TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2010 – 2014
Đề Tài
QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM
VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT DÂN GIAN THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Th.s. Nguyễn Phan Khôi
Nguyễn Thị Loan Nhi
Bộ môn: Luật Tư Pháp
MSSV: 5106076
Lớp: Luật TM2 K36
Cần Thơ, tháng 11 năm 2013
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành Luận văn này trước hết em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
Cần Thơ, ngày
tháng
năm 2013
Đề tài: Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 2
5. Bố cục của đề tài ........................................................................................... 3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC
PHẨM VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT DÂN GIAN.............................................. 4
1.1. Khái quát chung về quyền tác giả ............................................................ 4
1.1.1. Khái niệm quyền tác giả ...................................................................... 4
1.1.2. Đặc trưng của quyền tác giả ............................................................... 5
1.1.3. Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền tác giả ................................................ 7
1.4.3. Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
theo pháp luật Việt Nam .............................................................................. 20
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN TÁC
GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT DÂN GIAN ........ 23
2.1. Điều kiện bảo hộ và căn cứ phát sinh, xác lập quyền tác giả đối với tác
phẩm văn học, nghệ thuật dân gian .............................................................. 23
2.1.1. Điều kiện bảo hộ ................................................................................ 23
2.1.2. Căn cứ phát sinh, xác lập .................................................................. 24
2.2. Đối tượng bảo hộ và điều kiện khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian ................................................................................................. 25
2.2.1. Đối tượng bảo hộ ............................................................................... 25
2.2.2. Điều kiện khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian ...... 26
2.3. Chủ thể của quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian ................................................................................................................... 27
2.3.1. Tác giả ................................................................................................ 27
2.3.2. Chủ sở hữu quyền tác giả .................................................................. 28
2.3.3. Người lưu giữ ..................................................................................... 30
2.4. Nội dung quyền tác tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian ................................................................................................................... 31
2.4.1. Quyền nhân thân ............................................................................... 31
2.4.2. Quyền tài sản ..................................................................................... 32
2.5. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian ........................................................................................................... 33
2.6. Các hành vi xâm phạm trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác
phẩm văn học, nghệ thuật dân gian .............................................................. 34
2.6.1. Các hành vi xâm phạm và căn cứ xác định ..................................... 34
2.6.2. Vấn đề cho phép sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian 38
2.6.2.1. Các trường hợp cần xin phép và không cần xin phép khi sử dụng
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian .................................................... 38
2.6.2.2. Việc cấp phép sử dụng và cơ chế giám sát .................................. 40
SVTH: Nguyễn Thị Loan Nhi
Đề tài: Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới, chuyển đổi sang cơ chế thị trường,
nhất là hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và hướng tới kinh tế tri thức,
vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc bắt đầu nảy sinh những khó khăn,
tiêu cực, thiếu lành mạnh. Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung luôn
được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội ngày càng quan tâm và
được xem là một nội dung quan trọng của chính sách đổi mới, mở cửa, phát triển
kinh tế tri thức và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong đó,
việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đang rất
cần thiết và có ý nghĩa to lớn trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn
hóa của nước ta để tiến tới giao lưu với bạn bè quốc tế. Theo đó có thể thấy
những mục đích trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian mang lại như: duy trì những giá trị nghệ thuật, những nét đẹp
