1
Xuân Diệu không chỉ nổi tiếng là "Ông Hoàng thi ca" của Thơ Mới, mà còn là "Vua thơ
tình". Cái ngai thơ ấy liệu có sụp đổ, nếu giờ đây người đọc biết rằng nàng thơ của thi
nhân lại là một đấng mày râu? Những cặp tình nhân dị giới yêu thơ ông liệu có cảm thấy
mình bị phản bội? Hơn nữa, liệu đây có phải là "chuyện cá nhân" của nhà thơ, mà luật
bảo vệ quyền được riêng tư cấm mọi xâm phạm?
Năm 1985. Một sáng đầu đông. Se lạnh. Bầu trời như một tấm màn xám rũ xuống thành
phố. Một đám tang từ từ tiến dọc phố Trần Hưng Đạo. Xe tang chất đầy hoa trắng cho
biết người chết là một trai tân, nhưng sau xe, cạnh quan tài, lại có một thiếu phụ chít
khăn trắng theo kiểu trở tang chồng. Đó là đám tang nhà thơ Xuân Diệu.
2
Thế hệ tôi, học sinh nông thôn những năm 60 thế kỷ trước, trừ bài Ngói mới trong sách
giáo khoa, hầu như không biết gì về thơ Xuân Diệu, đặc biệt là thơ tình của thi nhân.
Thời ấy, tình yêu lãng mạn gần như một cấm kỵ.
Chỉ mãi đến cuối thập niên này, khi đã quen với Nguyễn Đăng Mạnh ở nơi sơ tán
trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội, tôi mới được ông cho xem cuốn sổ tay
chép đầy thơ tình Xuân Diệu sau 45. Những bài thơ chưa (hoặc không) được xuất bản.
Tôi đặc biệt ấn tượng với những bài Đời anh em đã đi qua, Ngọn đèn bên cửa sổ... Rồi
bài Biển do chính tay nhà thơ chép tặng nhà phê bình, có kèm theo lời ghi chú: "Đây
mới chính là Xuân Diệu!".
Đầu năm 1970, khi trường từ Thanh Miện, Hải Dương chuyển về Cầu Giấy, mỗi buổi
chiều tôi đều đạp xe sang Thanh Xuân, vào thư viện khoa Văn Tổng hợp, đọc nhờ "sách
đọc hạn chế": Thơ Mới và văn xuôi Tự lực Văn đoàn. Thế là tôi được tiếp xúc Thơ Thơ
và Gửi hương cho gió của Xuân Diệu.
Cả một thế giới đầy ánh sáng, âm thanh, màu sắc, hình khối, nhịp điệu ùa vào không
gian hoang dã hồn tôi. Điều sốc nhất, với những chàng sinh viên yêu thơ Ônga Becgôn
và văn Pautôpxki thuở ấy, là những bài tình được Xuân Diệu tỏ bày một cách trực tiếp
bằng một giọng điệu van vỉ, thiết tha. Tôi mường tượng đến những trang tuyệt sắc giai
nhân đã từng là cội nguồn sáng tạo của thi nhân...
3
Người đàn bà trên xe tang ấy là nữ đạo diễn Bạch Diệp. Người hâm mộ thơ Xuân Diệu,
quanh nhau, cứ thế đi suốt quỹ đạo đời mình.
Trong một xã hội ít thông tin, hoặc nếu có lại là thông tin miệng, nghe thì nghe vậy mà
tôi vẫn bán tin. Chỉ mãi đến khi đọc hồi ký Cát bụi chân ai của nhà văn Tô Hoài, tôi mới
tin hẳn. Cùng sống với nhau ở Việt Bắc, Xuân Diệu đã quyện Tô Hoài. "Dịu dàng âu
yếm, Xuân Diệu cầm cổ tay tôi, nắm chặt rồi vuốt lên vuốt xuống. Bốn mắt nhìn nhau
đắm đuối. Xuân Diệu gắp thức ăn cho tôi. Cử chỉ thân thiện quá, hơi lạ với tôi, nhưng
mà tôi cảm động... Thỉnh thoảng Xuân Diệu lên nhà tôi... Xuân Diệu yêu tôi" (tr. 168,
169).
