Bình giảng bài Tràng giang của Huy Cận. - Pdf 30

Các nhà thơ lãng mạn đã mang cái tâm trạng buồn và cô đơn của
mình phủ lên thiên nhiên. Cho nên cái thiên nhiên trong Thơ mới
nói chung, trong thơ Huy Cận nói riêng, thường mênh mông, rợn
ngợp hoặc xa vắng quạnh hiu.
"Tràng giang", là một bài thơ nổi tiếng, in trong tập ''Lửa thiêng" (1940) của Huy Cận. "Tràng giang"
mang phong vị Đường thi khá rõ. Ngay từ hai câu đầu:
"Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song”.
Ta cảm thấy phảng phất nhạc điệu và tứ thơ của Đỗ Phủ trong bài "Đăng cao":
"Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cổn cổn lai".
(Ngàn cây bát ngát lá rụng xào xạc
Dòng sông dằng dặc nước cuồn cuộn trôi).
Có thể nói nhạc điệu và hồn thơ Đường đã thấm sâu vào tâm hồn Huy Cận từ thời niên thiếu. Nhưng
"tràng giang" ở đây là thiên nhiên, đất nước Việt Nam, là những sông lớn như sông Hồng và trong thơ
Huy Cận, con sông nào nước cũng dềnh lên mênh mông, bát ngát. Cảm giác về không gian trong thơ Huy
Cận gắn liền với hình ảnh những dòng sông:
Tới ngã ba sông nước bốn bề...
Chiều mưa trên bãi, nước sóng đầy
Sông mát tràn xuân nước đậm bờ...
Trăng phơi đầu bãi, nước dồn mênh mang...
Đất nước, những xóm làng trù phú đã hình thành dần dần ven những con sông lớn. Sông lớn là tượng
trưng cho đất nước, giang sơn bền vững muôn đời. Sau này Nguyễn Đình Thi cũng viết:
"Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về...".


Sau một thời kì khám phá, tìm tòi, Thơ mới đã dần dần định hình và Xuân Diệu nhận xét: "Bài thơ hầu

"Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa..."
Trên cái bầu trời mênh mông, mây đùn lên thành những ngọn núi trắng xóa, xuất hiện một cánh chim bé
nhỏ mà "bóng chiều sa nặng đến nỗi phải nghiêng cánh, lệch cánh" (Xuân Diệu). Trong hai câu cuối
cùng, tứ thơ đã có một nét mới so với bài "Hoàng Hạc lâu" của Thôi Hiệu. Trong bài thơ của Thôi Hiệu,
khách nhìn thấy khói tỏa sóng gợn mà trong lòng nhớ quê hương (Nhật mô hương quan hà xứ thị? Yên ba
giang thượng sử nhãn sầu). Còn ở thơ Huy Cận là:
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Nhưng ở đây lại có một sự gặp gỡ tình cờ hoặc hữu ý giữa Huy Cận và Lưu Trường Khanh. Trong bài Từ
Hụ Khẩu (Hán Khẩu) đến bài Anh Vũ gửi Trung thừa họ Nguyên, Lưu Trường Khanh viết:
"Bãi sông không có sóng vỗ và cũng không có khói bay


Khách nước Sở nhớ nhau càng thêm man mác
Mặt trời xế trên Hán Khẩu, đỡ cánh chim là là bay
Nước mùa thu trên hồ Động Đình, mênh mông liền trời".
Có thể nói cái hồn thơ Đường đã thấm khá sâu vào thơ Huy Cận. Và tuy học tập Đường thi, Huy Cận vẫn
tạo nên trong thơ mình một nét riêng độc đáo của Huy Cận, của Việt Nam. Như trên đã nói: cái buồn
trước cảnh "sông dài, trời rộng, bến cô liêu" là cái buồn vũ trụ của Huy Cận, và những câu:
"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" đã gợi lên một không khí rất quen thuộc của Việt Nam. Không khí đó
gợi nhớ đến quê hương của Huy Cận một cái làng sơn cước heo hút thuộc Hương Sơn, Hà Tĩnh, ở tả ngạn
sông Thâm bên núi Mồng Gà:
"Tới ngã ba sông nước bốn bề
Nửa chiều gà lạ gáy ven đê...".
Cái tiếng gà lạ lạc lõng cất lên ven một con đê hoang vắng lúc chợ chiều đã vãn, ở một miền sơn cước,
nghe mà buồn đứt ruột! Cái buồn trong thơ Huy Cận là một nỗi đau đớn "cũng đất nước mà nặng buồn
sông núi" (Mai sau). Các nhà lãng mạn gửi gắm vào trong thơ một tấm lòng tha thiết yêu thiên nhiên đất
nước và một sự nâng niu đối với tiếng Việt, lúc bấy giờ bị xem như tiếng mẹ ghẻ, tiếng con đòi... Tiếng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status