức vận tải an
toàn nhất. Tuy nhiên, tổn thất khi có rủi ro rất lớn và hậu quả thảm khốc.
Năm là, việc tăng cường tần suất hoạt động của các phương tiện hàng
không góp phần gây ô nhiễm không khí. Các chất khí độc hại như nitơ ôxit, sunfur
ôxit, hydrocacbon,…gây ô nhiễm tầng ô-zon và góp phần tăng lượng khí thải gây
hiệu ứng nhà kính, làm trái đất nóng dần lên.
1.3 Vai trò của vận tải hàng hóa bằng đường hàng không
Các nhà kinh tế học đã ví rằng: “Nếu nền kinh tế là một cơ thể sống, trong
đó hệ thống giao thông là huyết mạch thì vận tải là quá trình đưa các chất dinh
dưỡng đến nuôi các tế bào của cơ thể sống đó”17. Có thể nói, vận tải, đặc biệt là vận
tải hàng hóa, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của
mọi quốc gia trên thế giới.
Vận tải hàng hóa bằng đường hàng không nói riêng và vận tải hàng hóa
nói chung, là cây cầu nối liền hai bờ sản xuất và tiêu dùng. Thông qua việc vận
chuyển nguyên vật liệu đến nơi sản xuất và mang sản phẩm đến tay người tiêu dùng,
vận tải hàng hóa bằng đường hàng không góp phần phục vụ quá trình sản xuất và
thúc đẩy sản xuất phát triển. Hơn thế nữa, việc vận chuyển hàng hóa bằng đường
Phạm Mạnh Hiền, nhà giáo ưu tú Phan Hữu Hạnh (hiệu đính): Nghiệp vụ giao nhận vận tải và bảo hiểm
thất nghiệp và các vấn đề tiêu cực trong xã hội.
1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của vận tải hàng hóa bằng đường hàng
không
1.4.1 Thế giới
Từ thế kỷ XV, Leonardo da Vinci đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu
động cơ đập cánh. Tuy nhiên, không có sáng kiến nào đáng chú ý cho đến thế kỷ
XVIII.19
Từ năm 1799 – 1890, Nam tước Anh George Cayley đã lập ra khái niệm
mới cho máy bay, đặt nền tảng cho khí động học. Năm 1843, nhà sáng chế William
Samuel Henson tung ra mẫu thiết kế có bản quyền về máy bay hoạt động bằng hơi
nước. Đến năm 1890, kỹ sư Pháp Clément Ader chế tạo thành công máy bay hơi
nước nhưng cuộc thử nghiệm của ông đã thất bại.
Trang thông tin điện tử của Cục Hàng không Việt Nam: Sơ lược lịch sử ngành Hàng không dân dụng Việt
Nam, http://www.caa.gov.vn/Default.aspx?tabid=1&catid=430.448&articleid=7987, [ngày truy cập:
20/8/2013].
19
Hoàng Minh: Hàng không – Quá khứ và tương lai, Báo Sài Gòn Giải Phóng online,
http://www.sggp.org.vn/SGGP12h/2008/1/139030/, [ngày truy cập: 17/8/2013]
18
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
13
SVTH: Mai Thị Út
Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam
Giai đoạn 1891 - 1896, kỹ sư Đức Otto Lilienthal thực hiện hàng ngàn
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
14
SVTH: Mai Thị Út
Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam
không lại chiếm đến 20% giá trị hàng hoá thế giới. Các cụm cảng hàng không chủ
yếu tập trung ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Đông Bắc Á, Châu Á Thái Bình Dương21.
1.4.2 Tại Việt Nam
Ngày 15/01/1956, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
ban hành Nghị định số 666/TTg thành lập Cục Hàng không dân dụng Việt Nam –
mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam. 22
Vào thời gian đầu sau khi thành lập, đội bay chỉ có 5 chiếc máy bay cánh
quạt IL 14, AN 2, Aero 45… Chuyến bay nội địa đầu tiên được khai trương vào
tháng 9/1956.