truyền thống mà tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian mang lại, duy trì sự toàn
vẹn của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian trước những ảnh hưởng tiêu cực
của việc phát triển kinh tế và văn hóa nước ngoài và ngăn chặn các hành vi xâm
phạm tới chúng. Nhận thấy được tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền tác giả
đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ nói chung cũng như quyền tác giả đối với tác
phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng nên ngày 19 tháng 11 năm 2005
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Sở hữu
trí tuệ và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006. Đến tháng 6/2009
Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật sở hữu trí tuệ
và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Đây là một bước tiến dài trong việc bảo đảm
xem xét việc áp dụng các quy định pháp luật về quyền tác giả nói chung vào việc
bảo bộ quyền quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian nói
riêng để chỉ ra những tồn tại, vướng mắt trong quy định của pháp luật về quyền
tác giả khi áp dụng đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian. Bên cạnh đó,
người viết cũng tìm hiểu một số thực trạng trong việc bảo tồn và phát huy các
loại hình của tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian. Từ đó, đề ra giải pháp hoàn
thiện pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian để
góp phần hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật Việt Nam và giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, người viết tập trung nghiên cứu quyền tác giả đối với tác
phẩm văn học nghệ thuật dân gian một cách chi tiết trong Luật Sở hữu trí tuệ và
Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm
2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự,
Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan. Bên cạnh đó, người viết
cũng có tìm hiểu một số vấn đề vế quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự năm 2005.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các phương pháp phân tích
truyền thống như: phương pháp phân tích câu chữ, kết hợp với phân tích phát
triển và phân tích lịch sử. Ngoài ra, người viết còn sử dụng các phương pháp diễn
dịch, quy nạp, liệt kê, so sánh, đối chiếu…nhằm đi sâu vào từng điều luật cụ thể
GVHD: Ths. Nguyễn Phan Khôi
2
SVTH: Nguyễn Thị Loan Nhi
còn nêu sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của chế định bảo hộ quyền tác
giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam và
pháp luật quốc tế.
1.1. Khái quát chung về quyền tác giả
Quyền tác giả là một bộ phận cấu thành quyền sở hữu trí tuệ. Pháp luật của
các quốc gia, các điều ước quốc tế đều đã quan tâm nhiều đến việc bảo hộ quyền
tác giả nhằm ngăn chặn tình trạng xâm phạm quyền tác giả ngày càng có xu
hướng gia tăng trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh chịu sức ép của tiến
trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế cũng như sự phát triển không ngừng của
khoa học công nghệ thì bảo hộ quyền tác giả là phương thức hữu hiệu nhất để
bảo vệ sự sáng tạo nhằm tạo lập môi trường văn hóa của các quốc gia ngày càng
nâng cao.
1.1.1. Khái niệm quyền tác giả
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ thì “Quyền tác giả là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”.
Như vậy, có thể hiểu quyền tác giả là quyền mà nhà nước dành cho cá nhân, tổ
chức là tác giả của tác phẩm sự kiểm soát độc quyền trong một thời gian nhất
định nhằm ngăn chặn sự khai thác những tác phẩm này một cách bất hợp pháp.
Các tác giả cũng như người thừa kế của họ, nắm giữ các độc quyền để sử dụng
hoặc cấp li-xăng cho người khác sử dụng theo điều kiện thỏa thuận.
Quyền tác giả bao gồm những quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả
liên quan đến tác phẩm, các quyền này được sự bảo hộ của pháp luật. Theo quy
định tại Điều 738 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì quyền nhân thân thuộc quyền tác
giả bao gồm đặt tên cho tác phẩm, đứng tên thật hoặc đặt bút danh trên tác phẩm,
công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm, bảo vệ sự toàn vẹn của tác
phẩm. Quyền tài sản thuộc quyền tác giả bao gồm sao chép tác phẩm, cho phép
tạo tác phẩm phái sinh, phân phối nhập khẩu bản gốc và bản sao tác phẩm, truyền
GVHD: Ths. Nguyễn Phan Khôi
4
giao, nó được bảo hộ vô thời hạn. Quyền nhân thân gắn với tài sản là các quyền
cho hay không cho người khác sử dụng tác phẩm, quyền này có thể chuyển giao
và gắn liền với các chế định về quyền tài sản trong quyền tác giả. Đối với quyền
tài sản, theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ quyền tài sản bao gồm quyền sử dụng và
quyền được hưởng thù lao. Thông thường chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng
quyền sử dụng và tác giả là người được hưởng quyền thù lao. Quyền sử dụng bao
gồm quyền công bố, phổ biến, trình diễn, sao chép, tái bản, chuyển thể, ghi âm,
ghi hình, cho thuê, quyền làm tác phẩm phái sinh. Mọi hành vi sử dụng tác phẩm
1
Xem: khoản 1 Điều 738 Bộ luật Dân sự năm 2005.