Rồi "...hằng đêm Xuân Diệu hay sang giường các bạn trai của ông để tỏ tình âu yếm.
Các bạn của ông ấy rất sợ, vì vậy cứ đêm đêm họ lại đi tỵ nạn sang nhà khác, không ai
dám ở chung với Xuân Diệu" (tr. 171). Còn Tô Hoài thì, có lẽ, không sợ. Bởi thế, đêm
đêm ở cái "U Tì Quốc" ấy (chữ của Xuân Diệu) mới diễn ra cái cảnh làm tình ma quái
cho đến khi nhà thơ bị kiểm điểm.
4
Câu chuyện Xuân Diệu có phải là đồng tính không đến đây hẳn không còn là vấn đề
nữa. Vấn nạn To be or not to be đã được giải quyết. Nhưng ở tôi lại nảy sinh một vấn đề
mới: Với tư cách một nhà phê bình, liệu tôi có nên viết về điều đó? Còn nhớ, khi Tô
Hoài công bố những dòng hồi ức trên của ông thì rất nhiều người đã phê phán ông nhẫn
tâm.
Nhưng với người viết hồi ký điều quan trọng là sự thật, mà đây lại là một sự thật hấp
dẫn. Hơn nữa, chính Tô Hoài cũng đã không ngại ngần đem mình ra làm kép chính
trong những trò chơi tình ái ấy của Xuân Diệu. Vậy nên, người ta cũng dễ thể tất cho
ông. Còn tôi, đã không có cái thuận của nhà văn, lại phải hứng thêm cái nghịch của nhà
phê bình.
Viết điều đó, liệu tôi có gieo thất vọng cho người đọc như chính tôi trước đây đã từng
thất vọng? Xuân Diệu không chỉ nổi tiếng là "Ông Hoàng thi ca" của Thơ Mới, mà còn
là "Vua thơ tình". Cái ngai thơ ấy liệu có sụp đổ, nếu giờ đây người đọc biết rằng nàng
thơ của thi nhân lại là một đấng mày râu? Những cặp tình nhân dị giới yêu thơ ông liệu
có cảm thấy mình bị phản bội? Hơn nữa, liệu đây có phải là "chuyện cá nhân" của nhà
thơ, mà luật bảo vệ quyền được riêng tư cấm mọi xâm phạm?
người đàn ông nào đó.
Nhưng nếu linh âm ở người nam không may (hoặc may?) lại mang đậm nam tính, hoặc
linh dương ở người nữ lại mang đậm nữ tính, thì họ sẽ đi tìm nửa kia của mình ở những
người đồng giới.
S. Freud thì lại cho rằng, đứa trẻ sau khi vượt qua được giai đoạn Oedipe, tức tình yêu
của bé (trai hoặc gái) hướng tới thân sinh khác giới (mẹ hoặc cha) của mình và trước khi
đứa trẻ ấy biết hướng tình yêu của mình vào những đứa trẻ khác giới cùng lứa để trở
thành một nhân cách hoàn chỉnh, thì trong thời gian trung chuyển đó nó rất thích những
người cùng giới.
Và, nếu vì một lý do tâm - sinh lý nào đó, đứa trẻ không vượt qua được bước đi ngắn
ngủi mà quan trọng này thì suốt đời nó sẽ bị cầm tù trong tình yêu đồng giới.
Như vậy, tình yêu đồng giới nhìn chung là bẩm sinh, là tự nhiên. Nhưng cũng có thứ
tình yêu đồng giới do văn hóa. Những gia đình hiếm muộn con trai thường bắt con gái
mặc giả trai, giáo dục kiểu con trai, dần dà em bé tập nhiễm nam tính nên khi trưởng
thành đâm ra yêu con gái. Hoặc trong những thế giới khép kín chỉ toàn nam hoặc toàn
nữ như trường học nội trú, nhà tu, nhà tù, quân đội thì tình yêu đồng giới càng dễ nảy
sinh.
Trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng có hai cô gái Ngẫu quan và Nhụy quan thường một
đóng vai đào một đóng vai kép nên đã yêu nhau. Hiện tượng này lại được đạo diễn điện
ảnh Trần Khải Ca dựng lại trong Bá vương biệt cơ, nhưng lần này thì cả hai đều kép,
một vào vai Sở Bá vương và một vào vai ái thiếp Ngu Cơ.
Tình yêu đồng giới do hoàn cảnh, thì khi hoàn cảnh mất đi tình yêu cũng mất. Nhưng
cũng có khi hoàn cảnh thay đổi mà tình yêu vẫn còn, ấy là vì hoàn cảnh ấy không phải là
nguyên nhân mà chỉ là điều kiện, là cái cớ cho xuất hiện một xung lực bản năng mạnh
mẽ hơn, bền lâu hơn.
Tình yêu đồng giới ban đầu được xã hội thừa nhận, coi đấy như một bản chất tự nhiên
của con người. ở thời cổ Hy Lạp đồng tính nam phát triển rất mạnh, thậm chí còn được
tôn vinh. Các hiền triết như Socrate, Platon, Aristote đều có bồ trai là học trò. Điêu khắc
Hy Lạp, vì thế, rất tôn sùng cơ thể đàn ông. Sau thời phóng dục này lại đến thời cấm
dục Cơ đốc giáo, đồng tính luyến ái bị coi là phản tự nhiên, bệnh hoạn và bị xử phạt
mình là tự nhiên, là bình thường. Họ đòi quyền được bình đẳng với đa số. Bởi thế,
những kẻ thiểu số này có nhu cầu phải nói ra để được cảm thông và được thừa nhận. Và
Xuân Diệu đã nói!
Khát vọng nói ra một sự thật, dù cái sự thật ấy, trong mắt kẻ khác, là sự bất toàn của
chính người nói. Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến câu chuyện một anh thợ cắt tóc phát
hiện ra ông vua nọ có cái tai lừa. Nhà vua cấm anh ta không được nói cho ai biết. Cất
giữ sự thật trong im lặng, anh ta không chịu nổi, nhưng nói ra thì lại sợ mất đầu.
Người thợ cắt tóc bèn đào một cái hố dưới một khóm cây ven đường, rồi nấp vào đó nói
vọng ra: "Nhà vua có đôi tai lừa! Nhà vua có đôi tai lừa!" để người qua đường biết được
điều ấy nhưng sẽ tưởng cây nói. Như vậy, biết được một sự thật, tức một thông tin quan
trọng nào đó, thì không thể không nói cho người khác biết. Thông tin, đó là nhu cầu
sống còn của mọi vật sống, huống hồ con người còn có một công cụ truyền thông tuyệt
vời là ngôn ngữ.
Xuân Diệu lại là một nhà thơ. Mà với nhà thơ thì ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao
tiếp, mà còn là một tồn tại. Làm thơ để vừa khám phá bản thân vừa thể hiện bản thân:
một phương thức tồn tại kép. Nhất là với các nhà lãng mạn. Nhất là với Xuân Diệu.
Một trong những nhà thơ Việt Nam đi khá xa trong việc phơi mở ý thức cá nhân của
mình. Và, biết đâu, nhu cầu phải nói và nói bằng một ngôn ngữ đặc biệt đó chẳng đã
khiến Xuân Diệu trở thành Xuân Diệu, một Xuân Diệu - nhà thơ như ta biết?
7
Mở đầu cho tập Gửi hương cho gió, Xuân Diệu coi mình là con chim đến từ núi lạ ngứa
cổ hót chơi. Rõ ràng nhà thơ đã khẳng định mình từ nơi khác đến, thuộc về một niềm
khác. Đó là thế giới của thiểu số, của núi lạ, của thơ xa lạ đến với thế giới quen thuộc
của số đông. Chứng kiến tất cả những gì là khuôn mòn, là lối quen, nên ngứa cổ hót
chơi.