Kể từ khi ra đời cho đến nay, Hàng không dân dụng nước ta, đặc biệt là lĩnh
vực vận tải, đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với những biến cố, thăng trầm về
chính trị - xã hội và kinh tế trong nước và thế giới.
* Trước năm 1956
Ngày 13/11/1917, Pháp cho xây dựng sân bay đầu tiên ở Việt Nam. Đến năm
1918, tiếp tục cho phép xây dựng sân bay Bạch Mai ở Hà Nội. Ngày 04/6/1936,
khánh thành ga hàng không Gia Lâm – một trong những ga được trang bị hoàn hảo
nhất vùng Viễn Đông thời kỳ này. Một số nhà tư sản Việt Nam đã liên doanh với
hãng hàng không Pháp thành lập Công ty Hàng không Việt Nam với tên là Air
Vietnam vào năm 1951. Trong những năm đầu, công ty có 3 chiếc DC3, 3 chiếc
DC4 và 3 chiếc Bristol dùng để chở hàng23.
tiếp tục lập thành tích xuất sắc khi thực hiện 163 chuyến bay, cơ động 4.250 chiến
sĩ, vận chuyển 120,7 tấn vũ khí, đạn dược, khí tài, tài liệu, bản đồ, lương thực, thuốc
men,..góp phần vào thắng lợi lịch sử ngày 30/4/1975 của đất nước.
Trong chiến tranh biên giới Tây Nam: Với tinh thần cộng sản quốc tế
mãnh liệt, không ngại gian khổ, hy sinh, hàng không dân dụng Việt Nam đã huy
động toàn bộ lực lượng vận chuyển hơn 10.000 cán bộ, chiến sĩ, vũ khí, khí tài,
quân dụng,… góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của nhân dân ta và nước bạn
Campuchia.
Trong chiến tranh biên giới phía Bắc: Hàng không dân dụng đã vận
chuyển 27.000 bộ đội chiến đấu, thuốc men, lương thực chi viện kịp thời cho các
đơn vị chiến đấu và người dân vùng chiến.
Sau khi đất nước thống nhất, mặc dù gặp nhiều khó khăn (nền kinh tế
bị tàn phá nặng nề, các hệ thống sân bay do ảnh hưởng chiến tranh đã bị hư hại
nhiều,…). Nhưng với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta, cùng với sự
nỗ lực của ngành, Hàng không dân dụng đã đạt nhiều thành tích nổi bật. Đến cuối
năm 1990, Hàng không Việt Nam đã vận chuyển 1.149.000 lượt hành khách, 3.040
tấn hàng hóa, điều hành 43.300 chuyến bay. Mở lại hầu hết các đường bay trong
nước và một số đường bay quốc tế,..
Giai đoạn 1976 - 1980 đánh dấu bước ngoặt lớn khi khai thác hiệu quả
nhiều tuyến bay quốc tế đi đến các các nước châu Á như Lào, Cam-pu-chia, Trung
Quốc, Thái Lan, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a và Xinh-ga-po. Vào cuối giai đoạn này,
hàng không dân dụng Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Hàng không Dân
dụng Quốc tế (ICAO)24.
* Giai đoạn 1990 đến nay
Tháng 4/1993 chính là thời điểm quan trọng lịch sử của hàng không
Việt Nam khi Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) chính thức
Trang thông tin điện tử của Công ty cổ phần dịch vụ giao nhận tiếp vận DVN: Hàng không Việt Nam hình
thành và phát triển như thế nào?, http://vantaidvn.com/tin-tuc/hang-khong-viet-nam-hinh-thanh-va-phattrien-nhu-the-nao.aspx, [ngày truy cập: 29/10/2013].
24
không dân dụng Việt Nam nói chung sẽ ngày càng phát triển và góp phần vào sự
phát triển bền vững của đất nước.
Tóm lại, mặc dù vận tải hàng hóa bằng đường hàng không ở nước ta ra
đời chưa lâu nhưng loại hình dịch vụ này đã có sự phát triển nhanh chóng do sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật và nhu cầu lưu thông hàng hóa của nền kinh tế thị trường.