GVHD: Ths. Nguyễn Phan Khôi
5
SVTH: Nguyễn Thị Loan Nhi
Đề tài: Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam
mà không xin phép chủ sở hữu tác phẩm đều bị coi là hành vi xâm phạm quyền
tác giả.
Thứ hai, quyền tác giả có thể trở thành đối tượng của các giao dịch mua
bán (chuyển nhượng). Theo khoản 4 Điều 2 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Chuyển nhượng quyền tác giả là việc chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao
quyền sở hữu đối với các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19, Điều 20 của Luật
Sở hữu trí tuệ cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng hoặc theo quy định của
GVHD: Ths. Nguyễn Phan Khôi
6
SVTH: Nguyễn Thị Loan Nhi
Đề tài: Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam
phẩm với Cục Bản quyền tác giả thì không có nghĩa vụ phải chứng minh quyền
tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có
chứng cứ ngược lại.4
1.1.3. Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền tác giả
Thứ nhất, bảo hộ quyền tác giả góp phần thúc đẩy sức sáng tạo và sự phát
triển của văn hóa, nghệ thuật và khoa học. Ngoài ra, quyền tác giả còn là yếu tố
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội không chỉ bó hẹp trong
phạm vi một quốc gia mà còn cả trên trường quốc tế.
Thứ hai, thông qua việc bảo hộ quyền tác giả sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
việc phổ biến tác phẩm tới công chúng và là cầu nối cho việc tăng cường sự hiểu
biết giữa các dân tộc, tạo tiền đề cho việc thiết lập hệ thống bảo hộ quốc tế đối
với quyền tác giả trong phạm vi toàn cầu.
Thứ ba, bảo hộ quyền tác giả góp phần ngăn chặn tình trạng xâm phạm bản
quyền tác giả đang diễn ra khắp nơi trên thế giới. Việc bảo hộ quyền tác giả dù ở
phạm vi quốc gia hay quốc tế cũng sẽ góp phần vào việc đảm bảo một cơ chế
quyền tác giả ngày càng hiệu quả hơn.5
1.2. Một số vấn đề về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian
1.2.1. Khái niệm tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Theo quy định tại Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá
biểu hiện nghệ thuật truyền thống” (expressions of folklore) được định nghĩa là
các sản phẩm bao gồm những yếu tố đặc trưng của di sản nghệ thuật văn hóa
truyền thống được phát triển và duy trì bởi một cộng đồng hay những cá nhân,
phản ánh những mong ước nghệ thuật truyền thống của một cộng đồng. Định
nghĩa này bao gồm cả “những tác phẩm truyền miệng” (như truyện dân gian),
“các biểu hiện âm nhạc” (như dân ca), “các tác phẩm thể hiện qua diển xuất”
(như múa dân gian hay các nghi lể khác), “các tác phẩm hữu hình” (như bản vẽ,
tạc, điêu khắc, đồ gốm, đồ sành, đồ khảm, đồ gỗ, đồ kim loại, đồ trang sức, đồ
đan, đồ thiêu, đồ dệt, thảm, trang phục, nhạc cụ, các hình thức kiến trúc). 6
Do hai định nghĩa tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và các biểu hiện nghệ
thuật truyền thống về cơ bản không khác nhau nhiều chỉ khác nhau về xuất xứ
hình thành, nên ta có thể đồng nhất hai thuật ngữ này với nhau.
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Di sản văn hóa quy định: “Di sản văn hóa phi vật
thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ
bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình
diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác
phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân
gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức
về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc
và những tri thức dân gian khác”. Như vậy, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian cũng là một trong các loại hình của di sản văn hóa phi vật thể. Ngoài việc
bảo hộ về quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian cũng cần được bảo hộ như một phần của di sản văn hóa phi vật thể theo
Luật Di sản văn hóa.