Tiếng hót chơi, hót không vì mục đích bên ngoài, vụ lợi nào đó của chim, hót chỉ vì
ngứa cổ, vì nhu cầu bộc bạch một cái gì đó sâu thẳm ở bên trong, là tiếng lòng Xuân
Diệu muốn bộc phát một sự thật bấy lâu bị che kín của mình. Nhu cầu phải nói ra ("Anh
phải nói và phải nói"; "Phải nói yêu trăm bận đến ngàn lần"...) cái tình yêu đồng giới
của mình.
từ lúc tuổi còn tơ, /Hai ta hạt chín trong mùa nắng trong/; Ánh đèn trên gác dưới phòng/
Cũng là đôi kén nằm trong kén trời. Rồi còn cả Hồi ký song đôi nữa. Nhưng thôi, ta hãy
trở lại với thực chứng của bài Tình trai.
Thi phẩm nói rõ ràng về hai người đàn ông yêu nhau. Những từ chỉ sự cặp đôi được
dùng rất nhiều: hai "hai chàng", đôi "đôi hồn", những "những bước", họ "họ đi, họ yêu",
song song... ám chỉ tình cảm yêu nhau; còn các từ choáng (hơi men), say, mê, tay (yếu)
trong tay (mạnh), không hề mặc cả...
Chứng tỏ tình cảm của họ rất mãnh liệt, không tính toán. Nếu những từ môi son, áo màu
chỉ phụ nữ, thì quên ngó môi son với áo màu khẳng định đây là tình yêu đồng giới, là
"tình trai". Bài thơ kể lại hành trình của hai thi sĩ từ mê thơ, mê rượu đến mê tình bạn
rồi mê tình yêu, không hề mặc cảm, họ yêu nhau.
Nhưng xã hội không tán thành cái chất thơ xa lạ này. Nó lên án và ngăn trở. Xuân Diệu
gọi sự ngăn trở đó là dặm trường, một không gian khó khăn cho sự đi lại, một khoảng
cách tâm lý khó vượt qua; là gió sương, một tiểu khí hậu "ngoài trời" lạnh lẽo đối lập
với "trong nhà" ấm áp, dễ chịu.
Bởi thế, những hành nhân phải vượt qua dặm dài đầy gió sương đó thấy được tình yêu
của họ là tiếng hát, tiếng hát ân tình. Đó cũng là động lực để họ bất chấp mọi dư luận,
thành kiến. Thái độ khẳng định tình yêu đồng giới của họ được nhà thơ thể hiện qua một
loạt những từ phủ định để khẳng định như khinh rẻ (khuôn mòn), bỏ (lối quen), quên
(ngó môi son với áo màu), thây kệ (thiên đường và địa ngục), không hề (mặc cả, họ yêu
nhau)...
Còn nhiều những chuyển vị khác, tinh vi hơn và, do đó, khó nắm bắt hơn. Trước tiên,
tình yêu đồng giới và dục cảm đồng giới của chủ thể thay vì phóng chiếu vào người
khác lại chuyển vào chính bản thân mình. Bởi thế, nó mang hình thức của thói tự si
(Narcissisme). Xuân Diệu có một từ đặc biệt để chỉ người bạn tình đồng giới của ông,
hoặc đôi khi để chính bản thân ông, nhằm phân biệt với những người yêu dị giới của
thiên hạ. Đó là từ bạn si ("Tiếc thuở say nồng, nhớ bạn si"), người si ("Người si muôn
kiếp là hoa núi/Uống nhị lòng tươi tặng khách hờ"!).
Si vừa khác yêu ở bản thân đối tượng, vừa cao hơn yêu ở sự đam mê, bị lôi cuốn, không
làm chủ được. Bởi thế, si là yêu gần với dục vọng, dục tính, là yêu không có quyền lựa
Anh không xứng là biển xanh
Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng
Bờ cát dài phẳng lặng
Soi ánh sáng pha lê...
Bờ đẹp đẽ cát vàng
- Thoai thoải hàng thông đứng
Như lặng lẽ mơ màng
Suốt ngàn năm bên sóng...
Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em