Vận tải hàng hóa bằng đường hàng không đã có những đóng góp tích cực vào sự
tăng trưởng của nền kinh tế nước ta. Với việc phát huy những ưu thế về chất lượng
Trang thông tin điện tử của Công ty cổ phần dịch vụ giao nhận tiếp vận DVN: Hàng không Việt Nam hình
thành và phát triển như thế nào?, http://vantaidvn.com/tin-tuc/hang-khong-viet-nam-hinh-thanh-va-phattrien-nhu-the-nao.aspx, [ngày truy cập: 29/10/2013].
26
Trang thông tin điện tử của Cục Hàng không Việt Nam: Sơ lược lịch sử ngành Hàng không dân dụng Việt
Nam, http://www.caa.gov.vn/Default.aspx?tabid=1&catid=430.448&articleid=7987, [ngày truy cập:
20/8/2013].
25
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
17
SVTH: Mai Thị Út
Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam
dịch vụ và khắc phục những hạn chế về khối lượng vận tải, giá cước vận
chuyển,…vận tải hàng hóa bằng đường hàng không hứa hẹn sẽ phát triển hơn nữa,
góp phần đáng kể vào sự phát triển chung của đất nước.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
các hình thức như doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty hợp danh, công ty tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Khoản 1 Điều 110, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006.
Điều 24 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định về Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh:
“Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Ngành, nghề đăng ký kinh doanh không thuộc lĩnh vực cấm kinh doanh;
2. Tên của doanh nghiệp được đặt theo đúng quy định tại các điều 31, 32, 33 và 34 của Luật này;
3. Có trụ sở chính theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật này;
4. Có hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ theo quy định của pháp luật;
5. Nộp đủ lệ phí đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Lệ phí đăng ký kinh doanh được xác định căn cứ vào số lượng ngành, nghề đăng ký kinh doanh; mức lệ phí
cụ thể do Chính phủ quy định.”.
27
28
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
19
SVTH: Mai Thị Út
Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam
theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Trong đó, ngành kinh doanh chính là
vận chuyển hàng không. Hiện nay ở Việt Nam tồn tại các loại hình doanh nghiệp
kinh doanh vận chuyển hàng không như Công ty TNHH một thành viên – Vietnam
Airlines (doanh nghiệp nhà nước), Công ty cổ phần hàng không Jesta Pacific
Airlines, các hãng hàng không tư nhân như VietjetAir, Indochina Airlines, Trãi
Thiên, Blue Sky, Air Mekong,…
nhiệm, có văn bằng, chứng chỉ liên quan được cấp hoặc công nhận theo quy định của pháp luật.
29
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
20
SVTH: Mai Thị Út
Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam
Thứ tư, đáp ứng điều kiện về vốn theo quy định của Chính phủ. Theo quy
định của pháp luật, kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không là
ngành nghề có vốn pháp định. Vì vậy, để kinh doanh dịch vụ này doanh nghiệp phải
đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về vốn. Theo đó, vốn tối thiểu để thành lập hãng hàng
không và duy trì kinh doanh vận chuyển hàng không cụ thể là31:
-
Khai thác đến 10 tàu bay: 700 tỷ đồng Việt Nam đối với hãng hàng
không có khai thác vận chuyển hàng không quốc tế, 300 tỷ đồng Việt Nam đối với
hãng hàng không chỉ khai thác vận chuyển hàng không nội địa;
-
Khai thác từ 11 đến 30 tàu bay: 1.000 tỷ đồng Việt Nam đối với
hãng hàng không có khai thác vận chuyển hàng không quốc tế, 600 tỷ đồng Việt
Nam đối với hãng hàng không chỉ khai thác vận chuyển hàng không nội địa;
- Khai thác trên 30 tàu bay: 1.300 tỷ đồng Việt Nam đối với hãng
Pháp luật về kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong lãnh thổ Việt Nam
Thứ sáu, có trụ sở chính và địa điểm kinh doanh chính tại Việt Nam.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, “Trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm
liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp; phải ở trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ
được xác định gồm số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc tên xã, phường, thị trấn, huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện
thoại, số fax và thư điện tử (nếu có)”33.