1.2.2. Khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian
Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là một
vấn đề đặc thù đối với mỗi quốc gia. Vấn đề này ngày càng cần thiết, bởi trước
6
ai là người sáng tạo ra tác phẩm văn học dân gian cũng rất khó để xác định được
ai là chủ sở hữu của loại hình này, bởi chính những cộng đồng có các đặc điểm
văn hóa được thể hiện trong tác phẩm cũng chỉ được xem là người bảo quản và
lưu giữ. Vì vậy, việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian không chỉ đơn thuần là việc bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân đối
với tác phẩm mà họ sáng tạo hoặc sở hữu như quyền tác giả đối với các loại hình
tác phẩm khác.
1.2.3. Đặc điểm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian
Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bên cạnh
những đặc trưng của quyền tác giả thì còn mang một số đặc điểm riêng như:
Thứ nhất, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được bảo hộ cả khi nó
không bảo đảm được tính nguyên gốc.7 Một tác phẩm văn học, nghệ thuật và
khoa học khi muốn được bảo hộ theo quyền tác giả thì phải đảm bảo tính nguyên
7
Điều kiện bảo hộ tác phẩm văn học dân gian, [truy cập ngày 19/09/2013].
GVHD: Ths. Nguyễn Phan Khôi
9
SVTH: Nguyễn Thị Loan Nhi
Đề tài: Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam
gốc của nó. Việc đảm bảo tính nguyên gốc nghĩa là tác phẩm được sáng tạo ra
một cách độc lập và không được áp dụng đối với bất kỳ yếu tố nào vay mượn từ
tác phẩm khác. Tuy nhiên, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian với đặc trưng
10
SVTH: Nguyễn Thị Loan Nhi
Đề tài: Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam
Thứ ba, phần lớn tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được bảo hộ
không phụ thuộc vào việc định hình.8 Định hình là sự biểu hiện bằng chữ viết,
các ký tự khác, đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc
sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định để từ đó có thể nhận
biết, sao chép hoặc truyền đạt.9 Bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
không phụ thuộc vào việc định hình tác phẩm được xem là một điểm khác biệt
nữa so với điều kiện bảo hộ chung trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với các tác
phẩm sáng tạo khác. Một trong các điều kiện để được bảo hộ quyền tác giả là tác
phẩm phải được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, nói cách khác
quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội dung hay các ý
tưởng. Tuy nhiên, hình thức lưu truyền chủ yếu của tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian là mô phổng hay truyền miệng, không có một hình thức nhất định nào
cho nó, bởi vậy mà các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian sẽ không phụ thuộc
vào dạng định hình. Đối với các thể loại tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
thuộc hình thức ngôn ngữ (lời nói) như truyện tiếu lâm, ngụ ngôn, sử thi, thần
thoại, truyền thuyết, giai thoại, thơ, ca dao, tục ngữ hay các loại hình nghệ thuật
biểu diễn như tuồng, chèo, cải lương, điệu hát, làn điệu âm nhạc, điệu múa, vở
diễn, trò chơi dân gian, hội làng, các hình thức nghi lễ dân gian và các loại hình
tương tự khác thì không cần phải “bắt buộc thể hiện dưới hình thức vật chất”, có
nghĩa là từ ngữ không cần phải viết ra, âm nhạc không cần phải tồn tại dưới dạng
nốt nhạc và điệu múa không cần tồn tại dưới dạng kịch bản múa. Các tác phẩm
này được bảo hộ tự động mà không cần định dạng. Khoản 1 Điều 20 Nghị định
1.2.4. So sánh quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian và quyền tác giả đối với tác phẩm khuyết danh, tác phẩm thuộc về công
chúng và tác phẩm phái sinh
Thông thường, khi đề cập đến các khái niệm tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian, tác phẩm khuyết danh, tác phẩm thuộc về công chúng, tác phẩm phái
sinh mọi người thường có cảm giác như các thể loại tác phẩm này có một nét
tương đồng nào đó. Sở dĩ, mọi người cảm thấy nét tương đồng đó là một số tác
phẩm của thể loại này nhưng lại mang đầy đủ tính chất của thể loại khác, và
những tác phẩm đặc biệt này là sự giao nhau của tập hợp các thể loại tác phẩm
vừa nêu.
1.2.4.1. So sánh quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian và quyền tác giả đối với tác phẩm khuyết danh
Tác phẩm khuyết danh là tác phẩm không có tên tác giả (tên thật hoặc bút
danh) trên tác phẩm khi công bố.11
Giống nhau: Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và tác phẩm khuyết
danh, khi công bố đều không có tên của tác giả. Khi công bố một tác phẩm, tác
giả có quyền nêu tên hoặc không nêu tên của mình, lúc này tác phẩm không có
tên tác giả trở thành tác phẩm khuyết danh. Còn đối với tác phẩm văn học nghệ
thuật dân gian, việc nêu tên tác giả của tác phẩm là bất khả thi, bởi rất khó để biết
được chính xác ai là tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
Khác nhau: Mặc dù hai loại hình tác phẩm này khi được giới thiệu đến công
chúng đều không biết được tên của tác giả nhưng không thể vì vậy mà chúng ta
đồng nhất hai khái niệm này. Một tác phẩm thuộc một loại hình bất kì (tác phẩm
âm nhạc, sân khấu, nhiếp ảnh…) khi công bố mà không có tên tác giả điều là tác
phẩm khuyết danh. Nhưng tác phẩm khuyết danh được xem là tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian chỉ khi tác phẩm đó được sáng tác trên nền tảng truyền thống
của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể
hiện tương xứng đặc điểm văn hóa và xã hội của họ, các tiêu chuẩn giá trị được
lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác. Khi sử dụng tác phẩm văn
học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và bảo
giữ và bảo tồn cũng không biết là chúng có từ khi nào. Nếu tính theo thời hạn
bảo hộ của quyền tác giả theo quy định của pháp luật thì chắc rằng việc tác phẩm
văn học, nghệ thuật dân gian hết thời hạn bảo hộ là điều hiển nhiên. Đây được
xem là điểm giao nhau của tác phẩm thuộc về công chúng và tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian.
Khác nhau: Không phải tác phẩm thuộc về công chúng nào cũng là tác
phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và ngược lại. Như đã đề cập, bất kỳ tác phẩm
nào khi hết thời hạn bảo hộ điều thuộc về công chúng. Một tác phẩm hội họa khi
hết thời hạn bảo hộ thì sẽ trở thành tác phẩm thuộc về công chúng, nhưng tác
phẩm này không thể trở thành tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Một tác
phẩm công chúng chỉ xuất hiên khi một tác phẩm bất kỳ đã hết thời hạn bảo hộ
12
Xem: khoản 2 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ.
GVHD: Ths. Nguyễn Phan Khôi
13
SVTH: Nguyễn Thị Loan Nhi
Đề tài: Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam
theo quy định của pháp luật. Đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, về
vấn đề thời hạn vẫn chưa được quy định cụ thể. Vì vậy, một tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian không thể trở thành tác phẩm thuộc về công chúng khi dựa
vào vấn đề thời hạn để xác định.
Hình 2 - Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và
mặc dù các tác phẩm được phóng tác, cải biên, biên soạn, chú giải, tuyển chọn
dựa vào tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian không thể bảo hộ theo cơ chế bảo
hộ của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, vì mỗi tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian luôn mang trong mình những giá trị văn hóa sâu sắc, phản ánh
đậm nét cuộc sống của những cộng đồng dân cư. Bên cạnh đó, tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian còn là những tư liệu quý giá để thế hệ sau biết được lối sống,
cách thức sinh hoạt của thế hệ trước. Việc kế thừa các tác phẩm đã tồn tại, các
nghiên cứu đi trước trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học là một trong
các yếu tố thúc đẩy sự phát triển của tài sản trí tuệ. Tác phẩm phái sinh là một
trong các dạng tác phẩm thực hiện việc kế thừa vừa nêu và là đối tượng được bảo
hộ quyền tác giả. Và tác phẩm phái sinh trên nền tảng tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian cũng được bảo hộ như tác phẩm phái sinh trên nền tảng là các tác
phẩm văn học, nghệ thuật khoa học khác.