2.1.2 Điều kiện đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Bên cạnh những điều kiện chung đối với doanh nghiệp, để được cấp Giấy
phép kinh doanh vận chuyển hàng không, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
còn phải đáp ứng thêm một số điều kiện sau đây34:
Thứ nhất, bên nước ngoài góp vốn với tỉ lệ theo quy định của Chính phủ.
Hãng hàng không có vốn đầu tư nước ngoài phải đáp ứng điều kiện bên nước ngoài
không chiếm quá 30% vốn điều lệ đối với hãng hàng không. Một cá nhân Việt Nam
hoặc pháp nhân Việt Nam không có vốn đầu tư nước ngoài phải giữ vốn điều lệ lớn
nhất.35 Quy định này nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh cùng
lĩnh vực. Bởi vì, các nhà đầu tư nước ngoài luôn tìm cơ hội để thâm nhập vào thị
trường vận tải hàng không Việt Nam, đặc biệt là vận tải hàng hóa. Hơn thế nữa, các
nhà đầu tư nước ngoài lại có nhiều ưu thế về vốn, trình độ khoa học – kỹ thuật,
nguồn nhân lực có chuyên môn cao,… Điều này hoàn toàn bất lợi cho các doanh
nghiệp Việt Nam.
Thứ hai, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là công dân
Việt Nam và không quá một phần ba tổng số thành viên trong bộ máy điều hành là
người nước ngoài. Trong Điều lệ hoạt động của hãng hàng không có vốn đầu tư
nước ngoài phải quy định cơ cấu tổ chức quản lý, thành viên bộ máy điều hành
doanh nghiệp. Trong đó, số thành viên là người nước ngoài do nhà đầu tư nước
ngoài cử tham gia bộ máy điều hành không được vượt quá một phần ba tổng số
thành viên. Tổng Giám đốc (Giám đốc), người đại diện theo pháp luật của hãng
hàng không phải là công dân Việt Nam và không mang quốc tịch nước khác.36
còn lại có thể là thương nhân hoặc tổ chức, cá nhân không mang tư cách thương
nhân. Trong đề tài này, người viết chỉ nghiên cứu hợp đồng vận chuyển hàng hóa
bằng đường hàng không giữa các chủ thể đều là thương nhân.
2.2.1 Chủ thể có liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường
hàng không
Một trong những yếu tố quan trọng để hình thành nên hợp đồng vận chuyển
hàng hóa bằng đường hàng không, đó chính là ý chí của các bên tham gia. Những
chủ thể này đóng vai trò là người tạo lập và thực hiện hợp đồng. Trong đó, người
vận chuyển và người thuê vận chuyển (còn gọi là người gửi hàng) là những chủ thể
trực tiếp tham gia vào hợp đồng. Tuy nhiên, hợp đồng sẽ không thể thực hiện được
nếu thiếu người nhận hàng. Mặc dù, người nhận hàng không ký kết hợp đồng nhưng
họ lại là “điểm đến” của hợp đồng. Vì vậy, có thể nhận thấy rằng, các chủ thể có
liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không bao gồm cả
người vận chuyển, người thuê vân chuyển (còn gọi là người gửi hàng) và người
nhận hàng.
2.2.1.1 Người vận chuyển
Khoản 1 Điều 128, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006.
Mặc dù pháp luật về thương mại Việt Nam không có khái niệm cụ thể về hợp đồng thương mại. Tuy nhiên,
có thể hiểu hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận của hai hay nhiều bên (trong đó có ít nhất một bên là
thương nhân) nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động
thương mại (bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi khác).
37
38
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
23
bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại
một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”. Theo đó, người thuê
vận chuyển phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật để trở thành thương
nhân.
Khoản 1 Điều 128, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006.
Khoản 2 Điều 109, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006.
41
Khoản 1 Điều 151, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006.
42
Khoản 1 Điều 151, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006.
39
40
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
24
SVTH: Mai Thị Út