Hình 3 - Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và
tác phẩm phái sinh
1.3. Mục đích của việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian của mỗi quốc gia trên
thế giới nhằm nhiều mục đích khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính
trị, xã hội của mỗi quốc gia. Nhưng nhìn chung, các tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian được bảo hộ nhằm một số mục đích cơ bản.
Thứ nhất, nhằm duy trì những giá trị nghệ thuật, những nét đẹp truyền thống
mà tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian mang lại. Tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian mang lại nhiều giá trị to lớn đối với con người: giá trị giáo dục,
giá trị nhận thức, giá trị nghệ thuật. Qua tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian ta
có thể nhận thấy lối suy nghĩ, nét văn hóa của dân tộc sáng tạo ra nó. Sự lưu
truyền tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian trong cộng đồng thể hiện sự tôn
trọng đối với các thế hệ trước của họ. Các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
GVHD: Ths. Nguyễn Phan Khôi
học, nghệ thuật dân gian sẽ giúp việc phát triển các tác phẩm này một cách toàn
vẹn, sao cho các hành động khai thác, chuyển thể các tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian không làm ảnh hưởng, phương hại tới nét đẹp, bản sắc văn hóa mà
nó mang theo nhưng việc bảo hộ này cũng không được kìm hãm sự sáng tạo của
bản thân những người phát triển chúng. Ngày nay, trước sức mạnh của toàn cầu
hóa, sự phát triển kinh tế ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại của các tác phẩm
văn học, nghệ thuật dân gian do đó cần có một cơ chế để bảo vệ chúng, tránh bị
làm phương hại và mai một dưới những luồng ảnh hưởng của kinh tế thị trường.
Đồng thời thể hiện được sự quan tâm của chính quyền tới đời sống xã hội, đời
sống văn hoá của người dân, góp phần ổn định trật tự xã hội.
GVHD: Ths. Nguyễn Phan Khôi
16
SVTH: Nguyễn Thị Loan Nhi
Đề tài: Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam
1.4. Sơ lược về lịch sử hình thành chế định bảo hộ quyền tác giả đối với tác
phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Để tìm hiểu rõ hơn về lịch sử hình thành việc bảo hộ quyền tác giả đối với
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, người viết sẽ trình bày theo ba hướng:
lịch sử hình thành việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian theo pháp luật quốc tế, lịch sử hình thành việc bảo hộ tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian theo pháp luật Mỹ và lịch sử hình thành việc bảo hộ quyền
tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam.
1.4.1. Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
theo pháp luật Quốc tế
SVTH: Nguyễn Thị Loan Nhi
Đề tài: Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam
pháp lý quốc tế về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian dưới hình
thức một Nghị định thư kèm theo Công ước về quyền tác giả do UNESCO điều
hành. Năm 1975, Ban thư ký UNESCO đã tiến hành khảo sát các ý kiến mong
muốn có được sự bảo hộ đối với các hình thức văn hóa của người bản địa trên
bình diện quốc tế. Năm 1977, Tổng giám đốc UNESCO đã triệu tập một hội
đồng các chuyên gia về bảo hộ pháp lý đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian. Trong báo cáo năm 1977, Hội đồng đã kết luận rằng vấn đề này đòi hỏi
phải có sự khảo sát về xã hội học, tâm lý học, dân tộc học và lịch sử - chính trị
trên “cơ sở đa ngành trong khuôn khổ cách tiếp cận tổng thể và có tính lồng
ghép”. Theo nghị quyết được thông qua bởi Hội nghị toàn thể UNESCO tại
Belgrade, vào tháng 9 - tháng 10 năm 1980 và quyết định ban hành bởi Cơ quan
lãnh đạo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tháng 11 năm 1981, một Hội
đồng chuyên gia chính phủ về các khía cạnh sở hữu trí tuệ của việc bảo hộ tác
phẩm dân gian đã được triệu tập. Sau một loạt các cuộc họp, Hội đồng này đã
xây dựng nên Quy định mẫu của WIPO/UNESCO cho luật quốc gia về bảo hộ
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian chống lại việc khai thác bất hợp pháp và
các hành vi gây tổn hại khác, được thông qua bởi hai tổ chức này vào năm
1985. Hội nghị toàn thể UNESCO trong phiên họp thứ 25 năm 1989 đã thông
qua một Bản khuyến nghị về bảo hộ văn hóa truyền thống và tác phẩm dân gian,
đã đề xuất các biện pháp cần triển khai ở cấp quốc gia nhằm xác định, gìn giữ,
bảo hộ và truyền bá các tác phẩm văn hóa của người bản địa.14
1.4.2. Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
theo pháp luật Mỹ
Ở Mỹ, các hình thức thể hiện văn hóa dân gian được bảo hộ bằng rất nhiều
định như là biểu tượng chính thức cho cộng đồng bản xứ của họ. Sự có mặt của
biển hiệu chính thức trong cơ sở dữ liệu đảm bảo rằng một người giám định sẽ có
thể tìm ra bất cứ biển hiệu chính thức nào để có thể cản trở việc đăng ký nhãn
hiệu khi nhãn hiệu đó không liên hệ với nhóm người trên. Ngoài ra, tất cả đơn
xin cấp nhãn hiệu có tên và chân dung có thể nhận ra được của người Mỹ bản
địa, các biểu tượng được ghi nhận là có xuất xứ từ người bản địa và bất kỳ đơn
nào khác mà USPTO tin vào, đều có thể kết luận rằng biển hiệu có ràng buộc với
những người da đỏ được kiểm tra bởi nhân viên giám định tại USPTO, một
người có chuyên môn sâu và thông thạo trong lĩnh vực này.16
Chính quyền Hoa Kỳ cũng đã áp dụng một số biện pháp khác để bảo vệ và
bảo tồn các hình thức thể hiện văn hóa dân gian trong cộng đồng dân cư của họ.
Trung tâm Đời sống dân gian Mỹ trong Thư viện của Quốc hội đã được Quốc hội
Hoa Kỳ lập nên vào năm 1976 “để bảo tồn và trưng bày đời sống văn hóa của
người dân Mỹ” thông qua các chương trình nghiên cứu, tư liệu, văn thư lưu trữ,
các buổi biểu diễn trực tiếp, trưng bày ở triển lãm, các chương trình biểu diễn
công khai và các chương trình đào tạo. Trung tâm này còn phối hợp với Phòng
lưu trữ văn hóa dân gian của thư viện, được lập ra vào năm 1928 như là một kho
chứa nhạc dân tộc Mỹ. Trung tâm này nắm giữ hơn một triệu bức ảnh, bản thảo,
băng đĩa và các hình ảnh động. Chính phủ Hoa Kỳ cũng duy trì trung tâm
Smithsonia cho di sản văn hóa và đời sống dân gian để thúc đẩy sự hiểu biết
nguồn gốc văn hóa ở Mỹ và ở nước ngoài. Bộ sưu tập bao gồm hàng ngàn đĩa,
băng nói, đĩa nén, và cả những hình ảnh, băng ghi hình và phim hình ảnh động.
15
Jeanne Holden, Cách tiếp cận của Hoa kỳ: nguồn gen, tri thức truyền thống văn hóa dân gian,
/>-tri-thuc-truyen-thong-va-van-hoa-dan-gian-3163.html, [truy cập ngày 25/08/2013].
16
Jeanne Holden, Cách tiếp cận của Hoa kỳ: nguồn gen, tri thức truyền thống văn hóa dân gian, http://m
xreading.com/sach-hay/chuyen-de-ve-quyen-so-huu-tri-tue/cach-tiep-can-cua-hoa-ky-nguon-gen-tri-thuctruyen-thong-va-van-hoa-dan-gian-3163.html, [truy cập ngày 25/08/2013].